Bên Thắng Cuộc: PHẦN I : MIỀN NAM / CHƯƠNG I : BA MƯƠI THÁNG TƯ (Huy Đức)

Huy Đức và Bên Thắng Cuộc

Bên Thắng Cuộc

Huy Đức

Sách chia làm 2 cuốn:

Cuốn I: Giải Phóng
Cuốn 2: Quyền Bính

Mục Lục Cuốn I

PHẦN I: MIỀN NAM

Chương I: Ba Mươi Tháng Tư Diễn biến quân sự và chính trị trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến và những gì xảy ra trong dinh Độc Lập trong ngày 30-4 (Đi từ bưng biền/ Xuân Lộc/ Tướng Big Minh/ Trại Davis/ Nguyễn Hữu Hạnh/ Sài Gòn trong vòng vây/ Xe tăng 390/ Đầu hàng/ Tuẫn tiết)

 

Chương II: Cải TạoNhững bàn bạc bên trong, quan điểm của chính quyền trong việc đối xử với “ngụy quân, ngụy quyền”, những thủ thuật được áp dụng để đưa sĩ quan vào trại cải tạo; số phận của những người tù không án, không biết ngày về và những bi kịch mà người thân của họ phải nhiều năm gánh chịu. (Những ngày đầu/ “Ngụy Quyền”/ “Ngụy Quân”/ “Đoàn tụ”/ “Phản động”/ Tù và cải tạo/ “Thăm nuôi”/ “Học tập”).

 

Chương III: Đánh Tư SảnNhững công cụ chuyên chính vô sản áp dụng ngay sau ngày 30-4-1975: Đánh tư sản vào tháng 9-1975 và liền sau đó là đổi tiền lần thứ nhất 22-9-1975; Cải tạo tư sản tháng 3-1978… Sự khác nhau của cải tạo tư sản và đánh tư sản (“Chiến dịch X-2”/ Đổi tiền/ “Gian thương”/ “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh”/ Hai gia đình tư sản/ Kinh tế mới)

 

Chương IV: Nạn Kiều

Sự thật về vấn đề người Hoa năm 1978 (Đội quân thứ năm/ Hiệp định Geneve/ “chổi ngắn không quét xa”/ Hoàng Sa/ Sợ “con ngựa thành Troy”/ ‘Nạn Kiều”/ “Phương án II”/ “Ban 69”/ Vụ Cát Lái).

Chương V: Chiến Tranh

Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh ở CPC và biên giới phía Bắc năm 1979 (Biên giới Tây Nam/ Pol Pot/ Đi dây/ Khmer Đỏ và Campuchia dân chủ/ “Kẻ Thù Lịch Sử”/ Thất bại trong tấn công ngăn chặn [Pre-emptive War]/ “Nhất biên đảo”/ “Áo lính lại khoác vào ngay”).

Chương VI: Vượt Biên

Điều gì đã khiến cho hàng triệu người VN phải bỏ nước ra đi. Bi kịch của người dân và thái độ chính quyền trước cuộc tị nạn lớn nhất của người Việt Nam trong lịch sử (“Vượt biên”/ Từ “trí thức yêu nước”/ Đến “thường dân”/ Trước khi tới biển/ Trại tị nạn).

Chương VII: “Giải Phóng”

Cuộc chiến tranh được gọi là giải phóng có thực sự giải phóng sau những gì mà những người cộng sản áp dụng tại miền Nam (Sài Gòn thay đổi/ Kinh tế mới/ Đốt sách/ Cạo râu/ “Cách mạng là đảo lộn”/ Lòng người/ Những người sinh ra không đúng cửa/ “Cánh cửa” Thanh niên xung phong/ Cửa không đủ rộng/ “Nổi loạn”/ “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở”).

PHẦN II: THỜI LÊ DUẨN

Chương VIII: Thống Nhất

Những lo lắng từ hai phía đặc biệt là của ông Lê Duẩn dẫn đến quyết định thống nhất hai miền cả về chính trị và kinh tế, áp dụng mô hình miền Bắc vào miền Nam một cách vội vã, mặc dù, nhiều người lúc đó, kể cả ông Lê Duẩn, nhận thấy nền kinh tế tư nhân miền Nam hiệu quả hơn những gì áp dụng trên miền Bắc (Nước Việt Nam là một/ “Bắc hóa”/ Chủ nghĩa xã hội/ “Con đường của Bác”/ “Mỗi người làm việc bằng hai”/ Lê Duẩn và mối tình miền Nam/ Chấp chính và chuyên chính).

Chương IX: Xé Rào

Chính sách kinh tế kế hoạch hóa và sản xuất lớn nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” đã dẫn đất nước đến chỗ kiệt quệ. Người dân và chính quyền các địa phương, thay vì tuân thủ các nguyên tắc của nền kinh tế “kế hoạch hóa tập trung” chấp nhận một số quy luật của kinh tế thị trường, tiến trình này bị coi là “xé rào” nhưng chính những “lỗ thủng” đó đã trở thành lối thoát cho dân chúng (Bế tắc/ Mậu dịch quốc doanh/ Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng/ Tháo gỡ/ Nghị quyết Trung ương Sáu/ Bù giá vào lương/ Cắm cờ xé rào/ Khoán chui/ Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn/ “Ai thắng ai”).

Chương X: Đổi Mới

Vai trò của Trường Chinh trong việc tiếp thu thực tiễn và chuẩn bị về mặt lý luận để những người cộng sản chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, điều mà về sau gọi là đổi mới (Hội nghị Đà Lạt/ Nhóm giúp việc mới/ Người của những khúc quanh lịch sử/ Từ chính sách Kinh Tế Mới/ Đến chọc thủng bức tường bao cấp/ Giá-Lương-Tiền/ Nã pháo vào bộ tổng/ Khép lại trang sử Lê Duẩn/ Vai trò của Mikhail Gorbachev/ Tuyên ngôn đổi mới/ Bàn tay Lê Đức Thọ/ Phút 89).

Chương XI: Campuchia

Dù muốn hay không, Campuchia đã “nằm trong một trang sử” của Việt Nam. Không gian chiến tranh trong thập niên 1980s và cách mà Việt Nam đã làm để thoát ra khỏi hai cuộc chiến: Biên giới phía Bắc và Campuchia (“Pot ở đầu phum ta cuối phum”/ “Xuất khẩu cách mạng”/ Tư tưởng nước lớn/ Bị cô lập/ Phương Bắc/ Hội nghị Thành Đô/ Campuchia thời hậu Việt Nam).

(HẾT CUỐN I)

 

 

——————————————————————————

 

Bên Thắng Cuộc

Huy Đức

Cuốn I : Giải Phóng

 

PHẦN I : MIỀN NAM

Chương 1: Ba Mươi Tháng Tư

Diễn biến quân sự và chính trị trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến và những gì xảy ra trong dinh Độc Lập trong ngày 30-4 (Đi từ bưng biền/ Xuân Lộc/ Tướng Big Minh/ Trại Davis/ Nguyễn Hữu Hạnh/ Sài Gòn trong vòng vây/ Xe tăng 390/ Đầu hàng/ Tuẫn tiết)

Đăng trong: 11/12/2012 | Tác giả: hosytan | Filed under: Bên thắng cuộc | Tags: Bên thắng cuộc, Huy Đức

http://hosytan.wordpress.com/2012/12/11/ben-thang-cuoc-phan-i-mien-nam-chuong-1-ba-muoi-thang-tu/

Ba mươi tháng Tư năm 1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”. Nhưng, không phải cứ súng ống vứt đi là sẽ có hòa bình.

Đi từ bưng biền

 

Sáng sớm ngày 30-4-1975, “cánh” của ông Võ Văn Kiệt về tới một khu “đám lá tối trời” thuộc huyện Bình Chánh. Hai mươi hai ngày trước, ông Lê Đức Thọ vào Trung ương Cục, sau đó, công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh6, đồng thời trao quyết định cử ông Võ Văn Kiệt làm bí thư Đảng ủy Đặc biệt Ủy ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định, cử ông Lê Đức Anh làm phó bí thư kiêm chủ tịch Ủy ban Quân quản, và ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh đảm trách lực lượng nổi dậy phối hợp với quân chủ lực.

Từ R, căn cứ Trung ương Cục ở huyện Lộc Ninh, ông Kiệt cùng một bộ phận phục vụ gọn, khoảng hai trung đội, chạy xe Honda 67 bọc qua phía Campuchia, tới cửa biên giới Mỏ Vẹt, Long An thì bỏ xe lại, đi bộ. Ông Kiệt không lúc nào rời chiếc radio ba làn sóng hiệu JVC của Nhật. Đài Hà Nội lúc đó gần như liên tục phát Bão Nổi Lên Rồi, một bài hát mà nhịp điệu thì hối hả, lời lẽ thì thôi thúc: “Từ Trị Thiên băng qua Tây Nguyên đi tới bưng biền lòng người bừng bừng, cùng tiến lên thời cơ đã đến rồi”.

Thời cơ đã đến! Anh em phục vụ quan sát thủ trưởng, trong lòng cảm thấy lần này chắc ăn. Nhưng thủ trưởng vẫn im lặng. Ngày 27-4, đoàn vượt qua sông Vàm Cỏ Đông, tới xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, gặp cánh ông Mai Chí Thọ đã về trước ém quân ở đó. Ông Năm Xuân Mai Chí Thọ, phó bí thư Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định vào thời điểm đó, là người thông thạo các đầu mối hoạt động nội thành. Hai đoàn bắt đầu nhập lại làm một. Ít ai nghĩ rồi những người đàn ông mặc đồ bà ba đen, đi dép râu, mặt mũi khắc khổ, đang xắn quần lội ruộng đó, chỉ vài ngày nữa sẽ nắm quyền lãnh đạo Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.

Sáng hôm sau, khi sương sớm còn phủ trắng, từ nơi tạm dừng nhìn qua phía bên kia cánh đồng, cánh ông Kiệt nhìn thấy lố nhố xe pháo. Lúc đầu có người tưởng là xe tăng “địch”, tới khi sương mù bớt đi mới nhận ra: “Cơ man tăng. Tăng mình!”. Ông Kiệt viết thư, niêm kín, ra lệnh cho thư ký riêng là ông Phạm Văn Hùng (Ba Hùng), đi kiếm Trung tướng Lê Đức Anh. Tướng Lê Đức Anh tới lúc ấy vẫn là phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, được giao chỉ huy Đoàn 232, một lực lượng tương đương quân đoàn, tiến vô Sài Gòn ở hướng Tây Nam. Dọc đường Ba Hùng đi, đạn pháo nằm la liệt trên các bờ ruộng, bờ kênh; dân công rầm rập, bộ đội, xe tăng lớp lớp. Tướng Lê Đức Anh viết thư trả lời “Anh Sáu Dân” (bí danh của ông Kiệt), rồi cũng niêm kín, đưa Ba Hùng cầm về. Sau này ông Phạm Văn Hùng mới biết đó là thông tin về giờ G. Giờ G, ngày N, tức 00 giờ 00 phút ngày 29-4-1975, là giờ quy định cho tất cả năm cánh quân của quân Giải phóng đồng loạt nổ súng tấn công vào Sài Gòn.

Trưa 29-4, đoàn lội bưng, băng vô vườn thơm Tân Nhựt, Bình Chánh, hạ trại nấu cơm. Bếp rơm có khói, một chiếc trực thăng trờ tới, lia vài băng đạn vu vơ. Cách đó không xa lắm là đồn Lý Văn Mạnh, nhưng lính trong đồn giờ đó đã không còn dám ra ngoài. Đêm ấy, ở lại Tân Nhựt, Ba Hùng mắc võng bên cạnh ông Kiệt, nằm nghe tiếng pháo, sau biết là “ta pháo kích vô Tân Sơn Nhất”, hai thầy trò trăn trở không làm sao ngủ được. Sáng 30-4, ông Kiệt, trong khi trao đổi tình hình với ông Mai Chí Thọ, không quên phân công người theo dõi đài phát thanh và cho phép anh em nấu ăn. Từ đêm trước, chưa ai có hột cơm nào vô bụng.

Tới khoảng 9 giờ 30 phút sáng, Đài Sài Gòn im lặng rất lạ, rồi tiếng phát thanh viên: “Mời đồng bào nghe tuyên bố của Tổng thống”. Mọi người xúm lại quanh chiếc radio theo dõi phát biểu của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sỹ Cộng hoà hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng, và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sỹ Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”.

Lời Tướng Minh vừa dứt, Võ Văn Kiệt ra lệnh: “Giản chính đồ đạc. Đi!”. Đoàn người lúc đó chẳng kịp ăn uống mà vẫn no tới tận cổ, băng đồng ra lộ, đi về hướng Phú Lâm, cửa ngõ phía Tây Thành phố. Dọc đường, lính Sài Gòn bắt đầu trút bỏ quân phục, súng ống, binh khí vất la liệt. Anh em bảo vệ lúc đầu còn khệ nệ xách, sau thấy lếch thếch quá, lại vứt đi. Có nơi lính Sài Gòn ra hàng cả tiểu đoàn. Quân Giải phóng chỉ kịp giải thích chính sách rồi ai ở đâu về đó. Sự tan rã của chế độ Sài Gòn diễn ra gấp gáp khiến ông Kiệt quá sốt ruột. Ông gọi Tư Thạch và Chín Anh, hai người cận vệ vốn là dân thành phố, đến, ra lệnh: “Hai đồng chí tìm cách kiếm xe, nhanh chóng đưa Đại quân vô Sài Gòn!”.

Chín Anh cùng Tư Thạch ra lộ, gặp hai người bận đồ công nhân, chạy xe máy từ phía Sài Gòn ra. Chín Anh nói: “Tụi tôi là Giải phóng. Nhờ mấy anh quay lại, đưa tụi tôi vô Sài Gòn”. Hai người này sốt sắng: “Mời mấy anh”. Chín Anh tính đi thẳng vô Phú Lâm nhưng mới tới xa lộ vành đai thì thấy một chiếc xe tải quân sự hiệu GMC mới cáu đậu sẵn bên lề đường. Trên xe không biết lực lượng nào đã cắm sẵn một lá cờ Giải phóng. Chín Anh hỏi: “Mấy anh biết lái xe không?”. Một người nói liền: “Tôi là tài xế nè”. Chín Anh cho kiểm tra lại xe, thấy xe tốt, kêu hai “chiến sỹ” vừa được “trưng dụng” đưa xe máy vô nhà dân cạnh đường gửi, rồi lái chiếc xe quay lại.

“Đại quân” lúc này vẫn đi bộ theo Lộ 10, gặp xe mừng quá, nhanh chóng leo lên. Chín Anh ngồi bên cạnh tài xế, ông Kiệt và ông Năm Xuân ngồi kế bên. Bốn, năm anh em khác bám hai bên thùng xe để bảo vệ. Một tốp thanh niên thấy chiếc GMC cắm cờ Giải phóng chạy vô phố, cứ thế phóng xe máy theo. Dọc đường, chỗ nào cũng có lính Việt Nam Cộng hoà cởi áo, cởi giày, chạy. Người dân gom vô, lấy chỗ cho chiếc xe quân sự Mỹ chở một trong những nhà lãnh đạo “Việt cộng” đầu tiên tiến vào Sài Gòn.

Ông Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và những người trên chiếc xe GMC hôm đó, có người đã suốt ba mươi năm mắc võng nằm rừng. Giờ ngắm phố xá chạy vùn vụt bên cửa xe, mắt họ cay xè vì sung sướng. Không ai trong số họ, sau đó, có thể diễn đạt lại được cảm giác khi ấy của mình, nhưng cuộc đời họ rồi sẽ khó lòng có lại một niềm vui nào lớn lao hơn niềm vui trong cái ngày 30-4 đó.

Xuân Lộc

 

Trong khoảng thời gian cánh ông Võ Văn Kiệt tìm cách di chuyển vô nội thành, chính những chiếc tăng của Lữ đoàn 203, Quân đoàn II đã viết nốt những dòng cuối cùng của một trang sử.

Kế hoạch “bao vây chiến lược Sài Gòn” bắt đầu từ ngày N. Lúc đầu, theo Tướng Trần Văn Trà, ở phía Tây, Đoàn 232 do Tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh cũng gặp không ít khó khăn; phía Đông, đêm ngày 9 rạng sáng ngày 10-4, Quân đoàn IV gồm hai sư đoàn tấn công thị xã Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Cuộc tấn công đã chọc thủng tuyến phòng ngự thị xã bằng nhiều mũi, nhanh chóng phát triển vào trung tâm. Tuy nhiên, sau khi cắm cờ trên dinh tỉnh trưởng và làm chủ một loạt các căn cứ khác, ngày 10-4, một lữ đoàn dù của Việt Nam Cộng hòa được trực thăng vận đưa tới thị xã để chi viện gấp và “giữ tinh thần cho Sư đoàn 18”.

