1963-2013, 50 năm nhìn lại thế giới và Việt Nam

Personalities_Politician_VNCH_Ngô Đình Diệm1

Posted on Tháng Mười Một 22, 2013 bởi

Việt Nguyên

LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston. Ðộc giả có thể xem các bài viết của Việt Nguyên trên www.ngay-nay.com.

Năm 1963, một năm biến động nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và Việt Nam, tôi chỉ là một đứa trẻ mười ba tuổi, còn trẻ nhưng tôi đã bị lôi cuốn theo cơn lốc lịch sử. Ngày Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu, tôi đang đi về nhà, đạp xe đạp đến ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Ðình Phùng thì bị kẹt xe, ở ngã tư là đám khói, tôi phải lên sân tòa Ðại Sứ Cao Miên, đi leo trên lề vào ngõ hẻm đi tắt về nhà. Tối hôm đó tôi mới biết Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu. Chỉ là một đứa trẻ nhưng tôi đã bị kích động về các tin tức dồn dập. Phật giáo bị đàn áp, bị cấm treo cờ trong ngày Phật đản ở Huế. Ðối lập bị đàn áp, nhóm trí thức Caravelle bị tù sau bản thông cáo. Nhà văn Nhất Linh tự tử không chịu để chế độ xử. Chính sách gia đình trị của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông cố vấn và bà Ngô Ðình Nhu là hai ngôi sao che mờ tổng thống cùng với các bào huynh Ngô Ðình Thục và Ngô Ðình Cẩn. Công an mật vụ của chế độ và thanh niên cộng hòa đã có những hành động của những công cụ độc tài ngoài hay trong sự hiểu biết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho đến nay vẫn chưa phân minh. Một trong những nạn nhân của cảnh sát công an mật vụ là tôi, một đứa trẻ 13 tuổi không chịu đứng lên hát bài “Suy tôn Ngô Tổng Thống” trong rạp Việt Long đã bị công an vỗ vai đòi bắt về bót, đã thức suốt đêm viết hơn mười trang giấy nhật ký trong đêm cảnh sát tấn công chùa Xá Lợi và Thượng Tọa Trí Quang trốn vào tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ.

Tiếng súng đảo chính chế độ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã làm thay đổi Việt Nam Cộng Hòa. Miền Nam tối tăm hơn với các chế độ quân nhân do Ðại Tướng Dương Văn Minh và các tướng bất tài cầm quyền với hội đồng quân nhân cách mạng.

Ngày 22 tháng 11 năm 1963, một tiếng súng khác nổ ở thành phố Dallas, Texas. Tiếng súng giết tổng thống Hoa Kỳ trẻ tuổi John F. Kennedy của Oswald đã thay đổi thế giới và có nhiều điểm tương đồng với tiếng súng của Ðại úy Nhung giết hai anh em Tổng Thống Diệm. Năm mươi năm sau ngày T.T. Kennedy bi giết sau đó Oswald bị Ruby bắn, dân Mỹ vẫn sống với nhiều giả thuyết, từ giả thuyết CIA đằng sau Oswald cho đến cộng sản Nga ra lệnh cho Ruby và các giả thuyết toa rập, khôi hài nhất là giả thuyết chế độ VNCH sau Tướng Dương Văn Minh đã trả thù cho T. T. Ngô Ðình Diệm bằng cách mua chuộc Oswald. Bản tường trình của ủy ban Warren sau 10 tháng điều tra từ 1963-1964 kết luận T.T. Kennedy bị Lee Harvey Oswald ám sát và Oswald hành động đơn phương không thỏa mãn dân Hoa Kỳ cũng giống như ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đến nay vẫn chưa có câu trả lời không giống như việc đảo chính Tổng Thống Trujillo, Cộng Hòa Domique cùng năm (một năm 1963 trên thế giới có 3 tổng thống đạo Công giáo bị ám sát) đã có câu trả lời thỏa đáng vì lệnh của CIA.

CIA tài trợ cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 ở Việt Nam. Các tướng cầm đầu đảo chính im lặng sau cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Cá nhân tôi đã đi tìm câu trả lời nhưng vẫn chưa có câu giải đáp. Ðọc lại bài của Ðại tá Phạm Bá Hoa về bài viết với Ðại tướng Trần Thiên Khiêm, ông Khiêm nói Tướng Dương Văn Minh nhận lệnh CIA giết Tổng Thống Diệm và tự hỏi, “Tại sao người Mỹ lại nhẫn tâm giết ông Diệm.” Nhưng vào những ngày cựu Thủ Tướng Khiêm ở Houston, tôi đã được gặp ông ba lần, ông đã nói với tôi: “Tôi không biết ai ra lệnh giết Tổng Thống Diệm.” Ngày Trung tướng Trần Văn Ðôn đến Houston, khi ông còn sống, đi ăn tối với ông và ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tôi cũng đặt một câu hỏi tương tự, Tướng Ðôn đã trả lời: “Tôi không biết ai ra lệnh.” Tôi không được gặp các Tướng Dương Văn Minh và Tôn Thất Ðính để đặt cùng một câu hỏi nhưng tôi cũng đoán được một câu trả lời. Tháng 3 năm nay, 2013, tôi có dịp đến thăm Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp ở Orlando Florida trước khi ông mất. Tôi đã xin ông kể lại những giờ phút chót của TT Ngô Ðình Diệm. Ông đã kể cho tôi nghe vắn tắt: Năm đó Ðại Úy Phan Hòa Hiệp vào nhà thờ Cha Tam bắt TT Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Trước khi đi Trung tướng Tôn Thất Ðính dặn phải bắt sống hai ông không được giết. Khi vào nhà thờ TT Diệm và ông Nhu đi ra, tay cầm túi xách. Ông Hiệp hỏi “Tổng thống và cố vấn có súng trong xách tay không?” “Cả hai ông đều trả lời là không và không có một thái độ sợ hãi hay chống cự. Ông Hiệp mời hai ông ra ngoài để lên xe đi về thành Cộng Hòa đường Cống Quỳnh. Ông ngạc nhiên khi thấy có một người đã ngồi sẵn sau xe, ông hỏi: “Người nào vậy?” “Dạ, Ðại úy Nhung người của Tướng Minh.” Khi xe chạy tới đường rày xe lửa thì ông nghe hai tiếng súng nổ từ trong xe chở hai anh em Tổng thống Diệm. Tôi hỏi Tướng P. H. Hiệp theo ông ai ra lệnh cho ông Nhung bắn chết hai anh em ông T.T. Diệm. Tướng Hiệp nói với tôi, “Theo tôi nghĩ là Ðại Tướng Dương Văn Minh.” Tôi tin lời nói thành thật của Tướng Hiệp, nhưng câu trả lời vẫn chưa làm tôi thỏa mãn.

Sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, dân miền Nam Việt Nam vẫn tin vào chánh quyền và những người lãnh đạo Hoa Kỳ. Năm 1963, Hoa Kỳ thay đổi với hai bài diễn văn, một bài làm thay đổi bộ mặt nước Mỹ của Mục Sư Martin Luther King “Tôi có một giấc mơ” và một bài diễn văn cho thấy viễn kiến của TT John F. Kennedy: “Ich bin ein Berliner” với lời hứa hẹn: “sẽ bằng bất cứ giá nào, chịu tất cả khổ sở khó khăn để giúp bất cứ bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm cho nền tự do vĩnh cửu.” Hàng triệu người trên thế giới đã tin vào lời của vị tổng thống trẻ tuổi lãnh đạo thế giới tự do. Nhưng 50 năm nhìn lại, lời của TT John F. Kennedy là lời hứa hẹn đối với dân Ðức và Ðông Âu cộng sản, dưới sự kìm kẹp của Sô Viết cộng sản chứ không phải là những lời hứa cho những người yêu chuộng tự do ở Việt Nam.

Tổng Thống Lyndon B. Johnson lên thay TT Kennedy. Chiến tranh Việt Nam leo thang từ 16,000 cố vấn và quân tăng lên đến 550,000 quân trong năm 1968. Năm năm sau ngày TT Kennedy bị ám sát, cách mạng và chống chiến tranh Việt Nam xảy ra trên toàn thế giới. Phong trào phản chiến hè 1968 xảy ra sau Tổng công kích Mậu Thân thất bại của Việt cộng. Bắc Việt thua ở mặt trận Nam Việt Nam nhưng thắng trên mặt trận chính trị bắt đầu với Walter Cronkite tường thuật sai lạc trận đánh chiếm tòa đại sứ Mỹ trên đài CBS có tiếng nói nhưng không hình. Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam lan rộng trên nhiều thành phố Hoa Kỳ. Thập niên 1960 là thập niên bạo động. TT Johnson đòi hỏi “luật lệ và trật tự” và thay đổi chiến thuật ở Việt Nam với Tướng William Westmoreland muốn biến chiến tranh chống du kích thành trận địa chiến. Nhưng tướng Westmoreland đã sai lầm khi ra trước quốc hội thay vì chủ trương chiếm đất, kiểm soát dân, ông lại chủ trương chiến thắng đếm được bằng cách “đếm xác giặc.” Hình ảnh dân quê bị giết và quan tài lính Mỹ đem về trên các đài truyền hình trong phòng khách đã gây xúc động làm hại đến chính sách ngăn chận cộng sản vùng Ðông Nam Á của Hoa Kỳ.

Phong trào chống chiến tranh Việt Nam khác hẳn với những cuộc biểu tình của sinh viên ở Paris và ở các nước cộng sản Ðông Âu. Ở Paris ngôn ngữ của sinh viên biểu tình đầy ngôn ngữ Marx của chủ thuyết Marx chống lại chế độ tư bản. Jean Paul Sartre ủng hộ Stalin trong khi đó Michel Foucault bắt đầu tách rời chủ nghĩa Marx. Quan điểm quyền làm chủ thành phố, 50 năm sau được phong trào chiếm Wall St. (Occupy Wall St.) vay mượn.

Sau TT Lyndon B. Johnson đến TT Richard Nixon leo thang chiến tranh Việt Nam, gia tăng đánh bom Bắc Việt. Mục đích của Nixon và Kissinger chỉ để Bắc Việt ngồi vào bàn hội nghị Paris. Hiệp Ðịnh Paris 1973 được ký kết, Hoa Kỳ ưng thuận để cho Bắc Việt để lại quân ở miền Nam trái với sự phản đối của T.T. Nguyễn Văn Thiệu. Hiệp Ðịnh Paris 1973 đưa đến kết quả tất nhiên là ngày 30 tháng 4, 1975. Năm mươi năm nhìn lại, những người chống cộng miền Nam vẫn còn thấy chua chát, không thể không so sánh Nam Hàn và Nam Việt Nam, hai chế độ cùng được Liên Hiệp Quốc công nhận, cùng được Hoa Kỳ viện trợ, cùng nằm cạnh Trung Cộng nhưng một còn một mất. Hai quốc gia chia cắt, một ở vĩ tuyến 38, một ở vĩ tuyến 17, một được Hoa Kỳ đổ xương máu bảo vệ tối đa còn quốc gia kia rơi vào tay cộng sản mặc dù cả hai đều chiến đấu chống cộng vì lý tưởng tự do.

Ðọc lại “Lịch sử Hàn Quốc “ của Giáo Sư Sử Jimwung Kim, 50 năm sau tôi có cái nhìn khác về Việt Nam. Những lý do đưa ra: Tổng Thống Ngô Ðình Diệm độc tài, gia đình trị, chế độ Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng chỉ là cái cớ để Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam. Tình hình chính trị ở Nam Hàn quả là có nhiều điều tương đồng với VNCH. Cùng thời với Tổng Thống Diệm, Tổng Thống Lý Thừa Văn cầm quyền ở Nam Hàn, được học và đào tạo ở Hoa Kỳ ông được Hoa Kỳ ủng hộ khi về nước năm 1947, cầm quyền cho đến khi chính quyền của ông bị sinh viên biểu tình lật đổ tháng 4 năm 1960. Chính quyền Lý Thừa Văn bị xem là tham nhũng, độc tài, không khả năng. Ông cũng dùng hình thức cai trị độc đảng với công an mật vụ. Trong thời kỳ quân nhân cầm quyền ở Việt Nam, năm 1963 Tướng Park Chung Hee được bầu làm Tổng Thống sau khi ông làm cuộc đảo chính năm 1961. Cầm quyền ở Nam Hàn, ông Park Chung Hee, độc tài hơn TT Thiệu, ông tuyên bố tình trạng thiết quân luật năm 1972, bỏ Hiến Pháp, tuyên bố thành tổng thống suốt đời. Ðộc tài, vi phạm nhân quyền, tham nhũng mặc dù kinh tế “mầu nhiệm trên sông Hàn” phát triển nhưng kinh tế và sức mạnh tài chính nằm trong tay các đại công ty. Dân Nam Hàn sống ngột ngạt hơn thời VNCH dưới bàn tay sắt của Park Chung Hee.

Ông Hee bị ám sát năm 1979, mất Park Chung Hee nhưng Nam Hàn không sụp đổ vì ở Nam Hàn không có chiến tranh du kích của cộng sản. Hoa Kỳ thắng chiến tranh Triều Tiên (3 năm từ 1950 đến 1953) cuộc chiến giữa Nam và Bắc Hàn, một bên được Hoa Kỳ viện trợ và một bên là Xô Viết và Trung cộng. Hoa Kỳ đã chia đôi Hàn Quốc và TT Henry Truman đã ngăn chặn cộng sản sau khi chia cắt Hàn Quốc. Quân Trung cộng có khi lên đến 180,000 quân đánh qua biên giới nhưng bị quân Hoa Kỳ với tướng Mc Arthur đánh bại và vì chính trị TT Henry Truman đã ngăn Tướng Mc Arthur trên con đường đến Bắc Kinh. Chiến tranh ngăn chặn cộng sản ở Hàn Quốc thành công với sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ trên các trận chiến mặt đối mặt giống như ở Việt Nam quân VNCH và Hoa Kỳ đã chiến thắng trên khắp các mặt trận (nhưng thua chiến tranh Việt Nam).

Hiệp Ðịnh Paris 1973 có mục đích để Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam. Ý định này đã bắt đầu từ TT John F. Kennedy chứ không hẳn từ TT Lyndon B. Johnson hay TT Richard Nixon. Trong cuốn sách mới “100 ngày cuối cùng của John F. Kennedy” của Thurston Clarke, tác giả đã cho thấy mặc dù tuyên bố “bất cứ giá nào& để bảo vệ chính nghĩa tự do” Tổng Thống Kennedy đã quay về phe tả, đập cánh chim bồ câu trước khi ông bị ám sát. Nếu TT Kennedy còn sống ông không leo thang chiến tranh Việt Nam, một cách cụ thể là ông đã dự tính rút lui ra khỏi VN vào cuối năm 1965 hay ít nhất là ông đã quyết định không để chiến tranh lôi kéo ông thêm vào các xung đột giữa Hoa Kỳ và Xô Viết ở VN. Các tài liệu của ông Thurston Clarke đã dựa vào những cuộc đàm thoại riêng giữa TT Kennedy và các cố vấn cũng như các giấy tờ biên bản trong các buổi họp hội đồng an ninh quốc gia.