Cho đến ngày 15-4, gần hết tăng thiết giáp của Quân đoàn III và một lực lượng tương đương một sư đoàn thuộc quân trù bị dù và thủy quân lục chiến của Sài Gòn đã được điều về. Trận Xuân Lộc được được coi là khốc liệt nhất trong toàn chiến dịch. Quân đội Sài Gòn đã ném xuống đây hai loại bom có khả năng sát thương hàng loạt: Daisy Cutler và CBU7. “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”, mọi sức mạnh có thể đều được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sử dụng.

Hãng UPI (Mỹ), ngày 12-4, cho rằng, Xuân Lộc được chọn làm nơi thí nghiệm khả năng chiến đấu của quân Nam Việt Nam. Khi quân Giải phóng gặp khó khăn, thương vong rất lớn ở Xuân Lộc, báo chí Sài Gòn đánh giá khả năng chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã hồi phục, và còn đủ mạnh để giữ vững chế độ.

Theo Tướng Trần Văn Trà, tình hình đó khiến cho “các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng và cả anh Lê ĐứcThọ rất lo lắng”. Tướng Trà viết: “Trận đánh quá ác liệt, e rằng các đơn vị ta bị thương vong nặng trong thời điểm này không lợi. Vì vậy các anh gợi ý có thể cho anh em rút ra khỏi thị xã… tôi đề nghị cho tôi đến tận nơi, nắm rõ tình hình cụ thể tại chỗ và cùng anh em nghiên cứu cách đánh. Các anh đều đồng ý”8. Chiều 11-4, Tướng Trà đến chỉ huy sở của Quân đoàn IV đóng trên bờ sông La Ngà. Sau khi nghe ý kiến của các tướng chỉ huy ở đây, Tướng Trà kết luận: “Xuân Lộc là điểm then chốt, hết sức quan trọng trong tuyến phòng ngự, nên địch đã tập trung nhiều lực lượng cố giữ. Hiện nay lực lượng chúng đã chiếm ưu thế so với ta. Ta cũng không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Vì vậy tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là không lợi… Nếu ta chiếm ngã ba Dầu Giây và giữ vững luôn… thì Xuân Lộc tự dưng mất hết tác dụng vì bị đặt ra ngoài tuyến phòng thủ. Biên Hòa thì sẽ lập tức bị uy hiếp”9. Tất cả nhất trí với phương án tác chiến này.

Để chuẩn bị cho chiến dịch được đặt tên là Hồ Chí Minh, Quân đoàn I được điều từ miền Bắc vào; Quân đoàn II thì vừa hành quân vừa tác chiến dọc theo bờ biển. Tướng Trà viết: “Có đơn vị vào tới, nhưng đạn dược chưa tới, có xe tăng đến nơi nhưng xăng dầu hết, đạn pháo chỉ còn một hai viên, cần phải bổ sung chấn chỉnh.

Cán bộ tham mưu và hậu cần vùi đầu với công việc, mỗi ngày làm việc gấp mấy lần ngày thường. Nhưng tinh thần phơi phới”10.

Ngày 18-4, ông Lê Đức Thọ, đại diện Bộ Chính trị đã cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch duyệt lại kế hoạch lần cuối. Trước đó, trong Điện số 07, ông Lê Duẩn viết: “Tôi đã bàn với anh Văn (Võ Nguyên Giáp), nhận thấy cần chuẩn bị thêm mấy ngày nữa, đến khi phần lớn lực lượng của Quân đoàn III và Quân đoàn I (cả bộ binh và binh khí kỹ thuật) đến nơi sẽ bắt đầu cuộc tấn công lớn, chưa nên làm bây giờ”11. Rạng sáng ngày 21-4, các tuyến phòng thủ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn tại Xuân Lộc sụp đổ. Bốn tiểu đoàn còn sống sót của Sư đoàn 18 quân đội Việt Nam Cộng hòa với Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo đã phải thoát khỏi thành phố đổ nát ấy bằng máy bay lên thẳng.

Đầu tháng 4-1975, trong một cuộc họp báo tại Nhà Trắng, khi các phóng viên đặt vấn đề loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu mở đường cho một chính phủ “có thể nói chuyện với Hà Nội” lên cầm quyền, Tổng thống Mỹ Gerald Ford nói: “Tôi không tin là tôi có quyền ra lệnh cho một nguyên thủ quốc gia được dân bầu rời nhiệm sở”12. Tuy nhiên, hơn hai tuần sau, vào ngày 20-4-1975, cả Tổng thống Gerald Ford và Ngoại trưởng Henry Kissinger đều đồng ý để đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin nói bóng gió với ông Thiệu về việc nên “cân nhắc từ chức”.

Nhà Trắng hy vọng với việc từ chức của ông Thiệu, Liên Xô có thể giúp nói với miền Bắc đàm phán để có “thêm vài ngày sơ tán những người Việt Nam có liên hệ với Mỹ”. “Với một điệu bộ khá lạnh lùng, Thiệu trả lời rằng ông sẽ làm tất cả những gì tốt đẹp cho đất nước của ông”13. Tuy nhiên, vào buổi trưa hôm sau, ngày 21-4- 1975, khi không còn Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương đến văn phòng, thông báo là ông từ chức. Chiều tối hôm đó, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình công khai quyết định của mình và giao quyền cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương.

Lúc 3 giờ 30 phút chiều ngày 22-4-1975, từ Hà Nội, một bức điện ký tên Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn được chuyển vào chiến trường: “Các anh ra chỉ thị ngay cho các hướng hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng, sự hợp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng”14.

Ngày 26-4-75, Tướng Văn Tiến Dũng, tư lệnh Chiến dịch, và Tướng Trần Văn Trà di chuyển xuống Sở Chỉ huy tiền phương; hai ngày sau, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng tới. Đến lúc ấy thì tình hình đã ngã ngũ. Sài Gòn hoàn toàn bị vây hãm. Phía Tây, Sư đoàn 5 của Đoàn 232 bắt đầu tấn công vào Sư đoàn 22, từ Tân An lên đến Cầu Voi; Trung đoàn 16 đánh chiếm cầu Bình Điền và cầu An Lạc; hai Trung đoàn đặc công 115 và 117 chiếm Phú Lâm. Xa hơn về phía tây, Lộ 4 bị cắt ở Cai Lậy.

Cũng từ ngày 26-4, Sư đoàn 8 Quân khu VIII đã cắt hoàn toàn Lộ 4 đoạn từ ngã ba Trung Lương lên giáp Tân An. Lực lượng Quân khu IX cũng khống chế được đoạn Cái Vồn-Ba Càng. Con đường chiến lược độc nhất xuyên suốt đồng bằng Cửu Long bị băm nát. Về phía Đông, Quân đoàn II ngày 26-4 cũng nổ súng tấn công căn cứ huấn luyện thiết giáp Nước Trong, đánh chi khu Long Thành; ngày 27-4 chiếm thị xã Bà Rịa. Đường 15 bị cắt đứt hoàn toàn. Cùng đêm 26-4, Trung đoàn đặc công 116 bắt đầu đánh cầu xa lộ Đồng Nai; Trung đoàn 10 đặc công đánh từ Phước Khánh đến ngã ba Đồng Tranh, khóa chặt đường sông. Sân bay Biên Hòa bị bắn phá bằng pháo 130 ly. Ngày 23-4, sân bay Biên Hòa bị đóng cửa cùng lúc với tòa lãnh sự Mỹ ở thị xã Biên Hòa. Sài Gòn chỉ còn kiểm soát hai sân bay cuối cùng: Lộ Tẻ (Cần Thơ) và Tân Sơn Nhất”15.

Tướng Big Minh

Đầu tháng 4-1975, có những thông tin cho thấy người Mỹ quan tâm tới “phương án Big Minh”. Tài liệu của CIA nói là ngày 2-4-1975, trùm CIA tại Sài Gòn Thomas Polgar gửi một bức điện về Tổng Hành dinh đề xuất lật Thiệu để đưa Dương Văn Minh lên thay, hy vọng thành lập được một chính phủ liên hiệp “có khả năng làm chậm lại cuộc xâm lược của Bắc Việt”16. Theo Polgar, trưởng đoàn Hungary trong Ủy ban Kiểm soát Bốn bên nói Hà Nội cho biết nếu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bị loại thì Bắc Việt sẵn sàng thương thuyết. Tại Dinh Hoa Lan (vốn là một dinh thự của Đức Từ Cung ở số 3 Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần, được Tổng thống Ngô Đình Diệm ban tặng cho Tướng Minh), nhóm ông Minh bắt đầu thảo luận về khả năng chấp chính.

Đại tướng Dương Văn Minh17 sinh năm 1916 tại Mỹ Tho. Cha ông, Đốc phủ sứ Dương Văn Huề, có bảy người con. Em kế ông Minh, Dương Thanh Nhựt, “tập kết” ra Bắc năm 1954. Ông Minh, vốn là một sỹ quan trong quân đội Pháp, sau Cách mạng tháng Tám đã từng tham gia kháng Pháp. Từ năm 1960, Xứ ủy Nam Bộ, khi ấy được lãnh đạo bởi ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh, đã yêu cầu Cục trưởng Cục Địch vận Võ Văn Thời giao nhiệm vụ cho Dương Thanh Nhựt về Nam để tiếp cận với Dương Văn Minh. Tháng 3-1961, Dương Thanh Nhựt, bấy giờ mang bí danh Mười Ty, về đến miền Nam, và tới tháng 8-1962 thì móc nối được với cậu ruột và vợ là Sử Thị Hương.

Ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh, người hùng của Ngô Đình Diệm, đã nhân danh chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng phát lệnh đảo chính tổng thống.

Năm 1967, khi Dương Văn Minh đi Pháp, ông Mười Cúc cũng đã cử Mười Ty qua Paris; trước đó, Mười Ty cũng được đưa qua Hồng Kông tìm Dương Văn Minh, nhưng cả hai lần đều không gặp18.

Giữa tháng 4-1975, tại một nhà hàng đặc sản của Tướng Mai Hữu Xuân nằm trong rừng cao su trên xa lộ Đại Hàn có tên là Đường Sơn Quán, ông Dương Văn Minh tổ chức họp mặt với đông đủ báo giới trong và ngoài nước, tuyên bố “sẵn sàng thay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như một giải pháp tình huống để tìm cơ hội hòa bình cho miền Nam”. Sau cuộc họp báo, ngày 17-4, Đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon đã đến Dinh Hoa Lan bằng xe có cắm quốc kỳ Pháp. Hành động của ông Đại sứ được báo chí Sài Gòn bình luận là cố tình vi phạm nguyên tắc ngoại giao nhằm công khai lập trường của Pháp đối với tình hình chính trị miền Nam.

Sau khi từ chức, ngày 21-4-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và gia đình vẫn sống trong Dinh Độc Lập. Phe đối lập và Đài Hà Nội liền gọi Sài Gòn là “Chính phủ Thiệu mà không có Thiệu”. Cả Tổng thống tạm quyền Trần Văn Hương và Tướng Big Minh đều đánh tiếng để Đại sứ Martin thu xếp đưa ông Thiệu đi. Về mặt công khai, chuyến đi của ông Nguyễn Văn Thiệu và Đại tướng Trần Thiện Khiêm là “công cán”.

Buổi chiều ngày 25-4-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với sự tháp tùng của một sỹ quan tùy viên, Trung tá Tôn Thất Ái Chiêu, đi một vòng “hậu dinh”, nơi ở của gia đình ông, và chỉ ra yêu cầu chuẩn bị đồ đạc cá nhân để đưa về tư gia. Sau đó, ông đến văn phòng tổng thống. Sỹ quan tùy viên của ông Hương nói “Tổng thống đang họp”. Ông Thiệu đưa cho viên sỹ quan một phong thư, dặn khi nào Tổng thống họp xong thì trình.

Theo ông Nguyễn Đức Từ, một trợ tá và là em rể họ của ông Thiệu, bức thư viết: “Thưa cụ, theo chỉ thị của cụ, tôi và Đại tướng Trần Thiện Khiêm đi giải độc tại các quốc gia bạn, cùng với đoàn tùy tùng gồm: Đại tá Đức, Đại tá Thiết, Đại tá Diên, Trung tá Chiêu…”. Sau đó, ông Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng đến nhà Tướng Khiêm ở Bộ Tổng Tham mưu; tại đây, một tiệc nhẹ đã dọn sẵn. Ăn xong, Tướng Nguyễn Văn Thiệu cùng Trung tá Chiêu đi bộ về nhà, cũng trong khuôn viên Bộ Tổng. Khi họ quay lại thì bàn ăn nhà Tướng Khiêm đã được dùng làm bàn thủ tục cho chuyến bay.

Khoảng 9 giờ tối, ông Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng được đưa ra phi trường bằng ba chiếc xe do hai sỹ quan CIA lái. Đoàn xe ra khỏi cổng Bộ Tổng Tham mưu, thay vì rẽ phải vào phi trường, đã rẽ trái đi ngược ra Sài Gòn, vào Chợ Lớn, qua trường đua Phú Thọ, Lăng Cha Cả… qua cổng Phi Long, Bộ Tư lệnh Không quân, theo đường ngược chiều chạy vào sân bay. Tại “cổng nhà kính” của Không quân, đèn tắt, không có nhân viên Việt Nam nào làm việc, chỉ có thủy quân lục chiến và quân cảnh Mỹ. Sau khi nhận tín hiệu bằng đèn pin, đoàn xe đi qua, chạy thẳng tới cầu thang một chiếc máy bay C-118. Ở đó, Đại sứ Mỹ Martin đã đứng chờ đưa tiễn. Đêm ấy, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bay đi Đài Loan19.

Những ngày ấy, trong Dinh Hoa Lan, theo mô tả của một người kề vai sát cánh với ông Dương Văn Minh, Dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận, là “những ngày dài như vô tận”. Tổng thống tạm quyền Trần Văn Hương, người trước đó được Tướng Nguyễn Văn Thiệu phong hàm “hạ sỹ danh dự” đã “quyết tử thủ dù Sài Gòn có phải tắm máu”. Tướng Big Minh nói với Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận: “Toa (anh) làm thế nào đó thì làm, nếu ông Hương cứ kéo dài hoài thì moa (tôi) không nhận đâu!”. Ông Hồ Ngọc Nhuận hiểu đại từ tiếng Pháp “toi” mà ông Tướng nói là nhằm chỉ ông Nhuận và nhóm dân biểu đối lập đang “quậy” ở Quốc hội để ông Hương từ chức. Nghe ông Tướng nói “moa không nhận”, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận nghĩ tới cái ghế tổng thống mà tới giờ đó “ai cũng thấy là không còn cái chân nào”, ông Nhuận xót xa nghĩ: “Ông Tướng đã từng muốn xua đi chén đắng để cuối cùng chấp nhận uống chén đắng cho tới cặn sao”20.

Sau đó, trong một cuộc họp ở Dinh Hoa Lan, Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận khuyên Tướng Big Minh “thôi”. Ông Dương Văn Minh ngạc nhiên: “Giờ này mà toa còn nói đâm bang!”. Ông Hồ Ngọc Nhuận bỏ phòng họp lên sân thượng. Dân biểu Dương Văn Ba sau đó theo lên nói: “Anh đừng buồn”. Ông Hồ Ngọc Nhuận nói: “Nếu ông Tướng nhận, người ta sẽ làm nhục, giờ này thì chỉ có đầu hàng thôi. Cho dù lâu nay hoạt động của chúng ta có gián tiếp tiếp tay cho họ (phía Cách mạng), nhưng tôi không muốn đứng trong hàng ngũ những người sẽ bị họ bắt quỳ gối, đầu hàng”. Kể từ đó, ông Nhuận không tham gia các cuộc họp bàn thành lập “nội các” nữa, cho dù nhiều người muốn ông Nhuận, người đã từng là quận trưởng Quận 8 và đang là một dân biểu đối lập hàng đầu, ra tay “giúp ông Tướng” mà nhận lãnh vai trò “đô trưởng”.

Ngày 27-4-1975, Quốc hội Sài Gòn nhóm họp. Chỉ còn 136 nghị sỹ trên tổng số 219 của lưỡng viện có mặt, phần đông trong số họ đã di tản ra nước ngoài. Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn và Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã đến để thuyết trình tình hình chiến sự. Mãi tới 8 giờ 54 phút tối hôm ấy, các nghị sỹ mới biểu quyết thông qua nghị quyết: “Yêu cầu ông Trần Văn Hương trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh để mưu cầu hòa bình cho dân tộc”.

Ngày 28-4, Tướng Dương Văn Minh chính thức công bố thành phần chính phủ: Luật sư Nguyễn Văn Huyền, cựu chủ tịch Thượng viện, giữ chức phó tổng thống; luật sư Vũ Văn Mẫu giữ chức thủ tướng. Nội các còn có thêm một thành viên chính thức nữa là Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung.
Quyết định đầu tiên của Đại tướng Dương Văn Minh là ký Văn thư số 33/TT/VT “mật – hỏa tốc” với nội dung: “Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Kính gửi ông Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam. Thưa ông Đại sứ. Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại sứ vui lòng ra chỉ thị cho các nhân viên của cơ quan tùy viên quân sự DAO rời khỏi Việt Nam trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ kể từ ngày 29-4-1975 để vấn đề hòa bình Việt Nam sớm được giải quyết. Trân trọng kính chào ông Đại sứ. Sài Gòn ngày 28-4-1975. Ký tên: Đại tướng Dương Văn Minh”.

Trại Davis

Sáng 29-4-1975, một người bạn cùng sinh hoạt tôn giáo với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền là nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chủ động gặp ông Huyền hỏi: “Chính quyền ông Dương Văn Minh thành lập được nói là để hòa giải dân tộc, vậy các anh đã tiếp xúc gì với phía bên kia chưa?”. Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền nói chưa, và đề nghị ông Nguyễn Đình Đầu vào trại Davis gặp đại diện Cách mạng có mặt ở đó với tư cách là thành viên thuộc Ủy Ban Liên lạc Bốn bên theo Hiệp định Paris.
Từ năm 1939, ông Nguyễn Đình Đầu hoạt động trong phong trào Thanh Lao Công, một tổ chức của lực lượng thanh niên Công giáo. Tại đó, ông gặp ông Nguyễn Mạnh Hà, nguyên giám đốc Kinh tế Bắc kỳ trong chính phủ thân Nhật của ông Phan Kế Toại, người được ông Võ Nguyên Giáp tiến cử làm bộ trưởng Kinh tế sau Cách Mạng tháng Tám. Ông Hà chọn ông Nguyễn Đình Đầu làm bí thư Bộ, một trong bốn viên chức chính trị của Bộ21.

Phái đoàn vào trại Davis hôm 29-4-1975 gồm ông Nguyễn Văn Diệp, ông Nguyễn Đình Đầu, Kỹ sư Tô Văn Cang và ông Nguyễn Văn Hạnh. Dọc đường đi họ gặp rất nhiều trở ngại do binh lính cản đường. Ở trại Davis, một cán bộ Cách mạng tiếp họ nhưng nói là Phái đoàn Chính phủ Cách mạng không có nhiệm vụ tiếp xúc. Nhưng khi trao đổi không chính thức, vị cán bộ này gợi ý: chỉ cần các ông chấp nhận “Tuyên bố ngày 26-4-1975 của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”22.

Trở về từ trại Davis, ông Diệp báo cáo với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền. Sau khi có tranh luận trong nội bộ Chính phủ, ông Nguyễn Văn Diệp và ông Nguyễn Đình Đầu về nhà ông Diệp cùng soạn thảo bản tuyên bố “Chấp nhận Điều kiện Ngừng bắn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam”. Dự thảo viết xong lúc 16 giờ và ngay sau đó được “Phó Tổng thống đặc trách đàm phán” Nguyễn Văn Huyền trình lên Tổng thống. Tướng Dương Văn Minh chấp thuận. Ông Nguyễn Văn Huyền đã công bố bản này trên Đài Phát thanh Sài Gòn vào lúc 17 giờ ngày 29-4-1975. Cũng trong ngày 29-4, sau bữa cơm trưa, Luật sư Trần Ngọc Liễng, một người hoạt động trong lực lượng thứ ba, tới Dinh Hoa Lan gặp Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Liễng, một người của phía Cách mạng, thông báo với ông Minh về “bốn giàn pháo của quân Giải phóng đặt quanh Sài Gòn” và nói: “Nếu anh chấp nhận không chống cự thì tôi lên ngay trại Davis báo ý này với phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và yêu cầu họ không pháo kích vào Sài Gòn, tránh cho nhân dân khỏi bị chết chóc, Sài Gòn không đổ nát”. Ông Minh suy nghĩ rồi nói: “Liễng đi đi”.

Khoảng 15 giờ, “sứ bộ” thứ hai gồm Luật sư Trần Ngọc Liễng, Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào trại Davis. Trưởng Phái đoàn Chính phủ Cách mạng Võ Đông Giang ra tiếp, nhận thông điệp “Sài Gòn không chống cự” từ ông Liễng. Do tình hình chiến sự, ông Võ Đông Giang đã giữ “sứ bộ” ở lại trại Davis cho tới khi quân Giải phóng vào đến Sài Gòn. Trước đó, một người trong nhóm của Luật sư Trần Ngọc Liễng đã được tiến cử để Tổng thống Dương Văn Minh bổ nhiệm vào chức giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành: ông Triệu Quốc Mạnh, chánh Biện lý Gia Định, một “đảng viên cộng sản nằm vùng”. Trong ngày 29-4, Triệu Quốc Mạnh đã kịp thi hành triệt để lệnh của tổng thống: thả hết tù chính trị.

Nguyễn Hữu Hạnh

Trong khi ấy, từ Cần Thơ, Chuẩn tướng hồi hưu Nguyễn Hữu Hạnh lặng lẽ theo dõi tình hình, nhận thấy đây là cơ hội cuối cùng để mối quan hệ âm thầm với Cách mạng gần chục năm qua mang về kết quả. Ông Hạnh với ông Minh đã có hơn ba mươi năm biết nhau trên nghĩa thầy trò. Ngày đăng lính, ông Nguyễn Hữu Hạnh được người Pháp đưa vào một đơn vị nơi ông Dương Văn Minh là thiếu úy đại đội phó. Sau ba tháng huấn luyện với sự dìu dắt trực tiếp của ông Minh, ông Hạnh được phong trung sỹ. Trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, truy quét quân Bình Xuyên năm 1956, ông Minh bổ nhiệm ông Hạnh giữ chức tham mưu trưởng chiến dịch.

Ông Hạnh có một người bác, nhưng nhỏ tuổi hơn ông, ông Nguyễn Tấn Thành – thường gọi là Tám Vô Tư. Ông Nguyễn Tấn Thành “trụ” lại ở miền Nam, trong khi
con trai của ông, Nguyễn Tấn Phát23, được đưa ra miền Bắc. Mấy lần ông Tám Vô Tư bị chính quyền Sài Gòn bắt, ông Nguyễn Hữu Hạnh đều khéo léo sử dụng quyền lực và các mối quan hệ để cứu ra. Khi ba của ông Nguyễn Hữu Hạnh mất, ông Hạnh muốn đưa về an táng ở quê lúc bấy giờ nằm trong vùng kiểm soát của quân Giải phóng, ông Tám Vô Tư lại đứng ra “dàn xếp”. “Ổng khéo lắm”, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhớ lại. Dần dần, ông Nguyễn Hữu Hạnh nhận ra bác mình, ông Tám Vô Tư, đang thực hiện một kế hoạch “binh vận” do ông Bảy Lương, tức Lê Quốc Lương24, phụ trách.

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh tỏ ra hợp tác; tuy nhiên, ông khôn khéo từ chối lời đề nghị “ra căn cứ dựng cờ sỹ quan yêu nước trong Mặt trận Giải phóng”, từ chối tham gia lực lượng thứ ba, và từ chối tiếp xúc với “anh em Cách mạng”. Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nói với ông Tám Vô Tư: “Ông bị bắt, tôi cứu, tôi mà bị bắt không ai cứu được”. Giữa năm 1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho Nguyễn Hữu Hạnh về hưu; ông về Cần Thơ, gặp gỡ binh vận nhiều hơn nhưng vẫn không chịu “đi hẳn theo Cách mạng”. Tuy nhiên, khi thế cờ đã gần như ngã ngũ, đặc biệt, khi thấy ông thầy Dương Văn Minh nhảy ra chấp chính, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyết định nắm lấy cơ hội cuối cùng.

Ông kể: “Sáng 29-04-1975 tôi đến gặp ông Minh tại nhà riêng, văn phòng khi ấy vẫn còn ở nhà ông, số 3 Trần Quý Cáp. Trung tướng Mai Hữu Xuân, phụ trách sự vụ nói với tôi: Đại tướng bận họp, Chuẩn tướng chờ một chút. Ông Dương Văn Minh là một con người kín đáo, trầm lặng, nhưng lúc này trên gương mặt ông cũng lộ rõ vẻ suy nghĩ lo âu. Một sĩ quan tùy viên vào trình có Đại sứ pháp đến. Tôi sang phòng bên để ông Minh và ông Huyền tiếp Mérillon nhưng vẫn nghe được tiếng của Đại sứ Mérillon thông báo là Tổng trưởng Ngoại giao Pháp đã liên lạc với Hà Nội về vấn đề thương thuyết, nhưng Hà Nội trả lời ‘Rất tiếc là đã quá trễ’.

Hai ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu tiếp tục trao đổi sau khi Mérillon ra về. Họ quyết định tuyên bố thả hết tù chính trị. Tôi hỏi ông Dương Văn Minh: ‘Thưa Đại tướng, còn về tình hình quân sự ra sao?’. Ông Minh nói: ‘Toa là quân nhân không đi xem còn hỏi gì?’ Là tổng tư lệnh quân đội, nhưng lúc bấy giờ ông Minh cũng không nắm nổi tình hình mà còn phó thác cho Trung tướng Đồng Văn Khuyên phụ trách mọi việc ở Bộ Tổng tham mưu. Tôi thấy lúc này cần phải nắm lấy việc chỉ huy quân đội và tôi đoán thế nào ông Minh cũng trao việc này cho tôi. Tôi nói: ‘Tôi về hưu rồi đi coi sao được. Đại tướng có cho quyền thì tôi mới đi’. Ngay lúc đó ông Minh phái tôi đến Bộ Tổng Tham mưu xem xét tình hình quân sự”.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh chưa kịp về tới nhiệm sở thì Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên và Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Biệt khu Thủ đô, đã bỏ ra nước ngoài. Trung tướng Vĩnh Lộc được cử giữ chức tổng tham mưu trưởng, Thiếu tướng Lâm Văn Phát giữ chức tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Tướng Vĩnh Lộc trao cho ông Nguyễn Hữu Hạnh bộ đồ quân phục của một đại úy và cho ông cặp quân hàm chuẩn tướng. Chân ông Hạnh đi giày quân sự nhưng đầu thì không mũ, Tướng Vĩnh Lộc nhìn, lắc đầu, chửi thề rồi nói: “Bây giờ chúng nó chạy như chuột”.

Tình hình ở Bộ Tham mưu rối ren, bế tắc. Theo Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, khi ông Minh gọi Tướng Vĩnh Lộc tới nhà, cử ông làm tổng tham mưu trưởng, thì Tướng Vĩnh Lộc từ chối: “Đại tướng giao cho Ngô Quang Trưởng đi, sớm nay tôi còn thấy nó ở Tổng Tham mưu”. Quân đoàn I của Tướng Trưởng vừa bị đánh tan tác ở Huế và Đà Nẵng, Tướng Trưởng vừa mới chạy tới Sài Gòn. Dương Văn Minh không đồng ý.

Nhân khi ông Minh rời phòng khách, Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cố thuyết phục Vĩnh Lộc chấp nhận. Tướng Vĩnh Lộc lên nắm quyền nhưng vẫn sắp xếp cho gia đình chuẩn bị “di tản”. Ông Hạnh nhớ lại: “Cái chức ấy bao năm qua nhiều kẻ đã phải giành giật nhau, vậy mà bấy giờ không ai muốn nhận nữa”.

Sài Gòn trong vòng vây

Theo Henry A. Kissinger, cuối tháng 4-1975, người Mỹ đã hoàn thành phần lớn việc di tản, kể cả hơn một trăm nghìn người Việt Nam có thể bị nguy hiểm do đã cộng tác với người Mỹ. Ngày 22-4-1975, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã “chấp thuận yêu cầu” của Tổng thống Gerald Ford, đồng ý gỡ bỏ những điều kiện hạn chế (extend parole) cho “khoảng 130,000 dân tị nạn đến từ Đông dương, trong đó có 50,000 người thuộc diện nguy cơ cao”. Đây là lần thứ hai Bộ Tư pháp Hoa Kỳ “chấp thuận một trường hợp ngoại lệ” (lần đầu, năm 1960, được dành cho “dân tị nạn Cuba”).

Từ ngày 21-4, các máy bay, C-141 vào ban ngày và C-130 vào ban đêm, liên tục cất cánh từ Sài Gòn, đưa “khoảng 50.000 người Việt nam” ra đi. Hơn 80.000 người Việt Nam khác “với sự trợ giúp của Mỹ chạy thoát bằng các phương tiện khác”.

Tuy nhiên, vào 4 giờ sáng ngày 29-4, khi quân Giải phóng tấn công bằng tên lửa vào sân bay Tân Sơn Nhất, 8.000 người Việt nam và 400 người Mỹ vẫn còn đang tập trung ở đó để chờ lên máy bay. Cuộc sơ tán đã phải tạm ngưng vì đám đông hoảng loạn. Trong ngày hôm ấy, Sài Gòn chứng kiến những đợt rút chạy cuối cùng của phái bộ Mỹ, trực thăng lên xuống ầm ĩ trên vùng trời Tân Sơn Nhất, binh sĩ dưới đất bắn lên, tức giận.

Ba giờ chiều ngày 29-04-1975, tình hình quân sự được báo cáo về Bộ tổng tham mưu Sài Gòn: Hướng Củ Chi, Sư đoàn 25 của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá thất thủ vào chiều 28-04-1975 sau khi căn cứ Đồng Dù bị mất. Ở Biên Hòa, Trung tướng Toàn cho biết: trong ngày 28-04-1975, lúc 18 giờ 10 phút, Việt Cộng dùng xe tăng đánh chiếm chi khu Long Thành; 18 giờ 50 phút mất tỉnh lị Bà Rịa; 19 giờ 30 phút Biên Hoà bị bao vây ba mặt.

Tối 29-04-1975, Thiếu tướng Lê Minh Đảo nói với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh ông đang bị bọc hậu và xin rút về bên này sông Đồng Nai để cố thủ. Theo ông Hạnh thì giọng Tướng Lê Minh Đảo lạc đi. Cách đó mới hơn một tuần, Tướng Đảo tuyên bố “Cố thủ Xuân Lộc”, nhưng rồi Sư đoàn 18 đã phải rút chạy. Trong khi đó, ở Sư 22 đóng tại Tân An, Chuẩn tướng Phan Đình Niệm đã bỏ trốn. Hướng Thủ Dầu Một do Sư 5 trấn giữ đã bị chọc thủng đêm 29-04-1975, liên lạc bị cắt đứt.

Khi quân Giải phóng tràn đến Hố Nai, Sư đoàn 18 và Lữ đoàn 5 thiết giáp lập tuyến phòng thủ bên này sông Đồng Nai. Đêm 29-04-1975, nhiều đoàn xe của quân Giải phóng từ phía Hóc Môn đã tiến về Sài Gòn. Tư lệnh Biệt khu Thủ đô cho biết đã lập xong kế hoạch phản công. Theo Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, muốn kéo dài sự phòng thủ thì cần chỉ thị sắp xếp quân lại. Tuy nhiên, ông đã không bàn với Tướng Vĩnh Lộc việc này. Theo chỉ thị của Tổng thống Dương Văn Minh, “không được di chuyển quân để chờ ông thương thuyết”.

Trước khi về gặp tổng thống, ông Nguyễn Hữu Hạnh trình bày tình hình quân sự với Trung tướng Vĩnh Lộc và Trung tướng Nguyễn Hữu Có: “Phía Tân Sơn Nhất quân của Biệt khu Thủ đô đang chạm súng với Việt Cộng. Có thể họ sẽ giữ nổi nhưng phải chịu thiệt hại nhiều về người và vật chất. Tuy nhiên phía Biên Hòa và Thủ Dầu Một, Quân đoàn III không còn; chỉ huy các đơn vị của họ, Trung tướng Toàn đã bỏ chạy; Sư đoàn 18 và Lữ đoàn 5 thiết giáp kẹt ở tuyến sông Đồng Nai. Hướng Thủ Dầu Một bị bỏ ngỏ. Một đoàn chiến xa của Việt Cộng đang tiến về Sài Gòn. Mặt trận phía này chúng ta không có quân xung kích mà chỉ có lực lượng phòng thủ. Tôi e trong thời gian ngắn nữa chúng ta sẽ không thể gỡ nổi”. Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh: “Nghe xong, Tướng Vĩnh Lộc biến đổi sắc mặt, vội cầm lấy điện thoại báo cáo với ông Dương Văn Minh. Sau đó Vĩnh Lộc bắt tay tôi, đó là cái bắt tay cuối cùng”. Tám giờ sáng 30-04-1975, viên tướng dòng dõi hoàng tộc này đã cùng gia đình “di tản” bằng đường thủy.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh nhớ lại: “Tôi và Tướng Nguyễn Hữu Có chạy đi tìm xe, tài xế đã bỏ đi mất. Tướng Có phải gọi điện thoại về nhà đưa chiếc xe riêng đón chúng tôi đến nhà ông Dương Văn Minh lúc 6 giờ sáng. Gặp ông Minh, Tướng Có trình bày lại toàn bộ tình hình quân sự như tôi đã nói. Ông Minh trầm ngâm. Tôi nói thêm: ‘Tình hình rất nguy ngập, xin Đại tướng quyết định gấp’. Ông Minh quay lại hỏi: ‘Bây giờ toa muốn gì?’ Tôi nói: ‘Thưa Đại tướng quyền chính trị là ở Đại tướng, riêng về quân sự thì Đại tướng phải giải quyết, tình hình quá nguy ngập không cho phép chúng ta chần chừ nữa’. Ông Minh suy nghĩ trầm ngâm một hồi rồi nói: ‘Thôi để tôi đi bàn với ông Huyền và ông Mẫu, các toa ngồi đây đợi’. Tôi đề nghị được đi theo, ông Minh đồng ý”.