Vận mệnh Việt Nam khác với các nước làm cách mạng năm 1968, Mexico, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi trên đường đến Tự Do. Paris vứt hẳn chủ thuyết Marx. Vận mệnh Việt Nam tùy thuộc Hoa Kỳ, năm 1975 cộng sản thôn tính miền Nam Việt Nam còn Hoa Kỳ sau khi bỏ được đồng minh ở Việt Nam không vướng bận trên con đường đương đầu với khối cộng sản Sô Viết. Năm 1989, khối Ðông Âu cộng sản sụp đổ, năm 1991 chế độ Sô Viết chấm dứt. Trung cộng sống sót sau cuộc cách mạng đẫm máu ở quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Không ai đoán trước được sư sụp đổ nhanh chóng của khối Ðông Âu và Xô Viết. Tony Judt gọi đây là sự tiếp nối của lịch sử Âu Châu sau Thế Chiến Thứ Hai còn các giới truyền thông gọi đây là kết quả của “sự mầu nhiệm truyền thông mạng lưới” Nhưng sự thật đây là “thời kỳ kinh ngạc” của các sử gia. Tất cả các nhà thông thái, chủ thuyết gia, kinh tế gia, chính trị gia, các nhà ngoại giao, xã hội học v.v… đều phải kinh ngạc trước sự sụp đổ nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản. Các nhà trí thức (Intellegentsia) Âu Châu tiên đoán các cuộc cách mạng năm 1789 và 1848 nhưng họ đã ngạc nhiên và mù trước những sự kiện xảy ra từ năm 1979 đến 1989. Mười năm đó được Christian Caryl gọi là “ngày sinh của thế kỷ thứ 21.” Trong khoảng thời gian 10 năm này, các nhà tiên đoán thời cuộc đã hoàn toàn không biết những điểm và giai đoạn biến chuyển nào, với các “tài tử” chính nào đóng vai trò quan trọng trên kịch trường quốc tế.

Năm năm trước đó, 1974 Ðặng Tiểu Bình còn đang bị Hồng vệ binh canh gác, sống nhục nhã trong căn nhà sửa máy cày. Ông Ðạo Ayatollah Khomeini sống lưu vong ở Iraq rồi chạy qua ngoại ô Paris vùng Neauphle-le-Château. Ở Anh, bà Margaret Thatcher chỉ là bộ trưởng giáo dục mới, nổi tiếng nhờ chương trình phát sữa miễn phí cho học trò, bị Thủ Tướng Edward Heath ghét vì là đàn bà. Hồng Y Jôsef Wojtyla ở Cracow không có triển vọng gì để trở thành Giáo hoàng đầu tiên không phải là dân Ý từ thời Giáo hoàng Adrian VI năm 1522. Anh thợ điện Lech Walesa thất nghiệp xuất thân từ vùng đóng tàu Gdansk không có một dấu hiệu gì cho thấy sẽ trở thành tổng thống Ba Lan đầu tiên hậu cộng sản. Nhà lãnh tụ da đen Nam Phi, Nelson Mandela, đang trong nửa thời gian tù 27 năm ở đảo Robben, không thấy ngày về quê.

Lý thuyết gia chống cộng nổi tiếng Brian Cozier thuộc viện nghiên cứu Carflict trước 1989 đã nhận định: “Không có một dấu hiệu cải tổ ở Sô Viết hay dấu hiệu suy đồi về chủ nghĩa cộng sản. Ông cho rằng những thay đổi của Gorbachev chỉ là chiến thuật và tuyên truyền, chỉ có giáo sư Robin Letwin thuộc đại học Chicago và Cambridge nói chế độ cộng sản Xô Viết bắt đầu tan vỡ, ông nhìn thấy những dấu hiệu sau bức màn đục che giấu của các chế độ độc tài. Những chế độ cộng sản sống bằng những sự dối trá và điều dối trá lớn nhất được vạch ra là những dấu hiệu thống kê kinh tế. Năm 1989, hai nhà kinh tế Paul Samuelson và William Nordhaus đã nhận thấy “các bằng chứng kinh tế xã hội trái ngược với sự khoe khoang của các chế độ cộng sản cho rằng kinh tế xã hội chủ nghĩa đang có kết quả hữu hiệu và tiến nhanh tiến mạnh, chế độ Xô Viết sẽ chôn vùi tư bản Mỹ.” Chính quyền Xô Viết khoe khoang “Tư bản Mỹ đang giãy chết.”

Kết quả của cuộc cách mạng 1989 đã cho thấy đạo đức của con người thắng chủ thuyết cộng sản. Sau 9 ngày thăm Ba Lan vào tháng 6 năm 1979, Giáo Hoàng Phao Lồ giảng 12 bài giảng, phe tả vẫn xem giáo hoàng có một ảo tưởng “tôn giáo sẽ gìn giữ tinh thần của thế giới thời đại” và phe hữu cũng có ảo tưởng “phe tả không có khả năng cải tổ.” Cuối cùng thì Giáo hoàng Phao Lồ chiến thắng với “tinh thần cá nhân Thiên Chúa Giáo thay thế cho chủ nghĩa Marxist.” Cùng lúc đó T.T. Ronald Reagan, bà Thủ Tướng Margaret Thatcher và Tổng Bí Thư M. Gorbachev cùng đẩy sập bức tường vô hình kìm kẹp của các chế độ cộng sản Ðông Âu và Xô Viết.

Cách mạng đánh sụp các chế độ cộng sản Ðông Âu và Xô Viết ngừng lại ở Trung Cộng. Xây được các chế độ dân chủ nhưng cán cân quốc tế từ từ đi xa khỏi khối Tây phương. Viện nghiên cứu toàn cầu Mc Kinney nhận định “trong nhiều thế kỷ cán cân nằm giữa Âu Châu và Trung Hoa, bắt đầu từ 1960 đến 2000 cán cân nghiêng về phía Ðông. Từ năm 2000 đến 2010 ngọn gió Ðông thổi mạnh về Trung Hoa. Năm 2025 ngọn gió sẽ thổi ngược.” Trung cộng đi lên ảnh hưởng lên các nước Phi Châu và Á Châu. Khả năng và tiềm lực siêu cường duy nhất của Hoa Kỳ bị thử thách trong khi Trung cộng đi lên. Cuộc cách mạng “Mùa Xuân Á Rập” đã cho thấy không giống cách mạng 1989. Cách mạng dừng lại ở Syria. Tình hình Lybia, Iraq, Á Phú Hãn không được giải quyết. Cách mạng ở Ai Cập làm người Việt nhớ lại chế độ của T.T. Ngô Ðình Diệm năm 1963. Dân Ai Cập bây giờ nhớ thời ổn định của T.T. Mubarak giống như dân Việt Nam nhớ những năm thanh bình 1960 của VNCH dưới thời TT Diệm.

Chính sách Trung Ðông của Mỹ bị thử thách, những người yêu chuộng tự do nhức đầu khi nghe T.T. Nga V. Putin giảng bài cho TT Obama về những luật lệ quốc tế, “hậu Hoa Kỳ, hậu Tây phương.” Và những lời tuyên bố của TT Barack Obama: “Hoa Kỳ là một ngoại lệ, sẵn sàng hy sinh bằng máu và đối đầu với các chế độ độc tài vì quyền lợi của mọi người trên thế giới” phản ảnh lời tuyên bố của TT John F. Kennedy năm 1963.

Con rồng Trung Quốc đang lên đã gây tai hại đến hai nền tảng của tư bản: dân chủ và nhân quyền. Không ai hiểu chế độ cộng sản Trung Quốc tồn tại đến bao lâu. Các lý thuyết gia và bình luận gia lại lâm vào tình trạng năm 1979. Những dự đoán Trung cộng sẽ sụp từ 1989 vẫn được tiếp tục dự đoán ngay cả các lãnh tụ Ðảng cộng sản cũng tự thấy không ổn. Tờ Financial Times tiên đoán hỗn loạn sẽ xảy ra từ 5 đến 10 năm, những người chống chế độ can đảm và có tinh thần trí thức giống như đối lập thời Sô Viết nhưng hậu quả sẽ không giống. Tân Hoàng Ðế Tập Cận Bình hứa hẹn cải tổ chống tham nhũng nhưng trên thực tế Ðảng cộng sản vẩn đàn áp đối lập, cấm chống đối trên mạng lưới và loại bỏ hẳn ý niệm dân chủ của Tây phương trong Hiến pháp. Chống tham nhũng của cộng sản Trung Hoa và Việt Nam để củng cố chế độ thiếu hẳn hai phương tiện cần có: tự do ngôn luận và tòa án độc lập với chính quyền.

Cuộc cách mạng thầm lặng đang xảy ra ở Việt Nam và Trung Hoa mang một sắc mới. Ngôn ngữ không giống cách mạng năm 1968, Chủ nghĩa Mác Lê Nin đã chết, ngôn ngữ Mác đã chết sau 1968, Jean Paul Sartre chôn chủ nghĩa Marx sau khi chứng kiến hàng triệu “thuyền nhân Việt Nam trên biển.” Ngôn ngữ của cuộc đấu tranh hiện nay là ngôn ngữ của Geoge Orwell, ngôn ngữ của “Trại súc vật,” con người còn tranh đấu khi còn áp bức (Lê Nin) đã chống lại giới lãnh đạo “khi con heo thành con người lãnh đạo nó quên mất gốc nó là con heo,” ngôn ngữ của “1984” người dân yếu đuối chống lại “ Anh cả đang dò xét” (Big Brother). 38 năm sau 1975, những người trẻ được giáo dục trong chế độ cộng sản lại yêu tự do, không sợ tù đày và đàn áp. Cả một thế hệ mới không sợ đảng cộng sản một đảng càng ngày càng cải tổ theo đường hướng đảng Mafia. Những người trẻ tranh đấu cho những sự thay đổi và vận mạng nằm trong tay họ. Lệnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhằm kiểm soát chặt chẽ mạng lưới thông tin giống như luật ở Trung cộng không làm thành phần đấu tranh và biểu tình im lặng. Vũ khí tranh đấu bất bạo động của giới đối lập đi đúng con đường được TT Barack Obama, Ngoại Trưởng Hillary Clinton và Ngoại Trưởng John Kerry ủng hộ. Facebook là “công trường giải phóng” của các nhà viết Blog. Mỉa mai thay bạo động lại đến từ chính quyền cộng sản với công an quân đội đàn áp người dân không vũ khí.

Cuộc cách mạng đang diễn ra ở Trung Cộng và Việt Nam khác với cuộc cách mạng 1989, không mang một màu sắc tôn giáo, chỉ mang một mầu sắc tự do dân chủ. Giống như mầm mống cách mạng năm 1978-1979: các nhà bình luận thời cuộc không ai tiên đoán được kết quả. Năm mươi năm sau 1963, người Việt sống dưới chế độ cộng sản lại nhớ về những chế độ dân chủ chưa được toàn thiện của các TT Ngô Ðình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Lịch sử Việt Nam có vẻ xảy ra như vòng tròn lịch sử hơn là mũi tên bắn đi không trở lại như Ðảng CSVN mong ước.

Ðảng CSVN mặc dù với 4 triệu đảng viên và hệ thống công an, theo chân ÐCSTQ vẫn sợ bầu cử tự do, những cuộc bầu cử với kết quả thể hiện ước muốn cử tri như kết quả của kỳ bầu cử ngày 5 tháng 11 năm 2013 cho thấy nghị viên thành phố Houston Hoàng Duy Hùng đã bị loại sau một năm thân Cộng.

Rate this:

0
0
Rate This

Liên kết với:

Like this:

Posted in: Post by Email
One Response “1963-2013, 50 năm nhìn lại thế giới và Việt Nam” →

The Assassination of Ngo Dinh Diem

by Peter Kross

http://www.historynet.com/the-assassination-of-ngo-dinh-diem.htm#comment-822525

Vụ ám sát Ngô Đình Diệm

theo Peter Kross

1.- Vụ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và người em Ngô Đình Nhu bị sát hại một cách tàn nhẫn vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 là một khúc quanh trong cuộc chiến tại Việt Nam. Cho tới khi anh em nhà Ngô bị lật đổ, Hoa Kỳ vẫn chỉ đạo chính quyền miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Việt Cộng. Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ đã có tới 16.000 quân (cố vấn quân sự) ở miền Nam. Vai trò của họ là huấn luyên quân lính miền Nam Việt Nam và ngồi trên các phi cơ trực thăng để điều khiển các cuộc hành quân của quân đội miền Nam tấn công vào các vùng Việt Cộng. Tổn thất của quân lính Mỹ bắt đầu tăng lên và hình ảnh những quân lính Mỹ tử thương được đưa lên các màn ảnh truyền hình ở Hoa Kỳ .

2.- Khi Việt Cộng đẩy mạnh chiến dịch ám sát các viên chức chính quyền miền Nam, thì chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến ở Việt Nam cũng bắt đầu thay đổi đáng kể. Gần 3 tuần lễ sau khi Tổng Thống Kennedy bị ám sát chết, Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson lên thay thế và tiếp tục theo đuổi chính sách tại Việt nam của Tổng Thống Kennedy và tới năm 1964 thì việc can thiệp vào cuộc chiên Việt Nam của Mỹ tăng lên mãnh liệt. Hàng loạt các tướng lãnh tham những nắm quyền lãnh đạo chính quyền miền Nam trong khi đó thì quân lính Mỹ càng ngày càng đổ vào miền Nam nhiều hơn và có lúc lên tới 500, 000 quân.

3.- Những gì mà quần chúng Mỹ không nhận thức được vào mùa thu năm 1963 là vấn đề chính quyền Kennedy biết rõ bao nhiêu (1) về cuộc đảo chánh (lật đổ nhà Ngô), và (2) về âm mưu của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) ở hậu trường trong những tuần lễ trước khi xẩy ra đảo chánh. Để có thể biết rõ đầy đủ về cái chết của ông Diệm và ông Nhu ảnh hưởng đến cuộc chiến ở Việt Nam như thế nào, thiết tưởng rằng độc giả cần phải biết rõ (1) những suy tư về chính trị của ông Kennedy từ khi ông nhậm chức Tổng Thống vào tháng Giêng năm 1961 và (2) sự học hỏi và căn bản kiến thức về các công việc chính trị ở Á Châu cúa ông đưa đến việc hình thành chính sách đối ngoại của ông ở Đông Nam Á. .

4.- Viêc học hỏi về chính trị của ông Kennedy được khởi sự từ trong gia đình với thân phụ ông là Đại-sứ Joseph Kennedy, một người quyền thế. Trong những bữa ăn chiều, ông Joseph Kennedy thường nêu lên các vấn đề liên hệ đến các biến cố chính trị xẩy ra hàng ngày ở khắp mọi nơi trên thế giới để cho anh em ông Kennedy tìm ra lời giải đăp.

5.- Là một thành viên trong Hạ Viện (Quốc Hội Hoa Kỳ), Dân Biểu Kennedy rất quan tâm đến chính sách đối ngoại, đặc biệt là khi nó ảnh hưởng đến các nước thế giới thứ ba và các cuộc tranh đấu của họ chống lại chủ nghĩa thực dân của các quốc gia phương Tây. Sau khi đắc cử vào Thượng Viện đánh bại Thượng Nghị Sĩ đương nhiệm là ông Henry Cabot Lodge (người sau này sẽ phục vụ như là đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong những tháng cuối cùng thời ông Diệm và năm 1954),Thượng Nghị Sĩ Kennedy trở thành một thành viên của Ủy Ban Đối Ngoại tại Thượng viện. Ở đây, ông bắt đầu tìm hiểu các vấn đề quốc tế, đặc biệt là những vấn đề có liên hệ đến các quốc gia mới ở châu Phi, Đông Nam Á và châu Mỹ La tinh. Hai trong số các mối quan tâm hàng đầu của ông là Việt Nam và An-giê-ri.