Ông Minh và ông Hạnh tới Phủ Thủ tướng, số 7 đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn). Trên đường đi họ chứng kiến sự hốt hoảng của dân chúng, tại tòa đại sứ Mỹ có nhiều kẻ đang hôi của. Đại sứ Mỹ Martin rời khỏi Sài Gòn vào lúc 4 giờ 58 phút sáng 30-4-1975. Tuy nhiên, chuyến trực thăng cuối cùng rời khỏi tòa Đại sứ Mỹ, theo Ngoại trưởng Kissinger, là vào lúc 8 giờ 53 phút sáng 30-4, để sơ tán 129 lính thủy đánh bộ bảo vệ cuộc di tản ở tòa Đại sứ.

Ông Dương Văn Minh yêu cầu cho xe đón ông Huyền và ông Mẫu. Xe riêng của tổng thống đã đón ông Nguyễn Đình Đầu trước khi qua nhà ông Nguyễn Văn Huyền. Ông Đầu thuật lại, trên đường đi đến số 7 Thống Nhất, ông Huyền có nói với ông Đầu một câu bằng tiếng Pháp “Il faut se rendre”(phải đầu hàng).

Tình hình chiến sự mỗi phút càng nguy ngập. Lúc 8 giờ sáng 30-4, ba ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu không còn lựa chọn nào hơn là đơn phương tuyên bố “bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”. Ông Vũ Văn Mẫu soạn lời tuyên bố mất khoảng một tiếng đồng hồ; 9 giờ ông Minh đọc vào máy ghi âm, và lúc 9 giờ 30 phút lời tuyên bố này được phát đi trên sóng. Những người như ông Võ Văn Kiệt như trút được gánh nặng khi nghe được tuyên bố này phát trên đài Sài Gòn.

Vào khoảnh khắc Bản Tuyên bố bàn giao chính quyền sắp được đọc vào máy ghi âm, trước 9 giờ ngày 30-04-1975, Tướng Vannuxem đến Phủ Thủ tướng gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh nhờ ông Hạnh đưa vào gặp ông Minh, khi đó đang ngồi trong phòng khách với ông Nguyễn Văn Huyền và ông Vũ Văn Mẫu. Vannuxem là thiếu tướng người Pháp đã hồi hưu, thân Mỹ và thân cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Cao Văn Viên. Vannuxem đi ngay vào câu chuyện: “Tôi ở Paris mới đến, trước khi đi có gặp nhiều nhân vật, kể cả đại sứ Trung Cộng”. Rồi Vannuxem yêu cầu ông Minh kéo dài cuộc chiến ít nhất hai mươi bốn tiếng đồng hồ, tuyên bố bỏ
Mỹ đi với Bắc Kinh. Theo ông Vannuxem, làm như vậy Bắc Kinh sẽ gây áp lực với Hà Nội để ngưng chiến tại miền Nam. Ông Minh không đồng ý. Khi Vannuxem về rồi, ông Dương Văn Minh nói: “Mình đã lỡ đi với Mỹ, bây giờ lại bán nước cho Trung Cộng sao”.

Theo kế hoạch thì chính phủ của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu sẽ “ra mắt” vào lúc 10 giờ sáng 30-4-1975, nhưng khi các nhân vật của chính phủ cũ và mới đến số 7 Thống Nhất thì họ nghe được Tuyên bố Bàn giao Chính quyền. Nhiều người trong số họ đã di chuyển sang Dinh Độc Lập không phải để tuyên thệ mà để chờ đợi.

Trong thời gian ấy, Tướng Nguyễn Hữu Hạnh mang Tuyên bố Bàn giao Chính quyền của Tống thống Dương Văn Minh và Chỉ thị buông súng của Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh sang phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Khi Tướng Hạnh trở lại Phủ Thủ tướng thì nơi đây đã hoàn toàn vắng lặng. Ông Hạnh chạy đến nhà ông Dương Văn Minh ở số 3 Trần Quý Cáp thì được biết ông Minh và gia đình đã vào Dinh Độc Lập. Ông Hạnh đến Dinh Độc Lập. Ngoài đường lúc ấy im phắc. Ông Nguyễn Hữu Hạnh vào Dinh bằng cổng chính, cổng Dinh mở, không lính gác.

Trước thềm Dinh, ông Hạnh thấy một xe Jeep và một xe GMC đầy lính vũ trang. Tướng Hạnh hỏi một sỹ quan đeo lon trung úy mới biết Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lôi Hổ phòng thủ Tân Sơn Nhất đang gặp ông Minh ở tầng một Dinh Độc Lập. Tướng Nguyễn Hữu Hạnh định về Bộ Tổng tham mưu, nhưng ông Minh giữ lại. Vừa lúc, điện thoại tại phòng làm việc của Chánh văn phòng Tổng thống reng. Một thiếu tá xin gặp Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Đó là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lôi Hổ phụ trách phòng thủ Bộ Tổng tham mưu.

Viên thiếu tá hỏi: “Chuẩn tướng bảo chúng tôi buông súng là làm sao? Tôi không đầu hàng đâu, tôi đã bắn cháy ba xe tăng”. Tướng Nguyễn Hữu Hạnh giải thích và khuyên: “Thiếu tá không nên để cho máu đổ ở giờ thứ 25”. Viên thiếu tá yêu cầu nói chuyện với Tổng thống, Tướng Hạnh mời ông Minh đến, nhưng câu chuyện chưa xong thì chiếc tăng 843 xuất hiện. Ông Minh nói: “Quân Giải phóng đã vào tới Dinh rồi, thôi cúp”.

Xe tăng 390

Lúc đó là 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975. Trước đó ít phút, khi Tiểu đoàn trưởng Lôi Hổ phòng thủ Tân Sơn Nhất bỏ đi, một dân biểu thuộc lực lượng thứ ba, Trung tá Nguyễn Văn Binh, đã cẩn thận đóng cổng Dinh Độc Lập. Hành động này của Trung tá Nguyễn Văn Binh đã điều chỉnh một chi tiết trong lịch sử: Chiếc tăng 843 đi theo đường Thống Nhất từ Sở Thú tới trước rồi dừng lại trước cổng phụ trong khi xe tăng 390 tới sau, nhưng hùng dũng húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập, cánh cửa cuối cùng của cuộc chiến.

Vào lúc 9 giờ 30 phút sáng 30-4, khi ở phía Tây Sài Gòn, ông Võ Văn Kiệt ra lệnh “giản chính đồ đạc”, ở phía Đông, Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn tăng 203, cũng nghe được tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh qua chiếc radio mà ông luôn đeo bên người. Phía sau ông, Tư lệnh Quân đoàn II, Tướng Nguyễn Hữu An, luôn theo sát đốc chiến. Họ như những người lính xung trận linh cảm được chiến thắng, càng nóng lòng hơn khi có thể “sờ” thấy ở phía trước mục tiêu cuối cùng.

Đêm 29-4, Tướng Nguyễn Hữu An gửi thư cho Lữ đoàn 203. Bức thư được Trung tá Bùi Tùng ghi chú “Nhận lúc 24 giờ ngày 29-4-1975” viết: “Anh Tài và Tùng. Bảy chiếc tăng và một bộ phận bộ binh đã đến cầu xa lộ Biên Hòa gặp bộ phận đặc công của 116 giữ đã hai ngày nay. Tình hình như vậy là thuận lợi do đó phải mạnh dạn tiến lên, đừng để bọn tàn binh lẻ tẻ nó cản trở. Cố gắng đưa toàn bộ đội hình của các anh qua bên Tây cầu đêm nay và độ 3-4 giờ sáng 30-4 là ta xốc được tới Sài Gòn chiếm xong cầu Rạch Chiếc và Tân Cảng đến cầu Sài Gòn. Tôi đã nói anh Ân cho 2d (tiểu đoàn) của E9 tràn về phía cầu xa lộ Biên Hòa. Các anh thi hành khẩn trương và giữ liên lạc với tôi thường xuyên. Mục tiêu vào Sài Gòn là Dinh Tổng thống – Đài Phát thanh, BTL (Bộ Tư lệnh) Hải quân, ngân hàng, phủ đặc ủy trung ương tình báo./An”.

Trước đó, vào lúc 10 giờ ngày 29-4-1975, ngay sau khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội Sài Gòn ngừng di quân, Bộ Chính trị điện: “Gửi anh Sáu, anh Bảy, anh Tư, / Đồng điện anh Tấn,/Bộ Chính trị và Quân uỷ đang họp thì được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị: Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch; tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí toàn bộ quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng. Công bố đặt thành phố Sài Gòn-Gia Định dưới quyền của Uỷ Ban Quân Quản do tướng Trần Văn Trà làm chủ tịch. Sẽ có điện tiếp, nhận được điện trả lời ngay. Ba”25.

Rạng sáng ngày 30-4-1975, những chiếc tăng đầu tiên của Lữ đoàn 203 chạy đến căn cứ Nước Trong, Long Khánh. Lúc bấy giờ, Thiếu úy Lê Văn Phượng, trưởng xe 390, vẫn chưa biết chiếc tăng T59 của mình sẽ đi vào lịch sử. Sống chết vẫn còn gang tấc. Khi cho xe dừng lại định nấu cơm bên một bìa rừng cao su, pháo thủ số hai của tăng 390, Đỗ Cao Trường, bị một toán thủy quân lục chiến núp trong vườn cao su bắn bị thương. Thiếu úy Phượng ra lệnh quay nòng pháo vào vườn cao su, bắn cho tới khi toán thủy quân lục chiến rút hết. Họ để Đỗ Cao Trường ở lại cho du kích rồi bốn anh em lên xe tiến về Sài Gòn. Tới ngã tư Hàng Xanh, những chiếc tăng phải chạy lòng vòng để tìm đường.

Trước đó không lâu, trong một cánh rừng cao su, Trung tướng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ cho Quân đoàn IV: “đánh chiếm mục tiêu quan trọng nhất”. Tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Quân đoàn II, hỏi: “Nếu Quân đoàn II vào trước có được đánh chiếm mục tiêu quan trọng nhất không?”. Tướng Lê Trọng Tấn gật đầu. Ngày 24-4, cũng tại một vườn cao su ở Long Thành, Tướng Nguyễn Hữu An đặt vấn đề với Lữ đoàn 203: “Cậu Tài (Trung tá Nguyễn Tất Tài, lữ trưởng 203) tốt nghiệp ở Liên Xô, cậu Tùng tốt nghiệp Học viện Thiết giáp Trung Quốc, các cậu biết rõ Liên Xô khi kết thúc Thế chiến thứ II đã dùng một sư đoàn tăng để tấn công vào sào huyệt cuối cùng. Tại sao mình có một lữ tăng, mình không vào Dinh Độc Lập?”. Ngay sau đó, trong khi “mũi thọc sâu” của Quân đoàn IV là bộ binh thì Tướng Nguyễn Hữu An đã đưa Lữ tăng lên tiên phong. Xe 390 đi trước nhưng chạy thẳng theo đường Hồng Thập Tự, thay vì đi hướng từ Sở Thú lên như 843, nên khi vào đến Dinh Độc lập lúc 10 giờ 45 phút, đã thấy xe 843 của trung úy Bùi Quang Thận tấp qua bên trái, dừng lại trước cổng phụ. Bùi Quang Thận phất tay ra hiệu cho xe của Lê Văn Phượng tiến lên.

Thiếu úy Lê Văn Phượng ngồi thụp xuống, đậy nắp tháp pháo và lệnh cho xe ủi vào cổng chính. Anh nghe tiếng “rầm” và tiếp đó là âm thanh bánh xích nghiền nát cánh cổng sắt. Biết cổng không có mìn, Lê Văn Phượng mở nắp tháp pháo, đứng nhô lên nửa người, từ xa anh thấy một nữ phóng viên “Tây” ngồi trên thảm cỏ. Nhưng khi xe anh cán lên bãi cỏ thì không thấy chị phóng viên đâu nữa. Hai mươi năm sau, Lê Quang Phượng sẽ gặp lại người phụ nữ ấy, còn lúc bấy giờ thì anh không có thời gian để tìm xem chị ở đâu.

Đến thềm Dinh, anh quay lại, thấy xe 843 vẫn đậu chỗ cũ, nhưng Trung úy Bùi Quang Thận thì đã nhảy xuống, chạy núp theo sau xe 390, tay cầm lá cờ khổ nhỏ, loại cờ được để sẵn rất nhiều ở trên mỗi xe để cứ chiếm được mục tiêu quan trọng nào lại cắm lên. Pháo thủ số 1 của xe 390 cũng cầm cờ định nhảy xuống, nhưng Lê Văn Phượng ra lệnh: “Anh Thận cầm cờ rồi, hãy nạp pháo, chuẩn bị!”. Rồi Lê Văn Phượng giữ lấy khẩu đại liên, yểm trợ. Nhưng từ lúc ấy, họ không còn phải bắn một phát đạn nào.

Khi chiếc tăng 390 đỗ lại, chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn xách AK nhảy xuống, chờ đại đội trưởng Bùi Quang Thận cầm cờ tiến vào. Cả hai chạy lên thềm Dinh trong tư thế được mô tả là sẵn sàng chiến đấu. Bùi Quang Thận nhớ lại là anh đã hơi lo khi thấy bên trong có người mặc quân phục. Có thể vì quá căng thẳng và có thể vì là một người lính nông dân lần đầu đứng trước một tấm kính khổng lồ, Bùi Quang Thận lao vào cửa kính mạnh đến nỗi anh ngã bật ra phía sau trong khi tay vẫn không rời lá cờ. Từ trong Dinh, một người bận đồ dân sự chạy ra, mời vào.

Bùi Quang Thận đứng trước một “Nội các” có lẽ cũng bối rối không kém. Không biết phải làm gì hơn, Bùi Quang Thận đề nghị Vũ Đăng Toàn ở lại “canh chừng”, chờ cấp chỉ huy đến còn mình thì làm nốt “vai trò lịch sử”, cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập. Chỉ huy lực lượng Phòng vệ Phủ Tổng thống, Đại tá Chiêm, được lệnh hướng dẫn Bùi Quang Thận đi thang máy lên nóc Dinh. Cùng đi theo hỗ trợ có sinh viên Nguyễn Hữu Thái (cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn) và Tiến sỹ Huỳnh Văn Tòng [27].

Khi ấy, thang bộ của Dinh chưa sử dụng được vì ngày 8-4-1975 đã bị phi công Nguyễn Thành Trung, một người được Cách Mạng cài vào quân đội Sài Gòn, ném bom làm hỏng. Đại tá Chiêm dẫn ba người đến trước thang máy, loại phương tiện mà đối với Bùi Quang Thận còn lạ hơn những tấm kính khổ rộng rất nhiều. Bùi Quang Thận nhất quyết không vào; về sau anh kể lại: “Lúc đó tôi thấy thang máy giống như… cái hòm, vào đó nhỡ nó nhốt mình luôn, biết bao giờ mới ra được!”. Sau khi nghe Đại tá Chiêm giải thích, Bùi Quang Thận mới chịu dùng thang máy.

Phải mất khá lâu, ba người đi cùng mới giúp Bùi Quang Thận hạ lá cờ ba sọc vàng xuống bởi nó khá lớn và được buộc giây chắc chắn. Bùi Quang Thận kéo lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nửa xanh nửa đỏ có sao vàng ở giữa lên, sau khi viết và ký tên vào: “11g30 ngày 30-4. Thận” [28].