6.- Trong những năm cuối thập niên 1950, Kennedy đã trở thành một thành viên của một nhóm người Mỹ có thế lực được gọi là những người bạn của Việt Nam, trong đó có nhà báo Max Lerner của tớ báo New York (một tờ báo có tiếng tăm lớn) và sử gia Arthur Schlesinger Jr. của Đại Học Harvard, người sau này trở thành cố vấn của chính quyền Kennedy. Những người bạn của Việt Nam hầu hết là những người có tư tưởng tự do về chính trị. Họ tìm cách đảm bảo rằng chính phủ miền Nam Việt Nam sẽ vẫn ở trong tình trạng biệt lập, tách rời khỏi Việt Nam hơn là thống nhất với miền Bắc như là Hiệp Định Geneve 1954 đã quy định. Nhận xét về tình hình miền Nam Việt Nam vào lúc đó, ông Kennedy cho rằng cần phải có một cuộc cách mạng về chính trị và xã hội vượt hơn cả những gì mà người Cộng Sản đã hứa hẹn và đang tiến hành.

7.- Những ngày đầu trong chức nghiệp dân biểu tại Hạ Viện, ông Kennedy đi du lịch tới châu Á và tại đây, ông có dịp tiếp xúc với nhiều người trong đó có (1) một số chính khách thân quen với cả chính quyền lẫn cả các thành phần đối lập với chính quyền, và (2) các chính trị gia đối lập với chính quyền. Đặc biệt là ông mãnh liệt tin rằng Pháp sẽ thất bại trong việc tái lập quyền lực ở Việt Nam bằng quân sự. Ông cũng đã nói rõ là trong công cuộc chiến đấu đánh đuổi người Pháp để giành lại chủ quyền độc lập cho đất nước, cuối cùng Việt Minh Cộng Sản cũng sẽ thành công. Vì bất bình với cả người Pháp và chính quyền của Tổng Thống Eisenhowwer, ông đề nghị thêm vào dự luật viện trợ quân sự cho Pháp một điều khoản nói rõ là quân viện của Mỹ là một phần đóng góp cho Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam.

8.- Ông thấy rằng chỉ có ông chỉ trích những hành động của người Pháp ở Đông Dương. Vào đầu năm 1954, quân đội Việt Minh của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đang được điều động để chuẩn bị tân công các cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ. Lúc đó, có tới 15 ngàn quân Pháp đang bị vây khổn tại các căn cứ này và chính quyền Hoa Kỳ đang cứu xét nghiêm túc vấn đề quân viện cho Pháp kể cả việc sử dụng vũ khí nguyên tử để cứu Pháp. Trong một bài thuyết trình gây xúc cảm mạnh vào ngày 6 tháng 4 năm 1954 tại Thượng Viện, ông Kennedy tuyến bố: “đổ người cũng như vât liệu và tiền bạc vào trong những khu rừng ở Đông Dương mà không có một chút hy vọng chiến thắng thì sẽ la một việc làm vô ích và nguy hiểm. Không có một khoản quân viện nào của Hoa Kỳ cho Pháp ở Đông Dương có thể chiến thắng được một kẻ thùi ở khắp mọi, một kẻ thù của nhân dân, nhưng kẻ thù đó lại được nhân dân có thiện cảm và bí mật ủng hộ.

9.- Bất kể là lời nhận xét rất mạnh của ông Kennedy, đa số dân biểu tại Hạ Viện đứng về phía chính quyền (hành pháp) Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Hiệp Định Geneve 1954 châm dứt cuộc chiến Đông Dương, nhưng Hoa Kỳ đã từ chối, không ủng hộ điều khoản của hiệp ước này quy định việc tổ chức tổng quyển cử vào năm 1956 để cho nhân dân cả hai miền Nam và Bắc quyết định tương lai của đất nước bằng lá phiếu của họ.

10.- Trong kỳ vận động bầu cử tổng thống vào cuối năm 1960, cả ứng cử viên của Đảng Dân Chủ là ông Kennedy và ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa là Phó Tổng Thống Nixon đều không quan tâm nhiều đến Việt Nam mà chỉ chú ý đến tình hình chính trị và quân sự ở Cuba đang trở nên cấp bách. Tuy nhiên, vào năm 1961, lúc đó ông Kennedy đã ngự trị trong Tòa Bạch Ốc thì Việt Nam lại trở thành những khó khăn của ông. Ông nói với vị cố vấn an ninh của ông là ông Walt Rostow rằng, “Có phải rằng đây là vấn đề tồi tệ nhất đang ở trong tay chúng ta không?” Ông biết rõ là Tổng Thống Eisenhowwer chẳng bao giờ nói đện vấn đề này. Ông ta (Tổng Thống Eisenhowwer) cũng có nói tới Ai Lao, nhưng không hề có một lời nào nói về Việt Nam

11.- Trong ngàn ngày của ông tại Tòa Bạch Ốc, Kennedy đã hiểu biệt thêm nhiều về Việt Nam hơn là ông quan tâm. Việt Nam đã mau chóng trở thành vấn đề chiếm hết thì giờ dành cho công việc đối ngoại của ông và cuối cùng đã đưa nước Mỹ vào vực thẳm chiến tranh và làm thiệt hại không biết bao nhiêu sinh mạng mà cao độ vào giữa thập niên 1970. (?)

12.- Sau vụ đổ bộ vào Vịnh Con Heo ở Cuba vào tháng 4/1961 bị thất bại, Tổng Thống Kennedy chú ý đến Việt Nam nhiều hơn. Đã bị tủi nhục với Fidel Castro về chính sách đối ngoại, Tổng Kennedy quyết định không để cho việc này tái diễn ở Việt Nam. Ông tin tưởng mãnh liệt vào thuyết Domino và cho rằng nếu một trong các quốc gia được Tây Phương ủng hộ bị sụp đổ, thì các quốc gia khác trong vùng cũng sụp đổ theo. Vì thế mà vào đầu năm 1961, ông mới đưa ra một số quyết định can thiệp vào Việt Nam mạnh mẽ hơn.

vịnh con heo

13.- Lời kết luận của bản báo cáo của cơ quan tình báo về Tổng Thống Ngô Đình Diệm nói rằng chính sách đối nội của ông Diệm rất độc đoán và các chương trình hành động của ông ta đã làm cản trở những cố gắng tiến hành cuộc chiến. Ngay từ đầu năm 1961, theo bản báo cáo do Bộ Quốc Phòng nghiên cứu về mối quan hê giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm 1945-1967 (còn gọi là tài liệu của Ngũ Giác Đài), Hoa Kỳ đã đặt ra vấn đề là ông Diệm không thể ở lại chính quyền lâu dài trừ phi ông ta phải thay đổi một số chính sách để cải thiên đời sống của người dân. Tổng Thống Hoa Kỳ hy vọng rằng, ông Diệm, một tín đồ Ca-tô giống như chính ông, rất cần phải thay đổi chính sách trước khi tình hình trở nên trầm trọng và vượt ra ngoài khả năng kiểm soát.

14.- Ngày 11 tháng 5 năm 1961, tổng thống ra lệnh đem 400 quân lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ tiến vào Việt Nam và gửi thêm 100 cố vấn quân sự để huấn luyện quân đội Nam Việt Nam. Đồng thời, ông cũng ra lệnh khởi đầu một cuộc chiến bí mật chống lại Việt Cộng cũng như quân đội của miền Bắc ở miền Nam Việt Nam và gửi những đội quân biệt kích của miền Nam ra Bắc để hoạt động ở miền Bắc. Việc này khiến cho chính quyền Hà Nội tố cáo Hoa Kỳ đang sử dụng lãnh thổ miền Nam Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc xâm lăng miền Bắc. Tháng 10 năm đó, Tổng Thống Kennedy ban hành lệnh gửi quân lính đánh bộ đến hoạt động ở gần biên giới Ai Lao..

15.- Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đến thăm Việt Nam vào năm 1961 và gặp ông Diệm, gọi ông Diệm là Churchill của Đông Nam Á. Nhưng ông Johnson cũng báo cáo với tổng thống rằng theo ý kiến của ông, Hoa Kỳ hoặc là phải cam kết tiếp tục hành động quân sự mạnh hơn, hoặc là phải bỏ cuộc (rút lui khỏi miền Nam Việt Nam ) khi mà còn có Ngô Đình Diệm dính líu vào cuộc. KHI ông Diệm yêu cầu ông Kennedy gửi thêm 100,000 quân Mỹ vào chiến đấu ở miền Nam, THÌ ông Kennedy lại từ chối, mà chỉ đồng ý viện trợ để huấn luyện thêm 30 ngàn quân lính miền Nam Việt Nam mà thôi.

16.- Những bước đầu tiên trong việc mở rộng sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam đã gây ra tình trạng chia rẽ trong chính quyền Kennedy. Thứ Trưởng Ngoại Giao U. Alexis Johnson đề nghị phải gửi quân Mỹ chiến đấu đến Việt Nam. Đề nghị của ông Johnson được Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân ủng hộ. Vị tướng này yêu cầu Tổng Thống Kennedy gửi 40.000 quân Mỹ đến Việt Nam để đối phó với Việt Cộng. Những người khác ủng hộ việc gửi quân thêm đến Việt Nam gồm có (1) ông William Bundy, cố vấn chính quyền, ông này cổ vũ Mỹ phải đánh mạnh ngay từ đầu, (2) Tướng Maxwell Taylor, một vị phụ tá khả tín đặc trách về quân sự. Tướng Taylor cũng đã đến Việt Nam, cũng đã gặp và nói chuyện với ông Diệm. Tướng Taylor thôi thúc phải gửi từ 6 ngàn đến 8 ngàn bộ quân Hoa Kỳ đến chiến đấu Việt Nam, nhưng ông cũng cảnh báo là sẽ tổn thất nếu thực sự phải chiến đấu. Tại một cuộc họp báo loan tin về Tướng Taylor đến Việt Nam, Tổng Thống Kennedy gọi đó là cuộc sưu khảo tìm hiểu về kinh tế. Tuy nhiên, các nhà báo lại thắc mắc là tại sao một vị cố vấn trưởng về quân sự của tổng thống phải đến Việt Nam để lượng định về kinh tế?

Ông William Bundy Maxwell Taylor
Ông William Bundy (trái) Tướng Maxwell Taylor (phải)

17.- Khi Tướng Taylor đến Việt Nam Taylor, ông Diệm đưa ra lời tuyên bố rằng, đất nước ở trong tình trạng khẩn cấp, rồi yêu cầu Mỹ phải viện trợ không yểm (yểm trợ bằng không quân) và thỉnh cầu Mỹ ký một thỏa hiệp phòng thủ hỗ tương giữa miền Nam và Hoa Kỳ. Ông Diệm cũng yêu cầu Mỹ giúp cho chương trình cứu trơ nạn nhân nước lụt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng, Tướng Taylor cũng đề nghị nên gứi quân Mỹ chiến đấu đến Việt Nam cùng các đơn vị không vận bằng trực thăng và đề nghị chấp thuân chương trình cứu trợ nạn nhân bão lụt (mà ông Diệm đã yêu cầu). Các đề nghị của Tướng Taylor được sự tán đồng của Tổng Tham Mưu Liên Quân cũng như của Bộ Trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara và Thứ Trưởng Quốc Phòng Roswell Gilpatrick. Ngoại trưởng Dean Rusk phản đối vì ngần ngại về đề nghị đưa quân đội Mỹ chiến đấu trên bộ đến Việt Nam. Những người khác chống đối việc gửi quân Mỹ đến Việt Nam có Đại Sứ W. Averell Harriman và Thứ Trưởng Ngoại Giao Chester B. Bowles.

Dean Rusk Chester B. Bowles W. Averell Harriman
1. Ngoại trưởng Dean Rusk -2. Đại Sứ W. Averell Harriman -3. Thứ Trưởng Ngoại Giao Chester B. Bowles.

18.- Trong số các cố vấn của Kennedy kêu gọi mở rộng sự tham gia của Mỹ ở Việt Nam, ông Walt Rostow, Phó William Bundy là mạnh mẽ nhất.

Ông Walt Rostow
Ông Walt Rostow

Mùa xuân năm 1961, ông Rostow trình lên Tổng Thống Kennedy một loạt chi tiết về các đề xuất liên quan đến mục tiêu xa hơn của Mỹ tại Việt Nam. Ông Rostow là một kiến trúc sư của chương trình chống nổi dậy, theo đó thì Hoa Kỳ sẽ sử dụng các hoạt động bí mật và dùng quân đội phụ lực (biệt kích) để chống lại Việt Cộng.

Trong các đề nghị của ông Rostow, có (1) đề nghị Phó Tổng Thống đến tham quan Việt Nam, (2) chọn một nhân vật ở Washington đảm nhiệm công việc giám sát các chính sách của Mỹ ở Việt Nam, (3) tăng cường nhân sự cho cơ quan MAAG, (4) tang cường lực lượng Đặc Biệt ở Việt Nam, và (5) đặc biệt là phải thuyết phục ông Diệm mở rộng chế độ của ông ta. Sau khi điều nghiên bản đề nghị nghi ông Rostow, Tổng Thống Kennedy đồng ý việc thực hiện tất cả những gì ông Rostow đã đưa ra, ngoại trừ việc chon một nhân vật ở Washington để quản lý các chính sách Mỹ ở Việt Nam. (Theo tài liệu của Ngũ Giác Đài, Tướng Không Quân Edward Lansdale có thể được chọn để đảm nhiển chức vụ quản lý các chính sách Mỹ ở Việt Nam..

19.- Quyết định quan trọng thứ hai về chính sách của Mỳ ở Việt Nam trong năm 1961 là từ chối các đề xuất gửi một số lượng lớn quân chiến đấu Mỹ đến Việt Nam để giúp chống Việt Cộng. Tổng thống Kennedy nói với các cố vấn của ông rằng ông không muốn tạo ra một tình huống trong đó quân đội Mỹ sẽ phải chiến đấu bằng một số lớn bộ quân ở Châu Á. Một trong những nhân vật nắm giữ vai trò có liên hệ đến cuộc chiến ở Việt Nam tranh luận về nhân vật đáng tin tưởng cho Tổng Thống Kennedy tham vấn là cựu Tướng Douglas MacArthur. Vị tướng già này cảnh báo tổng thống, chống lại việc cho phép quân đội Mỹ chiến đấu ở Việt Nam sẽ rơi vào tình trạngị sa lầy của một cuộc chiến trên đất liền.

20.- Thay vì gửi quan lính đánh bộ như chiến tranh quy ước đòi hỏi, tổng thống ra lệnh cho Bộ Quốc Phòng tăng cường kế hoạch chống du kích bằng cách gửi một số lớn cố vấn dân sự đến Việt Nam đảm trách công việc huấn luyện quân đội miền Nam để cho họ tự bảo vệ miền Nam. Vấn đề – trang bị về truyền thông cũng như vấn đề tiếp liệu về quân – trang, quân cụ và vũ khí kể cả phi cơ trực thăng sẽ được gửi đến cho chính quyền Diệm, nhưng không có bộ đội Mỹ chiến đấu ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng vào thời điểm này (đầu vào năm 1961), chính quyền Mỹ cũng dự trù nếu cần thì sẽ gửi quân đội Mỹ đến Việt Nam.