 

Đầu hàng

Khi Bùi Quang Thận được Đại tá Chiêm dẫn lên nóc Dinh, Trung úy Vũ Đăng Toàn ở lại tầng hai. Trung úy Toàn viết: “Tôi dồn toàn bộ nội các Dương Văn Minh vào một chỗ. Dồn xong thì ông Nguyễn Hữu Hạnh mời ông Dương Văn Minh ra chào. Khi ông Minh vừa ra thì anh Phạm Xuân Thệ cùng hai trợ lý đến. Anh Thệ nói: ‘Tôi là đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó Trung đoàn 66′”.

Borries Gallasch, phóng viên tạp chí Tấm Gương của Cộng hòa Liên bang Đức, người châu Âu duy nhất có mặt trong Dinh Độc Lập vào thời điểm đó, tường thuật: “Tay Thệ cầm súng ngắn đã lên đạn, một khẩu K54 của Nga, Thệ rất phấn khích la lớn yêu cầu ông Minh ra đài phát thanh. Nhưng tướng Minh không muốn đi. Ông ta đề nghị rằng bài nói của ông phải được thu âm vào máy thu ở trong Dinh. Họ tranh luận việc đó. Càng lúc càng nhiều người lính Giải phóng chạy vào. Rồi họ bắt đầu tìm máy thu nhưng không có kết quả. Không có một cái máy ghi âm nào trong Dinh cả. Sự hoang mang chấm dứt khi người chỉ huy của quân Giải phóng, Chính ủy Bùi Văn Tùng, xuất hiện”29.

Ở cửa Dinh, Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 đã nghe báo cáo: “Có Tổng thống Ngụy”. Ông Tùng quá mừng: “Vớ được cả tổng thống cơ à!”. Tổng thống Dương Văn Minh thấy ông Tùng, một người cao lớn, bước vào, thì lịch sự chào: “Thưa ông, chúng tôi đợi các ông vào đã lâu rồi để bàn giao chính quyền”.
Ông Bùi Văn Tùng nói: “Các ông là người bại trận. Các ông không có gì để bàn giao cả mà chỉ có đầu hàng vô điều kiện”. Ông Tùng hỏi Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh: “Đường giây liên lạc từ đây qua đài thế nào?”. Ông Hạnh nói: “Hư hết rồi”. Ông Tùng quyết định cho đưa vị tổng thống bị bắt giữ đến đài phát thanh.

Khi xe tăng 390 dừng lại, mọi người xuống hết, Trung sỹ Nguyễn Văn Tập, lái xe 390, cũng định đi vào trong Dinh, nhưng khi nhảy lên bậc thềm ngoảnh lại thấy vắng quá. Anh nghĩ, “nhỡ địch quay lại chiếm mất xe mình thì sao?”, bèn quay lại nhảy vào ghế lái ngồi thò đầu ra ngoài. Chỉ một lúc sau, Trung sỹ Tập thấy “Nội các Ngụy” ra, đi rất hiên ngang. Cùng đi có cả Phạm Xuân Thệ nhưng khi ấy anh Tập chỉ nhận ra thủ trưởng của mình là Chính ủy Bùi Văn Tùng. Trung sỹ Tập có lẽ liên hệ đến bức ảnh của Phan Thoan và lời đề nổi tiếng của Tố Hữu: “O du kích nhỏ dương cao súng / Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu”, nên kêu lên: “Thủ trưởng ơi, thủ trưởng bắt nó phải cúi đầu xuống chứ!” Trung tá Bùi Văn Tùng nói: “Việc ấy là của tớ”.

Chiếc xe Jeep mang biển số 15770 mà Trung đoàn 66 thu được từ chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, do chiến sỹ Đào Ngọc Vận lái, được trưng dụng để chở Tổng thống Dương Văn Minh đi từ Dinh Độc Lập qua đài. Đào Ngọc Vận30 kể: “Tôi thấy Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ dẫn theo hai người đàn ông tiến lại chiếc xe Jeep 15770 mà tôi cầm lái. Trung đoàn phó cùng một người ngồi hàng ghế phía trên, người kia ngồi phía dưới, cùng Trung úy Phùng Bá Đam, Trung úy Nguyễn Khắc Nhu. Hai chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng và Bàng Nguyên Thất ngồi hai bên thành xe. Mãi sau này tôi mới biết người to béo, đeo kính trắng, đi giày đen ngồi ngay bên cạnh mình là Tổng thống Dương Văn Minh, và vị quan chức mặc bộ complet, sơ mi trắng ngồi phía sau là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu”.

Nhà báo Borries Gallasch viết tiếp: “Chỉ có hai chiếc xe của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy – một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi – qua Tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến Đài Phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên đã lấy chân dung của Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và Chính ủy xe tăng Bùi Văn Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh”31.

Trung tá Bùi Văn Tùng nhớ lại: “Tôi với ông Dương Văn Minh ngồi cùng một băng ghế dài. Khi ấy, sau 8-9 đêm mất ngủ, tôi có cảm giác mệt rã người. Nhưng một ý nghĩ chợt thoáng qua, “ổng mà nói linh tinh thì chết”. Mồ hôi tự nhiên toát ra như tắm, người tỉnh hẳn, tôi nói: “Ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”. Tổng thống Dương Văn Minh nói: “Ông muốn gì hãy ghi ra”.

Trung tá Bùi Văn Tùng viết ngắn gọn: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố Chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam”.

Tướng Dương Văn Minh đọc xong, Trung tá Bùi Văn Tùng nói tiếp vào máy ghi âm: “Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn”32.

Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cũng được dành cho ít phút để phát biểu và đây, có lẽ, mới là “chính kiến” của nhóm ông: “Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi – giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng – kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”33.

Ông Võ Văn Kiệt đến Dinh khi nơi này đã được tiếp quản bởi một lực lượng của Quân đoàn IV. Ông là vị trung ương uỷ viên Đảng Lao động Việt Nam đầu tiên đến Dinh Độc Lập. Ông Kiệt nắm thêm tình hình quân sự và nhắc nhở chỉ huy các đơn vị chiếm đóng đối xử tốt với những người trong chính phủ ông Dương Văn Minh, chờ lệnh.

Ông Kiệt là bí thư Đảng ủy Đặc biệt Ủy ban Quân quản, là vị trí thực sự “đứng đầu” ở Thành phố lúc bấy giờ. Tuy nhiên, người công khai xuất hiện trong vai trò đứng đầu tại thời điểm ấy lại là Trần Văn Trà. Ngày 1-5-1975, khi đang ở Sở chỉ huy tiền phương, Thượng tướng Trần Văn Trà được ông Lê Đức Thọ và ông Phạm Hùng thông báo: “Điện anh Ba Lê Duẩn nói Bộ Chính trị quyết định cậu làm chủ tịch Uỷ Ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định. Đi ngay cho kịp”.

Ông Võ Văn Kiệt cho rằng đây là một thay đổi hợp lý. Sài Gòn mới tiếp quản cần một quân nhân đồng thời phải là một quân nhân không quá xa lạ với dân chúng.
Tướng Trà từng là trưởng Phái đoàn Quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp Quân sự Bốn bên thực thi Hiệp định Paris. Năm 1973, ông đã có một thời gian khá lâu ở Sài Gòn, và đã từng được báo chí Sài Gòn nhắc đến.

Ngày 2-5, Tướng Trần Văn Trà mới về đến Dinh Độc Lập. Ông kể34: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, tôi cho thả tất cả những nhân vật trọng yếu của ngụy quyền mà từ hôm giải phóng Sài Gòn, bộ đội ta đã giam giữ họ tại một phòng ở đây. Tôi chỉ gặp những người đứng đầu: Dương Văn Minh, tổng thống, Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống và Vũ Văn Mẫu, thủ tướng ngụy quyền, giải thích cho họ chính sách của cách mạng là quang minh, chính đại, độ lượng, khoan hồng. Tôi đã nhấn mạnh: Tất cả những việc làm đã qua chúng tôi xếp nó vào quá khứ, chúng tôi căn cứ vào thái độ và hành động từ ngày nay trở đi. Tôi mong họ quan niệm được sự thắng lợi vĩ đại của dân tộc vừa rồi mà tự hào rằng mình cũng là người Việt Nam. Có vẻ họ tỏ ra xúc động. Dương Văn Minh đã phát biểu: Tôi vui mừng được là công dân của một nước Việt Nam độc lập”35.

Tuẫn tiết

Với năm cánh quân Giải phóng áp sát Sài Gòn trong sáng 30-4, không ai có thể đủ sức cưỡng lại chiến thắng của quân đội miền Bắc. Tuy nhiên, ‘Việt cộng” chỉ thực sự nắm được miền Tây vào chiều tối 30-4-1975.

Vào thời điểm ấy, không chỉ có sỹ quan chỉ huy hai tiểu đoàn Lôi Hổ xộc vào Dinh Độc Lập chất vấn tổng thống về quyết định buông súng. Từ mấy ngày trước, các sư đoàn không quân còn lại của Việt Nam Cộng hòa đã di chuyển xuống Trà Nóc và các sân bay lân cận. Tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng bay xuống, nhóm họp với các tướng lãnh, các tỉnh trưởng của Vùng IV với sự tham gia của Phó đề đốc Hải quân Hoàng Cơ Minh, người khi ấy đang làm tư lệnh Lực lượng Thủy bộ 211.

Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh bố trí Đoàn 232 của Tướng Lê Đức Anh ở hướng Long An nhằm phòng ngừa khả năng lực lượng của Tướng Nguyễn Khoa Nam từ Cần Thơ lên ứng cứu là có cơ sở. Tuy nhiên, ngay trong đêm 29-4-1975, gần như tất cả lực lượng hải quân đều bỏ trốn.

Theo Thiếu úy Dương Đức Dũng, phóng viên mặt trận của Sư 21 không quân: “Tướng Nguyễn Khoa Nam ra lệnh oanh tạc những kẻ đào ngũ nhưng anh em không quân không chấp hành”. Sáng 30-4-1975 vẫn còn lệnh bay. Máy bay bắt đầu trút hết bom vào đồng trống. Một số phi công nói với Thiếu úy Dũng: “Tụi tao được lệnh di tản sang U-Tapao (Thái Lan), mày có đi thì lên”. Dũng đã ở lại. Bầu trời Cần Thơ từ lúc ấy không một phút yên tĩnh. Đầu tiên là các khu trục A1E, A1H, sau đó là A37 rồi C123. Trực thăng túa lên trời như châu chấu.

Bảy giờ sáng ngày 30-4-1975, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân đoàn IV báo cáo về Bộ Tổng Tham mưu bằng điện thoại: “Tôi bị tấn công mạnh ở ba nơi: Vĩnh Bình, Bạc Liêu và một nơi cách sân bay Trà Nóc ba cây số. Nhưng tôi đã đẩy lùi được cuộc tấn công của Việt Cộng. Tôi sẽ giữ các vị trí còn lại. Các lực lượng Quân đoàn và Quân khu IV, mặc dầu có bị tấn công vài nơi, nhưng vẫn còn nguyên vẹn”36. Phó tướng của Nguyễn Khoa Nam khi đó là Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, người mà năm 1972 đã từng tử thủ ở An Lộc. Từ Bộ Tổng Tham mưu, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhắc Tướng Nam: “Anh cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống”.

Năm giờ 30 phút chiều 30-4-1975, Tướng Lê Văn Hưng rời Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV, về Bộ Chỉ huy phụ. Khi đại diện bộ đội miền Bắc vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV gặp Tướng Nguyễn Khoa Nam yêu cầu “đầu hàng”, Tướng Nam và Tướng Hưng chỉ chấp nhận “bàn giao”. Khi vị đại diện miền Bắc này qua khỏi cầu Cái Răng, Tướng Hưng liên hệ với Tướng Mạch Văn Trường và ra lệnh điều động hai chi đội thiết giáp ra án ngữ cầu Cái Răng và chiếm lại đài phát thanh rồi cho mời Mạch Văn Trường và chỉ huy các đơn vị đóng xung quanh vành đai thị xã Cần Thơ về họp. Sáu giờ 30 phút chiều, khi các vị sĩ quan về tới cổng Bộ Chỉ huy của Tướng Hưng, một nhóm nhân sĩ Cần Thơ đến gặp Tướng Hưng, xin ông đừng phản công để tránh bị “Việt Cộng pháo kích vào thị xã”.

Tại Vĩnh Long, các lực lượng của miền Nam vẫn không thôi kháng cự. Theo ông Phạm Văn Trà37: “Chiều ngày 30-4, sau khi bộ phận trinh sát kỹ thuật của Bộ Tư lệnh tiền phương quân khu bắt được sóng đài của địch, anh Ba Trung đã sử dụng điện đài tuyên bố với viên tỉnh trưởng Vĩnh Long rằng tính mạng của y đã nằm trong tay quân Giải phóng. Nếu đầu hàng, cách mạng sẽ khoan hồng, tha thứ lỗi lầm trước đây, tính mạng, tài sản của bản thân và gia đình, vợ con được bảo toàn; bằng không, y sẽ phải đền tội và vợ con, gia đình cũng khó bề bảo toàn tính mạng, mặc dù Cách mạng không muốn điều đó. Sau 30 phút suy tính, vào lúc 17 giờ ngày 30-4, tỉnh trưởng Vĩnh Long chấp nhận đầu hàng và xin anh Ba Trung giữ lời hứa bảo toàn tính mạng”38.

Chiều 30-4-1975, tại căn cứ Đồng Tâm, Chuẩn tướng Trần Văn Hai, tư lệnh Sư đoàn 7 tự tử bằng thuốc độc39.

Sáu giờ 45 phút chiều, hai vị tướng chỉ huy lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa ở miền Tây vẫn trao đổi điện thoại với nhau. Tướng Nam cho đến lúc ấy vẫn định phát lời kêu gọi dân chúng Cần Thơ, nhưng cả hai đều biết là quá trễ. Theo Đại tướng Văn Tiến Dũng: “Do sức ép của ta ngày càng mạnh, các Trung đoàn 31, 32, 33 ngụy cùng phần lớn các cơ quan chỉ huy sư đoàn ngụy đã tự động vứt bỏ vũ khí, cởi bỏ áo lính trở về nhà. Chỉ còn một số sĩ quan ngụy cao cấp ở lại để xin đầu hàng ta vào lúc 20 giờ cùng ngày”40.

Bảy giờ 30 phút tối 30-4-1975, Tướng Lê Văn Hưng về phòng nói lời từ biệt với thuộc cấp và vợ con. Tám giờ 45 phút, từ dưới nhà, vợ ông, bà Phạm Thị Kim Hoàng, nghe tiếng súng, chạy lên. Khi cùng người nhà cạy cửa phòng, bà Hoàng thấy Tướng Hưng đã chết với một phát súng tự bắn vào đầu. Mười một giờ đêm hôm đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam gọi điện thoại cho bà Hoàng chia buồn. Sáng hôm sau, khoảng 7 giờ 30 phút ngày 1-5-1975, Tư lệnh Quân đoàn IV, Quân đoàn cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát.

Trước đó, như một hành động nhận lãnh trách nhiệm của mình, ngày 29-4-1975, Tư lệnh Quân đoàn II, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, người đảm trách cuộc triệt thoái thất bại khỏi ba tỉnh Cao Nguyên, đã tự tử bằng một liều thuốc độc; gia đình đã đưa vào bệnh viện Grall, nhưng đến trưa 30-4-1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì tắt thở.

Cũng trưa 30-4, tại Lai Khê, Tướng Lê Nguyên Vỹ tự sát tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 sau khi cho binh lính rã ngũ. Vào lúc 2 giờ chiều ngày 30-04-1975, Ðại tá Đặng Sĩ Vinh cùng gia đình gồm vợ và bảy người con đã tự tử bằng súng lục.

Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.

Huy Đức

About these ads

116 comments on “Bên Thắng Cuộc: PHẦN I : MIỀN NAM / CHƯƠNG I : BA MƯƠI THÁNG TƯ (Huy Đức)

  1. Cảnh báo :TRUNG QUỐC ĐỘT NGỘT TÍCH TRỮ GẠO, SỮA BỘT, VÀNG VÀ SẮT THÉP NHẰM CHUẨN BỊ CHIẾN TRANH ?
    http://chauxuannguyenblog.wordpress.com/2013/01/13/trung-quoc-dot-ngot-tich-tru-gao-sua-bot-vang-va-sat-thep-nham-chuan-bi-chien-tranh/

    Các bạn cũng nên tự chuẩn bị, nữa đêm bật dậy sẽ không kịp :
    “…Tại quốc nội : các bạn có thể tìm, rẻ tiền nhưng đầy hiệu nghiệm

    LINAVINA của Cty Cổ Phần dược phẩm Mekophar
    tham khảo hình dạng công dụng ở đây :
    http://eshop.chothuoc24h.com/cong-ty…20-%20Mekophar
    ( Giá chỉ xê xích 25-27.000 VNĐ 1 lọ 80 viên. Chú ý rằng cũng có sản phẩm cùng chức năng của các hãng dược khác, 0 nhất thiết y hệt sản phẩm trên)
    Giả dụ trong trường hợp xấu nhất, vì lý do nào đó, các bạn bị thiếu lương thực, thì nó tạm thời có thể thay thế 6 viên~2 bữa ăn hàng ngày
    ( Quả thật 1 tỉ lệ tương đương thật ấn tượng mà tôi đã tự thí nghiệm trên chính mình )

    Chúc các bạn và gia đình mọi an lành may mắn và hạnh phúc !!!

    bussoni128 thân kính !
    (#339 .http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?t=4582&page=34)
    Dự trử nước các bạn xem phía trên.