Ngô Đình Diệm

21.- Ông Diệm đã mau lẹ phản ứng những quyết định của Tổng Thống Kennedy về chính quyền của ông ta và khăng khằng cho rằng quân đội Hoa Kỳ chiến đấu là cần thiết để đánh bại Cộng Sản. Ông Diệm cũng thỉnh cầu Đai Sứ Hoa Kỳ Frederick Nolting điện về Washington báo cáo rằng ông Diệm đang cứu xét việc thỉnh cầu chính quyền Trung Hoa Quốc Gia Đài Loan gửi một sư đoàn đến chiến đấu ở Việt Nam. Khi ông Diệm bị Hoa Kỳ phiền giận và mất thiện cảm, thì ông ta bắt đầu đẩy mạnh các chiến dịch đàn áp những thành phần đối lập và chống đối. Trong khi đó thì Tổng Thống Kennedy điều nghiên bản báo cáo của Phái Đoàn Taylor và cuối cùng ông quyết định chọn giải pháp trung dung do cả hai ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Rusk và Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara đề nghị. Hoa Kỳ sẽ không để cho miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, nhưng tạm thời vào lúc đó, sẽ không gửi quân đến Việt Nam . Ông Diệm phải thực thi cải tổ chính quyền một cách sâu rộng.

22.- Mặc dù có những mục tiêu cao cả, cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành một bài học lịch sử. Vào Nam 1962, đã có 11 ngàn quân Mỹ trú đóng ở miền Nam Việt Nam để vừa cố vấn vừa hỗ trợ cho các đơn vị quân đội miền Nam. Phi công Hoa Kỳ đảm nhiệm các phi vụ và trực tiếp đối đầu với địch quân. Cho đến thời điểm này, con số thương vong quân đội Mỹ đã lên đến 109 người. Cũng trong năm này, Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara nói rằng đã có tiến bộ rất nhiều trong cuộc chiến và đề nghịi rút quân về nước.

23.- Tháng 10 năm 1963, có tới hơn 16.000 quân đội Mỹ đồn trú tại Việt Nam, và con số thương vong đã lên đến hàng trăm.

lính Mỹ bị thương

Mùa hè năm đó, chế độ Diệm công khai phát động cuộc chiến tấn công mạnh vào Phật giáo, một tôn giáo của đại đa số người Việt Nam. Việc này do chính Tổng Thống Diệm cùng với người em là ông Ngô Đình Nhu và người em dâu ưa thích khoa trương là Bà Ngô Đình Nhu chủ mưu và chủ động sẽ gây ra nhiều hẩu quả tai hại.

Họ ra lệnh (1) đóng cửa các trường học của Phật Giáo, (2) bắt giữ bừa bãi các nhân vật lãnh đạo Phật giáo chống đối. Hơn thế nữa, họ ra lệnh các đạo quân tinh nhuệ tấn công các cuộc biểu tình của Phật giáo, bắt bớ và giam cầm hàng trăm người. Rồi một nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu trong một cuộc biểu tình chống chính quyền ở ngay trong đường phố đông người ở Sàigòn.

Cuộc tự thiêu vĩ đại của Hòa Thượng Thích Quảng Đức

Anh em Nhà Ngô tin rằng cuộc nổi dậy của Phật giáo là do Cộng Sản xúi giục, và bà Ngô Đình Nhu, thường được gọi là “con Rồng Cái”, nói bằng giọng điệu thiếu văn hóa rằng, bà ta sẽ rất lấy làm thích thú nhìn thấy có thêm nhiều vụ “nướng các nhà sư” (như vậy).

bà Ngô Đình Nhu
bà Ngô Đình Nhu

24.- Hầu hết những hình ảnh về các hành động bạo lực gây ra bởi chế độ Diệm chống lại đại khối Phật giáo có tinh thần hòa bình đã được đưa lên các màn ảnh truyền hình ở Mỹ. Phản ứng từ Tòa Bạch Ốc rất nhanh chóng. Tổng thống Kennedy lên án những hành động bạo lực này và kêu gọi ông Diệm phải ổn định (quản lý) gia đình của ông . Cùng lúc đó, Đại-Sử Nolting bị triệu hồi về Hoa Kỳ và Đại Sử Henry Cabot Loghe được bổ nhiệm đến thay thế (vào tháng 8/1963). Đại Sứ Lodge nhận được một điện tín từ Washington của quyền Ngoại Trưởng George Ball. Bản điện tín này nói rằng ông Diệm phải tống cổ người em tham nhũng và người em dâu khoa trương ra khỏi chính quyền nếu ông ta còn hy vọng được Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ.. Trong một bản báo cáo gửi về Thủ Đô Washington D.C., ông Đại-sứ Lodge nói rằng cơ may hy vọngi ông Diệm sẽ làm theo đòi hỏi của Hoa Kỳ thực sự chỉ là con số không. Ảnh hưởng của các cuộc nổi dậy của Phật Giáo trong mùa hè năm 1963 đã trở thành những đòn sấm sét đưa đến cuộc đảo chính chấm dứt số phận của cả ông Diệm và ông Nhu.

25.- Những nỗ lực đảo chính đầu tiên chống lại Diệm khởi sự vào năm 1963, khi Đại Tá CIA Lucien Conein bí mật gặp một số sĩ quan cao cấp trong quân đội miền Nam, trong đó có các tướng Dương Văn Minh (cồ), Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim và Trần Thiện Khiêm. Conein là một cựu chiến binh đã từng phục vụ trong Sở Chiến Lược của Hoa Kỳ (một tổ chức tiền thân của CIA) thời Đệ Nhị Thế Chiến và đã có những lời nhận xét rất tốt về ông Diệm. Công việc của ông ta là hành động như một vai trò trung gian giữa các tướng lánh đảo chánh và Tòa Đại Sư Mỹ. Trong cuộc họp mặt khởi đầu, Tướng Minh thẳng thắn nói rằng cần phải khử diệt cả Diệm lẫn Nhu. Hay tin này, Đại Sư Lodge liền báo cáo về Washington. Khi nhận được báo cáo về cuộc họp bí mật trên đây, Tổng Thống Kennedy hồi âm bằng lời tuyên bố rằng không thể quay ngược trở lại được.

26.- Trong các cuộc thảo luận với các tướng đảo chánh, Conein nói với họ rằng Hoa Kỳ không thể có bất cứ sự giúp đỡ nào trong hành động khởi đầu để chiếm chính quyền.Thắng hay bại hoàn toàn là do chính họ. Vào cuối tháng 8, chính quyền Kennedy lại gửi cho các tướng đảo chánh một bản điệp văn khác với lời lẽ mạnh hơn, nói rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ một cuộc đảo chánh Nếu cuộc đảo chánh đó có cơ may thành công, nhưng không cho phép quân đội Hoa Kỳ tham dự vào cuộc đảo chánh này. Đồng thời, Tổng Thống Kennedy cũng nói với Đại-sứ Lodge rằng Nếu Washington khởi sự đình chỉ viện trợ cho chế độ Diệm thì càng tốt…

27.- Theo bản cáo về vụ ám sát (ông Diệm) do Ủy Ban Thượng Viện Chọn Lọc về Tình Báo năm 1975, cuộc đảo chánh khởi đầu thất bại vì các tướng lãnh (trong quân đội miền Nam) thấy rằng chưa sẵn sàng và không tập trung đủ lực lựợng. Nếu ông Diệm không nhân thức được điểm này và không biết rằng việc ông nắm quyền chỉ là nhất thời, không thể kéo dài mãi mãi, hàng loạt những lời tuyền bố công khai của Hoa Thịnh Đốn (Washington) đã làm tan biến hết mọi mối nghi ngờ. Ngày 8 tháng 9 (năm 1963), ông David Bell, Giám Đốc Cơ Quan Phát Triến Quốc Tế, nói với phóng viên các đài truyền hình rằng, Nếu ông Diệm không mạnh mẽ tiến hành các cuộc cải cách theo như đỏi hỏi của Hoa Kỳ, THÌ Quốc Hội Hoa Kỳ có thế cắt thêm nhiều tài khoản viên trợ. Ngày 12/9 (1963), được sự chấp thuận của Tổng Thống, Thượng Nghị Sĩ Frank Church đề nghi Thượng Viện ban hành một quyết định lên án chính quyền miền Nam Việt Nam về những biện pháp đàn áp nhân dân và kêu gọi nên cắt đứt viện trợ cho chính quyền miền Nam.

Maxwell_D_Taylor
Tướng Maxwell D Taylor

28.- Tháng 10 năm 1963, Phái Đoàn McNamara và Tướng Taylor đến Sàigòn để tìm hiểu tình hình và thu thập dữ kiện.. Sau khi gặp Tổng Thống Diệm, phái đoàn đề nghị với Tổng Thống Kennedy rằng (1) Hoa Kỳ nên làm việc với ông Diệm, nhưng tạm thời giữ lại các khoản viện trợ về tài chánh và chính trị,, (2) rút về nước một ngàn quân nhân Mỹ vào cuối năm đó. Mối quan tâm quan trọng nhất của phái đoàn là Nếu làm như vậy mà không đưa đến kết quả, THÌ cứ để cho cuộc đảo chánh tiến hành.

29.- Tuy nhiên, Ngày 03 Tháng 10, Conein liên lạc với Tướng Minh. Tướng Minh nói với ông Conein rằng cuộc đảo chính sắp xẩy ra và yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ sau khi đã thành công. Trong cuộc thảo luận này, Tướng Minh tiết lộ kế hoạch ám sát cả ông Diệm lẫn ông Nhu. Ngày 5 tháng 10 năm 1963, theo bản Báo Cáo Về Vụ Ám Sát này, nhân vật trưởng trạm CIA ở Sàigòn báo cáo về Hoa Thinh Đốn rằng ông ta đã đề nghị với Đại-sứ Cabot Lodge rằng Hoa Kỳ không thế chống lại âm mưu ám sát bất khả cưỡng lại này.

30.- Cũng theo Báo Cáo Về Vụ Ám Sát này, Giám đốc CIA John McCone nói rằng, sau khi hội ý với cả Tổng Thống Kennedy và ông Tổng Trưởng Tư Pháp Roberrt Kennedy, ông tin rằng Tổng thống Kennedy đã đồng ý về đề nghị thâu thập các thông tin tình báo thích hợp về cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 dù là Tổng Thống Kennedy rất thận trọng về ông Diệm. Rõ ràng hơn nữa, ông McCone còn nói rằng trong khi nói chuyện với Tổng Thống Kennedy, đặc biệt là họ không nói gì về chuyện ám sát anh em ông Ngô Đình Diệm mà chỉ nói đến thái độ của Hoa Kỳ vào lúc đó hoặc là cứ để cho cuộc đảo chánh tiếp tục xẩy ra, hoặc là phảo nỗ lực tìm cách ngăn chặn, không để cho nó xẩy ra. Ông McCone rời khỏi cuộc họp và tin rằng Tổng Thống Kennedy có đồng quan niệm với ông Giám Đôc CIA là phủi tay, không muốn dính líu đến chuyện này.

31.- Tại Sài Gòn, Conein bí mật gặp Tướng Đôn, một trong những tướng chủ mưu đảo chính, nói với vị tướng này rằng Hoa Kỳ phản đối bất kỳ mọi ý đồ ám sát. Vị tướng này trả lời, được, các ông không thích như vậy, chúng tôi sẽ không nói đến vấn đề này nữa.

32.- Ngày 28 tháng 10, Tướng Đôn nói với Đại sứ Lodge rằng, chúng tôi sẽ nói với ông về kế hoạch đảo chánh trước khi chúng tôi tiến hành. Đại-sứ Lodge điện về Hoa Thịnh Đốn báo cáo rằng ông không thể làm gì được để ngăn chặn cuộc đảo chánh này. Đáp lại, Hoa Thịnh Đốn bảo Đại-sứ Lodge cố gắng thuyết phục các vị tướng lãnh này đừng có tiến hành cuộc đảo chánh. Về điểm nảy, cả Đại-sứ Lodge và bất kỳ viên chức chính quyền nào ở Hoa Thịnh cũng như ở Sàigòn đều không thể nào gây ảnh hưởng được với họ.

33.- Gần lúc rạng đông ngày 1/11/1963, quân lính miền Nam trung thành với các tướng đảo chánh đã được bố trí khắp nơi chung quanh Sàigòn. Họ đã chiếm tổng hành dinh cảnh sát, chiém các đài phát thanh và bắt đầu di chuyên tới dinh tổng thống (Dinh Gia Long). Các Tướng lãnh đạo cuộc đảo chánh chỉ báo cho Tòa Đại Sư Mỹ có 4 phút trước đó. Tình trạng này khiến cho Đại-sứ Lodge không có đủ thì giờ (thời gian) để phản ứng. Khi nói chuyện với ông Diệm, các tướng đảo chánh đòi rằng ông Diệm phải từ chức và họ sẽ bảo đảm cho mọi người trong gia đình ông Nhu được an toàn đi ra nước ngoài. Ông Diệm gọi điện thoại nói chuyện với Đai-sứ Lodge. Ông Lodge nói với ông Diệm rằng, Hoa Kỳ không thể hành động được gì .

34.- Tướng Minh gọi điện thoại nới với ông Diệm rằng nếu ông không từ chức ngay lập tức, thì dinh tổng thống (Dinh Gia Long) sẽ bị tấn công. Ông Diêm không trả lời. Các tướng đảo chánh hạ lệnh cho phi cơ oanh kích dinh tổng thống trước khi trời tối. Sáng sớm ngày 2/11/1963, ông Diệm gọi điện thoai nói chuyện với Tướng Đôn xin đầu hàng với điều kiện ông và những người thân tín cúa ông được an toàn đi ra nước ngoài. Tướng Đôn đồng ý, nhưng ông Diêm không nói cho Tướng Đôn biết ông ta đang ở đâu.

35.- Diệm và Nhu đã trốn thoát qua một đường hầm bí mật dưới dinh tổng thống và tìm đường đến Chợ Lớn, khu phố của người Hoa ở Sàigòn. Cho tới ngày nay, vấn đề này vẫn còn chưa được làm sáng tỏ, ông Diệm và ông Nhu đều bị theo dõi và bị quân lính trung thành với các tướng đảo chánh tóm cổ. Ngay sau đó, cả hai ông đều bị giết trong xe thiết giáp khi di chuyển về tòa nhà tổng hành dinh của Bộ TổngTham Mưu (ở Đường Võ Tánh, Gia Định).

36.- Tin ông Diệm và ông Nhu bị sát hai là cho Tổng Tống Kennedy choáng váng. Vụ giết người này không có trong ý muốn (trong thâm tâm của Tổng Thống Kennedy).

37.- Trong nhiều năm kế tiếp, một loạt các tướng lãnh nắm quyền cai trị Sàigòn trong khi cuộc chiến càng trở nên khốc liệt và chính quyền Mỹ càng can thiệp mạnh hơn vào cuộc chiến.

Sau khi anh em ông Diệm chết được ba tuần, chính Tổng Thống Kennedy cũng bị ám sát chết vào ngày 22/11/1963 ở Dallas. Dù rằng ở hậu trường, người Mỹ có can dự vào cái chết của anh em Nhà Ngô, nhưng Bản Cáo Về Vụ Ám Sát này vẫn kết luận rằng, chi tiết về cái chết của anh em ông Diệm vẫn chưa biết. Không có một nguồn thông tin nào cho thấy rằng có sự dính líu trực tiếp của Hoa Kỳ vào vụ nảy.

38.- Bài viết này do ông Peter Kross biên soạn và được công bố đầu tiên trong tạp chí Vietnam Magazine số ra tháng 10/2004.

http://www.historynet.com/the-assassination-of-ngo-dinh-diem.htm#comment-822525

Về quảng cáo

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s