    “ĐẾN KHI NGỘ BIẾN ĐÀNG TRONG GIỬ MÌNH”
    Chú thích Đàng trong : Miền nam

  2. Chuyện dự trữ thực phẩm trong gia đình là điều không thừa…….!nhất là trong giai đoạn này !Chưa biết “tranh tối tranh sáng” lúc nào….!Và khi có biến thì chỉ có dân nghèo là lãnh đủ!!!!!!!Cho nên tốt nhất chúng ta cũng phải dự trữ thêm LINAVINA rất tốt…..Đúng như bussoni128 nói.

  3. Tiêu đề Topic này là “Bên Thắng Cuộc: PHẦN I : MIỀN NAM / CHƯƠNG I : BA MƯƠI THÁNG TƯ” (0 có ghi năm)

    Bạn có thể thấy điều gì ? Và tại sao tôi chọn ?

  4. Sẽ có thanh tra thuộc Kiểm toán Nhà nước

    Thứ Hai, 14/01/2013 23:16

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã khai mạc phiên họp thứ 14 vào ngày 14-1, với việc cho ý kiến về 2 dự án Luật Giáo dục quốc phòng, an ninh và Luật Phòng chống khủng bố; đồng thời cho ý kiến đối với nghị định về hoạt động mỹ thuật, nghị định quy định công nhận ngày truyền thống, ngày kỷ niệm và ngày hưởng ứng của Việt Nam.

    Phiên họp kéo dài đến hết ngày 16-1 với các nội dung chính còn lại, gồm: thông qua nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn; cho ý kiến về các dự án luật: Luật Phòng, tránh giảm nhẹ thiên tai; Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi), Luật Đất đai sửa đổi; cho ý kiến về việc thành lập Thanh tra Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Kiểm toán Nhà nước.

    P.Anh[Quay lại]

    Có 1 ý kiến

    4 Nỗ

    15/01/2013 10:49

    Nếu có đi thanh tra thì xin đừng có báo trước nghe, cứ âm thầm mà đi chứ đừng có đi rầm rộ .
    http://nld.com.vn/20130114110912665p0c1002/se-co-thanh-tra-thuoc-kiem-toan-nha-nuoc.htm

  5. Bản lĩnh trong chống tiêu cực, tham nhũng
    19:22:14 01/11/2012
    Thiếu Tướng Phạm Văn Thạch
    Sự liên kết giữa các ngành, các cấp để bảo vệ cho những người chống tiêu cực, tham nhũng là rất quan trọng. Có thể nói đó là chỗ dựa vững chắc. Tôi nghĩ rằng tạo nên được bản lĩnh một cách vững chắc thì công tác đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng nhất định sẽ có chuyển biến mạnh.
    Trong các phiên họp của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII đang diễn ra vấn đề tiếp tục đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng được công luận quan tâm nhiều, bởi không chỉ tiêu cực tham nhũng ở nước ta được coi là đến mức báo động đỏ mà chính là hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa còn thấp, còn xa so với kỳ vọng của người dân. Thấp ở đây thể hiện ở cả hai khâu: Phát hiện và xử lý. Vì sao lại có tình trạng này?

    Ngay trong các phiên họp, nhiều đại biểu Quốc hội đã nói đây là công tác rất phức tạp vì đụng đến những cán bộ phần lớn còn đương chức, họ tìm nhiều cách che chắn. Một số thì cho rằng đội ngũ cán bộ làm công tác này vừa yếu vừa thiếu, điều kiện cơ sở vật chất chưa được đảm bảo, cơ chế chính sách có chỗ chưa phù hợp… Không ai nói những lí do ấy là không đúng nhưng dẫu sao đó cũng là “bài ca muôn thuở”.

    Thực tế tiêu cực tham nhũng tuy nói là tinh vi nhưng nhìn bề ngoài thì rất dễ nhận ra. Kinh tế gia đình giàu lên một cách trông thấy, nhà nọ xe kia, con cháu đi du học nước ngoài… chỉ ít lâu sau khi người nhà được ngồi vào cái ghế mà nhiều người cần nhờ vả. Mặt khác đội ngũ cán bộ làm công tác này đâu phải đến nỗi quá mỏng, điều kiện làm việc đâu đến nỗi quá thiếu. Ở đây có một vấn đề mà chưa có nhiều người đề cập đến, chưa dám nhìn thẳng, đó là chúng ta đang thiếu đi một bản lĩnh cần thiết cho công tác này, mặc dầu trong nhiều nghị quyết của Trung ương đã kiên quyết tuyên chiến với loại “giặc nội xâm” này.

    Trước đây trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, bản lĩnh chiến đấu, bản lĩnh của anh bộ đội Cụ Hồ luôn là một điều được giáo dục tuyên truyền mạnh mẽ từ đó trở thành niềm vinh dự và tự hào. Trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay điều này là rất cần thiết. Chúng ta phải tiếp tục làm tốt việc giáo dục này nhất định quần chúng sẽ đồng tình ủng hộ. Lãnh đạo các cấp phải là người đi đầu trong việc đề cao bản lĩnh để tạo nên sức mạnh từ quần chúng. Nhìn chung chúng ta chưa thường xuyên làm tốt việc này, thậm chí có nơi chưa làm đã ngại khó, muốn được yên thân. Những biểu hiện tư tưởng đó chính là nguyên nhân triệt tiêu bản lĩnh tốt đẹp trong mỗi cá nhân.

    Cần nêu cao học tập bản lĩnh của người xưa về chống tham nhũng, tiêu cực, đó là những bản lĩnh tiêu biểu quyết chiến đấu hy sinh đến cùng vì công lý cao đẹp. Bản lĩnh phải trở thành sức mạnh và ý chí của nhân dân. Muốn vậy phải khơi dậy và nuôi dưỡng được ý thức và nhiệt tình của đông đảo và phải tạo ra được hàng rào vững chắc bảo vệ cho những bản lĩnh đó. Cũng có người cho rằng hiện nay không ít người có bản lĩnh chống tham nhũng, nhưng tường rào bảo vệ để đi đến cùng của cuộc chiến trong mỗi vụ việc cụ thể thì còn yếu. Có nơi người tích cực đấu tranh bị phản công trở lại thì sự bảo vệ đó chưa tương xứng, thậm chí có trường hợp lâm vào cảnh “lên bờ xuống ruộng”.

    Để cho những hiện tượng đó xảy ra là trách nhiệm của chúng ta, phải thấy thực sự đau lòng. Sự liên kết giữa các ngành, các cấp để bảo vệ cho những người chống tiêu cực, tham nhũng là rất quan trọng. Có thể nói đó là chỗ dựa vững chắc. Tôi nghĩ rằng tạo nên được bản lĩnh một cách vững chắc thì công tác đấu tranh chống tiêu cực tham nhũng nhất định sẽ có chuyển biến mạnh. Vừa qua theo tinh thần NQTƯ4 (khóa XI) thì nơi nào để xảy ra tham nhũng, tiêu cực thì thủ trưởng nơi đó phải chịu trách nhiệm. Để không rơi vào tình trạng “phải chịu trách nhiệm” ấy thiết nghĩ lãnh đạo các cấp cần coi việc xây dựng bản lĩnh chống tiêu cực tham nhũng là yếu tố đóng phần quyết định

    P.V.T.
    http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2012/11/184237.cand

  6. “Mỹ-Lan says:
    January 13, 2013 at 4:58 pm
    Sinhviên nên hỏi Lão Móc rành lý-lịch của 2 lãnh-tụ cấp cao của đảng Việt-Tân. Carina họ Hoàng (cháu của Hoàng Cơ-Minh đã bị bọn Việt-cộng giết ở biên-giới Miên và Thái-Lan) đang làm ăn bạc chục triệu đô-la với bọn tà-quyền Việt-cộng tại Việt-Nam. Carina Hoàng Oanh là tác-giả cuốn truyện “The boat people” (Thuyền-nhân) được viết bằng tiếng Anh. Nàng Oanh xồn này đang cùng Nguyễn Xuân-Châu cùng ở Australia về làm ăn lớn với bọn tà-quyền Việt-cộng.”
    Anh Châu có ý kiến gì về lời bình phẩm này? Thật lòng tôi rất tin tưởng và ngưỡng mộ anh

      • Anh Châu thân….
        Xem ra cả @Lão Móc cũng đã “nhìn ngộ nhận,nghi kỵ anh vì cộng tác với Kami”….Đặc biệt là có NQD trong K.8406 !Anh xem lại và bớt chút thì giờ để GÓP Ý với họ….Đôi khi mình không muốn nhưng họ lại khơi đậy niềm u ẩn?Vì trang HNSG rất nhiều đọc giả vào…..nên sẽ không tốt cho anh.(Vì hiểu lầm!?)
        Xin trích:
        LÃO MÓC says:
        January 15, 2013 at 10:44 am
        Cháu Mỹ Lan nói sai rồi. Chuyện tranh luận để tìm ra sự thật thì có dính líu gì tới giới tính. Không cần tranh luận với ông NXC này là đúng, vì trong cả trả lời của ông ta đã chứng tỏ ông ta có cơ sở làm ăn ở VN. Theo tôi biết, ông này trước đây có làm trang Tin Tức Hàng Ngày với tên CAM Kami Ajinomoto. Tên CAM này có trang blog trên đài RFA. Mới đây, thấy ông ta với ông Nguyễn Quang Duy tự xưng là đại diện Khối 8406 ở bên Úc và trả lời về ông Nguyễn Chính Kết thì thấy tội nghiệp cho sự hy sinh của LM Nguyễn Văn Lý lắm. Ông Nguyễn Quang Duy này là người đã viết bài kêu gọi mọi người nên đọc quyển Bên Thắng
        Cuộc của thằng VC Huy Đức. Vài hàng xin góp ý với cháu Mỹ Lan và bạn đọc HNSG2015.(hết trích)
        http://www.hennhausaigon2015.com/2013/01/12/32284/#comment-22798
        Chúc anh Toại Nguyện!

    • @ong ruồi,
      Kiếm ko ra, bạn copy link gửi cho tôi dùm để tôi chỉ bấm đúng bài, tôi ko có nhiều thời giờ để tìm, bạn chỉ cần bấm 1 phút chứ làm gì phải đày đọa tôi như thế, tôi bỏ thời giờ viết bài, ghi chú đầy đủ cho bạn đọc tôi có màng đâu, sao bạn ích kỷ thế ?????????????????????
      Châu Xuân Nguyễn

      • Theo như tôi biết Mỹ Lan này không có ý nói anh Châu về VN ……mà “Oanh xồn”này cùng ở Australia với anh Châu đấy…vì tối nghĩa nên “chủ từ bị hiểu lộn”
        (Nàng Oanh xồn này đang cùng Nguyễn Xuân-Châu cùng ở Australia về làm ăn lớn với bọn tà-quyền Việt-cộng.)
        Do đó bạn @ong ruồi mới hiểu lầm?
        Bài: Từ Bản Án “Bến Tre” Đến Bản Án “Nghệ An” – Đảng Việt Tân: “Bọn mày là ai?” http://www.hennhausaigon2015.com/2013/01/12/32284/

      • he he!! vậy là Australia chỉ có một mình CXN ở thôi ?? Hay là nói đến australia la nhớ đến CXN, ko ngờ mình “nổi tiếng” như thế, tôi vào đó comment đính chính rồi,
        Thanx,
        Anh Châu

      • Anh đừng bận tâm những chuyện như vậy!Tôi biết tâm anh sáng qua những việc làm,còn chuyện thành kiến của một nhóm người soi mói,nên bỏ qua.Mục tiêu của mình còn ở phía trước..Cá nhân tôi,tôi rất thích trang hẹn nhau Sài gòn vì mục đích của họ rất cụ thể,nhưng không phải ai ở trang nầy nói,mình cũng cho là phải.Thôi vậy đi anh Châu ơi!

    • ok, dốt internet thì viết ra như thế này phải dc hay ko, nên nghĩ về người khác hơn là nghĩ về mình, phải nghĩ rằng một lời trả lời không đầy đủ làm người ta mất rất nhiều thời giờ tìm. Bạn để ý thấy tất cả bài viết tôi đều cho link, trong comment ai hỏi gì tôi đều bỏ thời giờ (mặc dầu tôi rất rất bận) giải thích cặn kẻ, link đầy đủ, khi người ta đọc người ta thỏa mản.
      Đó cũng là cách lịch sự chu đáo chăm sóc cho người dân của tôi,
      Thân ái,
      CXN
      Cám ơn bạn nhe

    • Ong ruồi ơi, để tôi giải thích cho ongruoi nghe nhe, khi lúc đầu, ong ruồi chỉ nói vào trang hennhausaigon thì nó có hàng trăm bài, dĩ nhiên là tôi theo lời bạn nói vào trang Huy Đức như song tra nói, ko tìm dc comment đó (mục đích tôi là tìm comment đó để phản hồi), tìm trở ngược mấy bài cũng ko thấy bài nào có nội dung tương tự, vì comment thường rất khác nội dung bài, quá nhiều bài ko thể tìm dc nên tôi hơi giận, nếu bạn suy nghĩ, cho chi tiết cẩn thận là vào trang hennhausaigon, vào bài ..từ bản án Nghệ An….là tôi tìm dc ngay mà ko cần phải link. Điều sơ sót này của bạn thì NV của tôi hồi đó tôi cũng phải chỉ họ, bỏ tí thời gian mà ng khác ko phải mất rất nhiều thời gian…bạn thấy tôi hành xử là luôn luôn tạo dễ dãi cho ng khác, đặt tôi vào vai người khác, tìm sao ra v.v..Nếu tôi về VN làm TT, tôi phải có rất nhiều chiến dịch để hướng dẫn dân VN sống văn minh, nhiều lắm bạn ah, như người ta bán đồ thiu cho khách chỉ vì sợ mất lỗ 2000 đồng, nhưng khách đem về ăn, họ đau bụng, nghĩ việc mất của họ 100 ngàn dễ dàng…tôi có nhiều việc phải làm lắm nếu tôi nhận lãnh vai trò Thủ Tướng.
      Tôi ko giận bạn đâu.
      Thân ái,
      Anh Châu

  7. 24 giờ của TT obama (VíDụ) khác với 24 giờ của anh vé số.
    Anh Châu 0 nên để thời giờ bị chi phối,, chuyện này 0 đáng Anh Châu à .!
    ( thử tưởng tượng có 1 tỉ việc tương tự,? đúng không anh ? )
    Thân mến !

  8. THỬ TỔNG HỢP

    MỘT KỊCH BẢN GIẢ ĐỊNH “HUÊ DUNG ĐẠO Ver 2.0 ”
    A. Đ. kiện cần
    - Tàu chiến trá hình tàu dân sự OK
    - Qui định CS biển lên tàu lục soát OK
    - Triển khai tàu chiến khắp biển đông + Quân đồn trú Hải nam Hoàng sa ( CN gọi Tam sa )sẳn sàng để tiếp vận đổ bộ. OK (*)
    - Nội gián trên Đảo Thái Bình (Đảo Ba Bình) bọn Tàu con sẳn sàng giả bộ thua vì bị Tàu Mẹ đánh úp bất ngờ và nhường sử dung sân bay 2km, các bệ phóng hỏa tiễn, cảng cá rộng lớn…Biển là sự nghiệp chung của cả Tàu mẹ+ con) (**) OK

    –> Điều kiện cần để đánh chiếm toàn bộ Trường Sa OK –> Làm bàn đạp Tấn công cận chiến Malaca. (1)–> Tuyến hàng hải Biển Đông bị đe dọa, Nhật Hàn Úc Indo …lâm nguy,

    B. Đ. kiện đủ: Để chắc chắn cho hạm đội viễn chinh T.Sa không hết pin ( hoặc chết đói , nếu bị cắt đường biển bằng nhát dao Cam Ranh- Subic) Malaca bị hai gọng kìm (***)
    -Từ sông mekong xuôi dòng, thẳng xuống biển, hoặc qua Thái đổ 1 cánh quân xuống ( Tàu-Vịt hợp tác toàn diện, Địa-chính trị sông Mê Kông #127 Thu_DCSamTT.rar.pdf )
    - Từ T,sa các đảo ( Tàu-Đài hợp tác toàn diện )
    - hỏa lực từ Tây nguyên , đất liền VN hổ trợ “Tiền pháo hậu xung”. Vậy là muốn chắc ăn Chiếm và giử được biển, phong tỏa tuyến hàng hải qua Malaca thì buộc phải khống chế được ít ra cũng toàn dảy duyên hải VN , được cả đất liền thì càng tốt !

    Đ.kiện cần & Đủ hội tụ thì Nước xa (Us) liệu có kịp cứu lửa gần ? Hãy quan sát Mỹ tăng cường tàu nổi tàu ngầm + T,bị tối tân hiện đại cho Nhật Hàn ( rada X band, lá chắn tên lửa, X-47B )và hoạt động nhộn nhịp của Nhật gần đây là rõ nhưng TẠM GÁC QUA MỘT BÊN CHUYỆN người ta MỸ NHẬT ẤN ÚC

    Biển đông chưa lúc nào nhộn nhịp sôi sục như trước Xích Bích trận như vầy ! Sau Xích bích là Huê Dung Đạo ! (tiểu lộ, và có thể Huê Dung Đạo có mặt đâu đó trong bài này)

    (*) Sở hữu máy bay vận tải hạng nặng Y-20 có ý nghĩa gì với Trung Quốc?
    http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/So-huu-may-bay-van-tai-hang-nang-Y20-co-y-nghia-gi-voi-Trung-Quoc/268063.gd
    Chiến hạm Trung Quốc tiến sát đảo Thị Tứ – Trường Sa
    http://chauxuannguyenblog.wordpress.com/2013/01/11/chien-ham-trung-quoc-tien-sat-dao-thi-tu-truong-sa/
    (**) Kế hoạch trá bại thất thủ hoàn hảo :
    Ba bình xa quá tiếp viện khó. Không quân Đài Loan chỉ chống cự được 2 ngày nếu xảy ra chiến tranh?
    http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Khong-quan-Dai-Loan-chi-chong-cu-duoc-2-ngay-neu-xay-ra-chien-tranh/219541.gd
    Mã Anh Cửu “hùa theo” Trung Quốc khuấy căng thẳng Biển Đông, Hoa Đông
    http://chauxuannguyenblog.wordpress.com/2013/01/14/ma-anh-cuu-hua-theo-trung-quoc-khuay-cang-thang-bien-dong-hoa-dong/
    Trung+Đài luôn hợp tác toàn diện . Senkaku là minh chứng rõ rệt gần đây nhất
    (***) Vì vậy tranh thủ Cam ranh tuy âm thầm nhưng quyết liệt, TQ sợ nhất nhát dao Cam Ranh-Subic, bị tuyệt đường tiếp vận thì cả hạm đội lẫn toàn quần đảo T.Sa trơ ra làm bia hứng đạn thành LÀNG NƯỚNG. ( hình mẫu tàm tạm làng nướng #242 Thu_DCSamTT.rar.pdf )

  9. TRÊ CÓC , VIẾT TIẾP HỒI KẾT
    Nhớ lại cái hẹn với nhau tại các post ( #231, Thu_DCSamTT.rar.pdf “A long long time ago..” http://phiem-dam.com/trecoc.htm , và #264, Thu_DCSamTT.rar.pdf, 1 Câu hỏi trưng cầu gợi ý bạn trước khi ngưng: Câu “chuyện Trê cóc” là sao ? Chú ý: dân gian ” Con cóc là cậu ông trời…” )
    Vậy nên, sau khi đã tạm dạo ngang các dữ kiện:

    Đảng CSVN phiên bản của tình báo TQ (Kỳ 1)
    http://tudo4vn.wordpress.com/2013/01/07/dang-csvn-phien-ban-cua-tinh-bao-tq-ky-1/
    Đảng CSVN phiên bản của tình báo TQ (Kỳ 2)
    http://chauxuannguyenblog.wordpress.com/2013/01/13/dang-csvn-phien-ban-cua-tinh-bao-tq-ky-2/
    Đảng CSVN phiên bản của tình báo TQ (Kỳ 3)
    https://chauxuannguyenblog.wordpress.com/2013/01/18/dang-csvn-phien-ban-cua-tinh-bao-tq-ky-3/

    Ở đoạn gần chót bầy nòng nọc đủ đuôi khiến thiên hạ nhầm tưởng là cá trê, dung dưỡng chúng tung tăng quậy phá, rồi chuyện phải đến nó tất yếu sẽ đến.
    Tất nhiên, sự thật vẫn là sự thật, cây kim trong bọc khéo dấu kiểu gì rồi cũng lòi chành, cả bầy rụng đuôi hiện nguyên hình là bầy cóc lổn nhổn nhảy lên bờ ( tìm về quê hương của chúng)
    Như bọn Tàu phù cấy giống từ rừng rú Pắc bó đội lốt Việt, đúng ngày giờ thiên định VN hết nghiệp chướng phải trả , chúng hiện nguyên hình đám Tàu chảy Tàu con trước mắt Dân Việt .
    Chính cái cảm giác chỉ là 1 thiểu số ăn hại đái nát, là thủ phạm của mọi nguồn cơn gây ra bao tội ác đau khổ cho Dân Việt …, nay đứng giữa 1 biển trùng trùng điệp điệp người Dân Việt Nam uất hận, căm thù, là nạn nhân trực tiếp của chúng , cảm giác không thể toàn mạng xen lẫn oán trách quan thầy Tàu cộng của chúng cố tình tiết lộ các thông tin bí mật kiểu “Vắt chanh bỏ vỏ”, quyết triệt hết đường sống của chúng để dồn chúng vào cái thế mạnh thằng nào thằng nấy ( với hy vọng mong manh cố vớt vát lấy lòng quan thầy để tìm một đường trốn chạy cho riêng mình) sẳn sàng làm bất cứ chuyện gì dù tày trời hèn mọn nhất, như có thể thấy rất rõ qua phát biểu & hành vi của mấy quan chức CS pắc Bó trong những ngày gần đây;( thằng chưa có dịp thì ganh tị với thằng đã có “dịp may” phát biểu )
    Và lại càng lộ cái dã tâm cướp nước hiểm độc của bọn Tàu Ô triệt để lợi dụng lần cuối trước khi vứt bỏ cái vỏ chanh đã hết sạch nước- hết giá trị lợi dung, qua cái màn kịch ” hợp tác toàn diện” để chiếm trọn Biển Đông bằng các hành vi ngang ngược gần đây mà quốc tế nhìn vào hiểu ngay chuyện gì , trong khi đồng bào quốc nội giờ này vẫn còn nhiều người hãy còn miên man ngờ ngợ lơ mơ về chúng lắm ( trong nhà chưa tõ, ngoài ngõ đã hay)…
    Ha ha ha, cứ quan sát đi là đọc được trong tim gan óc Tàu hủ Tàu phù của chúng đang thất kinh hoảng vía cái gì, mỗi ngày trôi qua là một cực hình mất ăn mất ngủ, là gánh nặng đày đọa thêm một ngày…Cơn ác mộng sụp đổ tan xác không ai biết rõ hơn chúng ! Nay đã vạch ruột gan chúng ra cho đồng bào thưởng thức rồi đấy !!!
    Tại sao lại là con cóc ? Thời đại của cóc ( bò sát nói chung) trước thời đại xuất hiện con người trên trái đất rất lâu, khi con người hình thành được tín ngưởng thô sơ đầu tiên, nhận thức tâm linh sơ khai về tạo hóa trời đất của con người lúc đó có lẻ cũng đã nhận thức được về những giống loài nguy hiểm khác đe dọa sự sinh tồn của con người ( với việc truyền đạt khéo léo ngấm ngầm ) ” Con cóc là CẬU ông trời” cho thấy “ông trời” sáng tạo TG con người có lẻ còn nhỏ tuổi đời hơn cả ÔNG CẬU này nữa, coi chừng Ông cậu nghiến răng là mưa gió lủ lụt tràn ngập chết người, Ông Cậu xịt nọc thì ngoài da gây chấn thương lở lói, mà vào ruột thì chết không kịp ngáp đấy ! Con cháu đời sau phải luôn đề phòng không được rời mắt….

    ]Cuối cùng Ông Cậu cũng có thể gửi “Gián Điệp” để thôn tính nữa mới càng ly kỳ hồi kết !!!. Ha ha ha….ah…ah

    P/S : Cóc (bò sát nói chung) = Draco #268, Thu_DCSamTT.rar.pdf , Atlantis VS Lemuria ( Ác chiến kinh hoàng ). Bò sát thời ấy có kích cở không nhỏ và thời nay trí tuệ của chúng cũng đừng nên xem thường

  10. Toàn thể nhân dân việt nam khong ai thắng mà chỉ có bọn tội phạm ngu xuẩn làm tay sai cho giặc tàu và bọn giặc tàu thắng thôi ,chúng thắng là bởi âm mưu của chúng đả thành công ,chúng đả lừa dối được nhân dân hai miền nam bắc,xúi giục nhân dân cả hai miền chém giết lẫn nhau để bọn trung cộng làm ngư ông đắc lợi đó là điều rỏ ràng .Đối với bọn giặc tàu khi chiến lợi phẩm của chúng là quần đảo Hoàng sa của vnch

  11. Các bạn thân mến!
    Trong bao lần non sông Việt Nam thân yêu đứng trước họa xâm lăng phương Bắc. Ngoài lòng yêu nước nồng nàn chan hòa từ trên vị thống soái xuống dưới toàn quân-dân, Tổ tiên ta đã để lại những trang sử oai hùng…Nhưng trong đó, ắt hẫn chúng ta vẫn có thắc mắc : Tay không/vũ khí gì để đánh giặc ? ( vì giặc luôn xâm lăng trong tư thế vỗ ngực là ” thiên triều” một nước cường thịnh hùng mạnh, thì ắt hẳn đoàn quân đó không đứng từ xa mà chọi đá, cũng như quơ đại mấy khúc gỗ rồi phang….Vậy nếu hình dung ra quân giặc trang bị gì, thì suy nghĩ tự nhiên của chúng ta ắt sẽ thắc mắc quân đội ta võ trang ra sao, đối phó thế nào…)
    Tổ tiên với tay không hay vũ khí gì để đánh giặc ?… là câu hỏi mà các sách sử thường ít khi đề cập. Để giải tỏa phần nào nổi thắc mắc này , bussoni128 xin gửi sưu tập từ mạng làm

    Quà tặng các bạn quan tâm Kỹ thuật Quân Sự của Tổ tiên ta, riêng tặng b.Cây Tre, ST, OR, GHGX…cùng các bạn thân mến khác nữa tại blog này… làm kỷ niệm những ngày cùng thi đấu trong đội banh trên sân của HLV CXN ! (Hi hi hi),; Nào bây giờ mời các bạn

    Kỹ Thuật Quân Sự Đại Việt.
    KyThuatQuanSuDaiViet.pdf
    http://www.mediafire.com/?24fsbka6cyjtf43

    • Cám ơn Bạn hiền….phiên bản mới nhất ?hay còn v2 vậy? Mình nhớ không lầm bây giờ là v3.1 rồi thì phải…?Thân

    • Bạn Bus.128 thân kính! Đừng lo, ĐCS chỉ giả bộ nhún nường trước đàn anh TC thôi, chứ trong chiến tranh với Mỹ thì người phụ nữ cũng biết dùng đòn gánh để kéo đuôi máy bay lại, rồi em bé chỉ dùng lọ dầu làm cay mắt thằng Mỹ để cướp súng nó đấy thôi. TTg 3D chỉ ho vài tiếng quân đội và toàn bộ khí tài của chúng sẽ làm mồi cho cá mập ở biển Đông thôi mà.
      Cách đây không lâu, tôi có dịp ngồi tranh luận với 1 đảng viên CS về việc biểu tình chống TQ là sai trái, là bị thế lực thù địch lợi dụng. Sau cùng tôi hỏi anh ta rằng các dũng tướng từ thời “Triệu, Đinh, Lý, Trần . . .” nếu sống lại cũng không được phép biểu tình chống giặc sao, chiếu theo luật pháp hiện hành thì họ cũng bị bắt nhốt hết sao. Còn nữa, chế độ ta, đảng ta sao lắm thế lực thù địch thế: 87 triệu dân VN đều nói khác ý đảng, đại đa số các nước đều nói nước ta không có nhân quyền. Vậy họ cũng là thế lực thù địch sao? Cả cộng đồng nhân loại là thù địch của Đảng ta. Nếu đảo vế câu nói thì Đảng ta là thù địch của nhân loại. Anh đã bao giờ đảo vế câu nói thế này chưa nhỉ?
      Đến đây thì anh Bus.128 đã biết câu trả lời của anh đảng viên kia rồi đấy. Cuộc chiến 1-0 nghiêng về OR. Thân chào!

  12. Ho ho ho, Sảng khoái nhẹ nhàng ! Cám ơn b.OR về cái thâm thúy sâu lắng trong câu chuyện bạn vừa kể. Quả thật, đảo mệnh đề không sai, nhưng hiệu ứng thì 0 thể tưởng tượng đến vậy. Thân mến ! b.128

  13. Quẻ năm qua, dự đồ năm nay.
    Lời phi lộ :
    Đây không là bói toán nhảm nhí vì đối tượng 0 là một ai cụ thể để mà mưu lợi sinh kế như các vị Thầy đồng, bà cốt…ngoài đời, đây là kiểu “Thiên văn- kỷ hà học” cổ điển, một bộ môn từ rất xa xưa trong Diệc học( Việt?) của phương Đông, là phương mà bí ẩn “Phục Sinh-Easter” chọn làm nơi gửi gắm…đồ cổ, nên ngôn từ hành văn cổ ngữ, khô khan tối nghĩa rối rắm cũng là thường tình. Hy vọng một ngày không xa các nhà khoa học hiện đại sẽ cùng góp phần soi rọi khai phá nó.
    (Quẻ hay còn gọi là “Quái” trong Diệc Học – nôm na là trong Kinh Dịch)

    Bài viết này đòi hỏi bạn đọc vận dụng tối đa “cái trời phú+tự rèn luyện” tức là Trí tuệ.
    Đòi hỏi thứ 2 : Suy nghiệm trong lúc Tâm thanh thản, 0 buồn bực/hưng phấn, không có tâm trạng lo âu, giận ghét…
    Nó được trình bày một cách tiệm cận với ý chính, mà không thể nói trực ngôn/ nói trắng ra được.

    Thõa thuận trước như vậy, để chính ta sẽ TỰ tìm giải đáp cho câu hỏi của riêng mình (nếu có) !

    Thật ngắn gọn (0 sa đà nhiều vào các thuật ngữ rối rắm ), tưởng tượng có một hình vuông lớn, trong chứa 9 hình vuông đơn vị nhỏ hơn (3×3), hình vuông ở trung tâm là “Trung cung”, tám hình vuông bao bọc bên ngoài hình vuông “Trung cung” này, theo chiều kim đồng hồ, lấy phương vị tám hướng của La bàn, bắt đầu khởi đi từ hình vuông Tây Bắc, qua chính Bắc, rồi đến Đông Bắc….tiếp sang chính Nam, rồi Tây Nam và kết thúc ở chính Tây,

    Trong năm qua, chúng ta có 9 quẻ ứng cho 9 hình vuông:
    1)Quẻ Thiên trạch lý “Trung cung”
    2)Quẻ Trạch thiên quải “Tây Bắc”
    3)Quẻ Địa thủy sư “Bắc”
    4)Quẻ Hỏa sơn lữ “Đông Bắc”
    5)Quẻ Phong lôi ích “Đông”
    6)Quẻ Địa phong thăng “Đông Nam”
    7)Quẻ Thủy hỏa ký tế “Nam”
    8)Quẻ Lôi địa dự “Tây Nam”
    9)Quẻ Sơn trạch tốn “Tây”

    ( Ý nghĩa các tên quẻ có thể tra cứu dễ dàng nên 0 dẫn ra đây )
    Mỗi quẻ ứng mang một ý nghĩa, có 9 nhóm từ cho 9 quẻ trên ( theo thứ tự tương ứng từ trên xuống với 9 quẻ đã liệt kê nêu trên) như sau:
    1) ” Lý hổ vĩ, bất địch nhân, hanh” : Dẫm đạp vào đuôi con hổ, nhưng hổ không quay đầu cắn ngược lại, hổ tượng trưng cho quan tướng bên dưới, tức là trên dưới vẫn còn có chút rạch ròi, phân minh ( dù chỉ là bề ngoài không còn mấy ý nghĩa về thực chất bên trong hiện tại)
    2) …Ừm, cứ hễ 5 đầu lĩnh-chỉ huy lại có 1 tên đích thị gian quan-tướng, 1 tên xu thời theo gian quan-tướng, 3 trung quan-tướng còn lại không có thực quyền, nhẫn nại khéo léo 0 dụng vũ lực mà lựa lời can gián để kẻ xu thời động tâm mà hồi quy, mưa dầm thấm đất không lộ liễu đạt kết quả ngoạn mục là cuối cùng tên gian quan-tướng phải lộ diện rồi bị bãi chức/khống chế, vô hiệu hóa ( chỗ này có vài bạn nghiên cứu nói đùa rằng “Tự diễn biến lây lan trong nội bộ” kiểu liên xô, tôi 0 có ý kiến riêng, tùy các bạn )
    3) “Trinh, trượng nhân cát, vô cữu”: Thật sự do dự, vì đây là những xu hướng chính trong lĩnh vực cơ mật quân sự đã & đang bí mật tiến hành của QUÂN ĐỘI, nên xin phép các bạn 0 thể tự tiện ra đây được…Chỉ có thể nói ngắn gọn: Việc Điểm binh Xuất quân là việc hệ trọng, trừ khi nhằm mục tiêu “TRỪ GIAN DIỆT BẠO AN DÂN” hoặc “CHÍNH NGHĨA CHÓI NGỜI”, thì bậc làm Đại tướng quân / Nguyên soái trọng trách thống lĩnh ba quân, phải rất cân nhắc. Ngoài lý do chính đáng nêu trên thì dù có binh hùng tướng hổ, võ khí tân thời đến mấy, cũng sẽ tan tác thảm bại, vì TRỜI luôn đứng phía sau độ trì cho CHÍNH NGHĨA AN DÂN, sẽ hết sức nâng đở dù binh ít tướng bạc cũng sẽ mã đáo công thành, ngược lại TRỜI SẼ RA TAY 0 hề nương nhẹ, với PHI NGHĨA ÁC NHÂN !!! ( những đoàn quân đột ngột biến mất không để lại chút tăm hơi manh mối nào, không còn là chuyện lạ ngày nay nữa, nếu chúng ta bỏ công đi tìm hiểu..)
    4)”Tiểu hanh, lữ trinh, cát” Lữ là lữ thứ tha hương trôi dạt, xem ra năm rồi hàng bao con tàu lữ thứ trôi dạt chưa thấy ngày về…âu cũng đã có tiên lượng từ trước vậy, tiểu hanh là những tranh chấp kiện tụng bất lợi chưa ngã ngủ, gây thêm cái khó cho phận lữ thứ bôn ba…nhưng lại hé mở cho ai biết MƯU CẦU PHÚC ĐỨC, biết thực thi Vương đạo theo “hướng này” thì sẽ tiền Nan hậu Cát là lẻ vậy.
    5) “Lợi hữu du vãng, lợi thiệp đại xuyên” Những biến chuyển mạnh của Thiên khi ở hướng đông biết tùy đối tượng Quân tử/ Tiểu nhân mà hiển lộ khác nhau. Thiên khí độ người Quân tử biết suy tôn công ích nhân quần mà cử sự hành động nhân danh chính nghĩa, tất sẽ đạp bằng mọi trở lực, được nhân quần ủng hộ, can trường tiến lên đối mặt thử thách, cùng nhiều sự giúp đở hổ trợ bất ngờ…nếu vẫn thủy chung trung thành với chính nghĩa của đa số nhân quần, thì thắng lợi to lớn sẽ 0 thể tưởng tượng, trừ phi bậc quân tử có lòng rộng rải, quảng đại- biết dẹp bỏ tư danh tư lợi, thì kẻ tiểu nhân với bụng dạ hẹp hỏi, chỉ tơ tưởng điều tư lợi nhỏ nhen, dù cho bước đầu có vẻ nắm tiên cơ lợi thế, rút cục lại đã chẳng thu hoạch được gì mà còn bị lâm cảnh thất tán đại họa…THIÊN THỜI rất mạnh tại hướng này. Là quẻ dành cho Chính Nghĩa, không hề thích hợp với bá nghiệp tham vọng hùng cứ, những kẻ manh tâm hắc ám nếu biết khôn giử thân, thủ phận thì nên tránh xa hướng này, là kho tàng sung túc cho một phía, nhưng cũng đồng thời là mồ chôn kỳ vỉ cho phía còn lại.
    6)” Nguyên hanh dụng kiến đại nhân, vật tuất, nam chinh, cát”
    Cho biết rằng lục (lộc) tài (tiền, tài nghệ, tài năng, bổ khuyết) đều có đông đủ, trong số đó có MỘT “vị trí” nổi bật, dễ có xu hường thu hút mọi chú ý quan tâm, rồi quá đà biến tướng thành vượt quá chừng mực. Quân tử điều động chủ trì công cuộc cần nắm vửng mà kịp thời điều chỉnh khéo léo cho hài hòa thì mới tận dụng được năng lực tổng hợp của cả ê kíp/tập thể. ( Đặc biệt ứng vào “Hùng thư hội” của Lạc Hồng – Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai VỀ Gia định Đồng Nai thì VỀ ). Với Hùng Thư hội, bậc Quân tử chủ sự phải có ân độ trì của bậc Minh quân như Bắc bình Vương, Quang Trung Đại đế thì mới có được nhản quan sắc bén, hễ thấy người tài xuất hiện , tìm đến nguyện phục tòng chính nghĩa, thì có thể thấu rõ ngay là hiền tài( Ngô thời nhiệm, Phan huy Ích…), trọng dụng ngay không chần chừ, sẽ tụ hội được rất nhiều nhân tài, trí tuệ xuất chúng …( cơ nghiệp nền móng, anh tài lỗi lạc trùng trùng thuở Tây Sơn khởi nghiệp dưới quyền tiết chế của Nguyễn Huệ không bỏ sót một người nào, nhờ vào nhản quan phi thường hiếm có của ông- trong đó Ng-Văn Long-Đô đốc Long là bậc khai quốc công thần cực phẩm, Văn võ kiêm toàn, Đức Tài lưỡng lập, đại công tột bực, nhưng 0 hề muốn lộ danh trong đời, Tây sơn Thất hổ tướng 0 có tên ông, mai danh ẩn tích mà âm thầm thực hiện công-nghiệp của Quân vương giao phó, đến mãi tận đời các con cháu… vẫn không ngưng nghĩ, thậm chí 0 còn triều đại Tây sơn, vẫn cứ miệt mài kế thừa !!! )
    7) ” Hanh tiểu, lợi trinh, sơ cát, chung loạn”

    ( còn tiếp )

  14. Không phải tự nhiên mà có :Thiên Thời -Địa Lợi – Nhân Hòa …đâu đấy!!?
    Không phải tự nhiên mà có : Cao nhân tất hữu cao nhân trị….đâu đấy!!?
    Và rồi,không phải tự nhiên mà có :Mưu sự tại nhân thành sự tại Thiên …đâu đấy!!?
    Gia Cát Khổng Minh ngày xưa muốn mượn sức gió để đốt trại Tào Tháo thì cũng phải xem “vận số”của Chu Du(quân Ngô) thế nào( Khổng Minh cầu gió Đông giúp Chu Du..và cũng vì Nhờ “gió Đông nam của Khổng Minh” mà quân Ngô đại thắng quân Ngụy, Chu Du không bị nỗi nhục mất nước(Tam Quốc Diễn Nghĩa và Bát Quái trận đồ)
    Ngày nay thế sự xoay vần! Hiện đại hơn nhưng xem ra Vẹm quá NGU và XUẨN
    nên mới THẢM…..!!!!!!!!Vẹm đã Thắng cái gì vậy?hay chỉ lòi chành té bứa cái Bộ mặt đầy Dã Thú,Tàn Độc và Vô nhân tính trước Thế giới hiện đại này?
    Nói không ngoa thì đúng là Một Lũ Đội Quần!Khôn nhà dại chợ!Cõng rắn cắn gà nhà!

  15. Quẻ năm qua, dự đồ năm nay. (tiếp)

    7) ” Hanh tiểu, lợi trinh, sơ cát, chung loạn” : Thời thế vừa tạm thoát hiểm qua tranh chấp, cáo kiện cáo buộc, tranh đấu ngấm ngầm quyết liệt tưởng kẻ mất người còn, bề mặt thì có vẻ thuận chiều mát mái, nhưng họa bất ổn còn nguyên vẹn, càng gần về sau càng trở nên căng thẳng bất lợi. Xu hướng loạn nhiều trị ít, nhiều hoạt động bề mặt trấn an để hư trương thanh thế được thấy nở rộ, hỏa mù khuất lấp những tranh dành soán đoạt khốc liệt hơn càng về sau ở cuối kỳ, khẩn trương tranh thủ là hoạt động được săn chuộng rất ráo riết ở mặt hậu mặt khuất và có tác dụng quyết định đối với cục diện mà ai liên quan cũng đều ý thức. Có sự yểm hộ ngầm từ các ngoại tố, khiến cho tính chất quyết liệt lên cao trên bình diện quan sát được.., Nhưng loạn, mất kiểm soát thật sự là nan giải
    8) ” Lợi kiến hầu, hành sư ” Từ ảnh hưởng mục 7) nêu trên, độc nhất không có nghĩa là “vô nhị” mà thực sự đã phản ánh “Nhị” có vẻ lấn át cả “Nhất” hay thực chất chính là nhất, chẳng qua đó là bên dưới mọi an trí bày biện nên cứ hiểu Nhất là trên cao mà không hẳn vậy !
    Nhất ràng buộc bỡi ngoại tố, bị ảnh hưởng mạnh từ đó, nên Nhị vẫn là nhị trong bố cục dè chừng ngoại tố mà tạm thời duy trì thế cân bằng ! Nhưng do yếu tố “DỰ” nên chỉ tạm cân bằng, với các vận hành ngầm rất ư tốn kém cho bước chuyển, nên thế “DỰ” luôn tiềm ẩn sự vận động để hướng tới “CHUYỂN”…kết hợp với “Nhưng loạn, mất kiểm soát thật sự là nan giải” ở cuối 7) thì “CHUYỂN” có nhiều cơ thành ra Thật.!?
    9) “Hữu phu, nguyên cát, vô cửu, khả trinh, lợi hữu du vãng. Hạt chi dụng vấn(?) Nhị quĩ khả dụng hưởng”:
    Xương xóc khó giải nhất trong toàn quái trùng chính là mục này .
    Bất cập hoặc thái quá đều là cực đoan, cần phải trung dung bình vị( tạm hiểu những xáo trộn lớn trong Kinh tế điều hành…nổ lực vãn hồi lại trật tự) . Nhưng vấn nạn là “Lực bất tòng tâm” là một nổi lo với bậc sĩ phu tâm huyết, nhưng cũng là thờ ơ phó mặc kiểu ” đánh liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần tới đâu” là cái dễ nhận thấy nơi phường phàm tục thất phu lại đương nắm trọng quyền. ” lợi hữu du vãng” miễn tư lợi riêng rồi cao chạy xa bay như có thể diễn xuất như vậy. Mạnh trên mặc dưới không ai màng đếm xia, thượng lệnh như hư lệnh vào khoảng không (Hạt chi dụng vấn(?) ), vô trách nhiệm mặc sức thoán loàn bất chính tư túi (“Nhị quĩ khả dụng hưởng”), ấy nên ngỡ là “Hữu phu” mà thực ra là “vô cửu” ( tưởng có nơi cáng đáng, mà thực sự không thể qui trách nhiệm vào đâu được), 9) như một kết thúc logic tất yếu mà 7) và 8) đã bày ra như thế cục bất khả dị ! ( không thể khác được)

    Kể từ đây trở đi, THIÊN THỜI của nước Văn Lang rất mạnh, không gì có thể cưởng nổi TRỜI !
    Nếu xu hướng NHÂN HÒA càng lúc càng bất lợi cho một ngoại tố này thì cũng đồng thời thuận lợi với những ngoại tố khác.
    Cục diện sẽ có ngã ngủ một khi ĐỊA LỢI ( yếu tố còn lại) rành rẻ phân minh !

    Như vậy, mọi biến chuyển thời cuộc diễn ra ráo riết trên không, trên biển, tại đất liền…trong thời gian qua và tương lai sắp tới chính là phản ảnh sinh động về sự giằng co ĐỊA LỢI của các phía liên quan, đồng thời cũng là sự đổ bóng của bức tranh ĐỊA LỢI đó qua cục diện NỘI XUNG, sẽ giúp nhà quan sát ” Tùy thời mà kịp đưa ra những điều chỉnh thích hợp “

  16. Trích đoạn để thư giản:
    ( Trong “Nguồn gốc người Việt – Nhiều tác giả’ – Link bên dưới)

    “Khi chúng tôi còn lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, thầy chúng tôi là một người cách mạng, người đã từng lưu lạc qua Trung-Hoa, đã kể cho chúng tôi một câu chuyện rất lý thú. Từ ngày đó cho đến nay đã gần 50 năm, không lúc nào chúng tôi quên được. Câu chuyện như sau: Khi cách mạng dân quốc của Trung-Hoa chưa thành công, lãnh tụ Tôn-Dật-Tiên qua cầu viện nước Nhật, tại đây Tôn-Dật-Tiên có gặp ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị (một chính khách Nhật cũng là một nhà mạnh thường quân của cách mạng Việt-Nam), trong câu chuyện hàn huyên, khi đề cập tới Việt-Nam, Tôn-Dật-Tiên đã bĩu môi chê dân tộc Việt-Nam, họ Tôn nói với ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị như sau:
    “Dân An-Nam là một dân tộc nô lệ, trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp, họ là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được”
    Ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị đã cắt lời Tôn-Dật-Tiên như sau:
    “Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây, ngài đã có những nhận xét không đúng về dân tộc đó(dân tộc Việt-Nam: lời người dịch), bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp (lời tiên đoán này đúng với chiến thắng Điện-Biên-Phủ sau này). Ngài nên nhớ rằng dân tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hóa của người Trung-Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hóa cả ngàn năm”
    Khi nghe tới đây, Tôn-Dật-Tiên đỏ bừng mặt xin lỗi ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị và xin cáo lui. Tôn-Dật-Tiên xấu hổ vì Tôn-Dật-Tiên là người Quảng Đông (MÂN VIỆT).”
    http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=36206

    Bọn tôi không cần cái thứ vong bản như tên họ Tôn này ! Bọn vong bản Pắc bó ngày nay cũng thế !!

    Chú thích: Tôn Văn = Tôn-Dật-Tiên = Tôn Trung Sơn
    ============================================
    Sư huynh nghĩ có nên tiết lộ thêm ? Có lẻ nên :( Xét trong hoàn cảnh này )
    Bảo Giang = Quang Trung ( Nguyễn Huệ – Huệ : Female = BaoGiang như đã từng ghi chép…), đây lấy trực tiếp từ một đoạn có số câu rất dài nói về triều đại Tây Sơn ( ngay trong Bản Mai Lĩnh )

    Bảo Giang TK 21 : Tuổi NHÂM THÂN – trên 60 tuổi !!!
    ( Ông Nguyễn Huệ tuổi NHÂM THÂN )
    Cũng là lý do mà bussoni128 đề cập nhiều đến Nguyễn Huệ trong các ghi chép của mình. Và “Ngài ấy đã trở lại” vào ” Ngày ấy sẽ trở về”

  17. Hoàn toàn chính xác…!Rất khớp với thời thế và Thế thời ta phải thế?
    Nếu còn mơ tưởng “Ý thức hệ” thì chẳng sớm thì muộn hay không chóng thì chầy sẽ lại “Nô Lệ” là cái cẳng(chắc)!!!!DIỆT VONG nghe bọn Vẹm……
    Giải giáp để quy hàng hay Tự sinh tự Diệt đây????

  18. OK ! Mình sẽ check ngay :
    - Trước tiên để có thể setup được MobiReader bảo đảm thành công ( MobiReader được Download từ link :
    http://www.ziddu.com/download/13872841/mobireadersetup.msi.html )
    Trong máy chạy với Windows XP (Services Pack 2 hoặc 3) bạn cần có thêm phần hổ trợ tên là Windows Installer 3.1 v2 để Hệ thống điều hành (Windows XP) hiểu được File có định dạng .msi ( Microsoft Installer Files) , và xử lý được định dạng .msi này, Bạn download phần hổ trợ này tại : http://support.microsoft.com/kb/893803
    ( Nhớ chọn đúng cái phù hợp phiên bản Hệ thống điều hành (Windows XP) đang chạy trên máy mình, version 32/64 bit cũng chọn chính xác…nhé ).
    Nếu ổn nó sẽ cài MobiReader thông suốt.

    - Còn về phần File NguonGocNguoiViet.prc download về đọc OK ( 0 có vấn đề gì, mình đã thử ngay sau comment của bạn, thử trên một Laptop chạy Windows XP SP2-Services Pack 2 )

    Chúc bạn nhiều may mắn suông sẻ !! b.128, Thân, !

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s