CXN_012714_4069_Trần Đình Thiên này ngày càng mơ hồ và viễn vông như những thằng TS giấy Đông Âu chiên da KT: Để xoay chuyển, cần đột phá

Nguyễn Tấn Dũng Treo cổ2

Đảng Cộng Sản VN vẫn còn tôn thờ lối hành xử của (về Kinh Tế chủ đạo XHCN) Mao Trạch Đông (Con quỷ sống giết 52 triệu dân). Câu này vẫn còn trong Điều 1 Hiến Pháp nước CXXHCNVN..“Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

———————–——————

Châu Xuân Nguyễn

————

Đọc bài báo dưới đây của tay này, nói thì ko có gì sai nhưng hoàn toàn nói chung chung, không có thông tin bằng cách nào đột phá (tôi thì thấy hết gở rồi, quá nhiều vấn đề với mớ bòng bong ngày càng lớn này).
Cố gắng lắm thì tay này nói là chỉ cần đơn giản “xác lập cơ chế bảo đảm cho hệ thống giá vận hành theo đúng nguyên lý thị trường.”. Nếu dể như thế thì chỉ cần 3 D cũng làm được, cứ tăng giá điện, than, dầu gas thì “giải quyết khó khăn KT này” ???????

Những suy nghĩ của những tay này thật tình không có vĩ mô chút nào cả, cả một đống vấn đề, tôi chỉ kể ra theo trí nhớ thôi, còn nhiều nhiều nữa…BĐS, VLXD, thất nghiệp, DNNVV đóng cửa, sức mua, núi tồn kho, nợ xấu NH 1 triệu tỉ, DNNN tham nhũng và nợ 1,35 triệu tỉ, hụt thu thuế, bội chi ngân sách, nợ đọng cơ bản, đầu tư công gần như zero .v.v…Vậy mà tay này nghĩ chỉ cần “đột phá hệ thống giá cả thị trường”, tái cơ cấu DNNN và Nh cùng đầu tư công nhưng ko nói tái cơ cấu như thế nào, bằng cách gì, rõ ràng càng ngày chúng nó càng ngu muội và bó tay vì chúng nó đơn giản không biết bắt đầu giải quyết từ đâu, có trăm ngàn mối đan xen vào nhau, chỉ có một cách là dẹp hết, phá sản NH, phá sản DNNN, tịch thu 200 ngàn căn hộ, dẹp hết CS và nhóm lợi ích và có một CP mới thì mới giải quyết được thôi.

Chỉ có một biện pháp duy nhất là tất cả ngưng đọng lại, đâu đứng đó, thay đổi thể chế, bõ CS hay XHCN vì nó thất bại hoàn toàn, bầu cử tự do để có người tài, đủ kiến thức, kinh nghiệm và uy tín với 90 triệu đồng bào ta thì mới vực dậy KT và cuộc sống của dân tộc.

Khi một thể chế mới lên thì tất cả nợ loanh quanh sẽ tự nhiên phải khoanh lại, người người cố gắng thu nhập cho cuộc sống, mua sắm cái mới, tạo nguồn cầu cho nền kinh tế, phá sản những NH ngoắc ngoải, dư tiền cho DN mới vay, tích biên 200 ngàn căn hộ, bán rẻ cho dân với lãi suất lock-in (khoá lãi suất cố định, CP bù lỗ nếu lãi suất tăng cao sau này và CP hưởng lãi suất thặng dư nếu lãi suất thị trường thấp hơn LS lock-in.

Dĩ nhiên giải thể tất cả DNNN, khuếch trương công thương để xuất khẩu, tất cả những món hàng xuất khẩu phải qua “stringent export quality control” tức là tiêu chuẩn xuất khẩu cao để bảo vệ thương hiệu xuất khẩu và chử “Made in VN”, cùng lúc bảo vệ một nồi cơm lâu dài cho dân tộc ta. Từ những phát triển KT, sau 5 năm chúng ta củng cố quốc phòng và lấy lại Hoàng Sa. Cảnh sát sẽ theo tiêu chuẩn CS Úc, Y tế sẽ từ từ giảm bớt 4 hay 5 bệnh nhân trg 1 giuòng, Y tế dự phòng, VSATTP là hàng đầu để giảm thiểu số người nhập viện, giáo dục sẽ trở lại như thời kỳ VNCH nơi mà bằng cấp của du học sinh dc thế giới công nhận, tiếng Anh là bắt buộc vì đó là sự phát triển dân trí, khoa học, xã hội, kỹ thuật, an ninh, QP tất cả đều dùng Anh ngữ, ngay cả Google cũng là Anh Ngữ.

Cải cách hành chánh, đuổi việc 2/3, giử 1/3 và tăng lương gấp đôi, ai làm ko chạy việc thì cho nghĩ vì có 2/3 dự bị quen việc rồi, dĩ nhiên là thật tah2, minh bạch, ko tham nhũng và bắt buộc phải đối xử như công chức là công bộc người dân, ko hơn, ko kém, tất cả ý tưởng quan liêu, cửa quan cửa quyền sẽ bị đập bỏ.

Về ngoại giao sẽ nghiên về Mỹ nhưng không lệ thuộc Mỹ như VNCH hồi xưa (hồi xưa Mỹ viện trở VN vài tỉ usd, nay GDP 170 tỉ usd nên chúng ta sẽ mua vũ khí Mỹ, tham gia, tham chiến với 1 vài tiểu đoàn với Mỹ, dần dần tạo lòng tin để thành một thành viên của ANZUV–> trở thành ANVZUS (cái này rất rất khó nhé), được bảo vệ an ninh bời HK. Thiết lập lại biên giới Việt Hoa, đem trở lại hệ thống Visa, trục xuất tất cả những ai nhập cảnh lậu, lập phòng thủ Hà Nội và phía bắc VN, dùng 6 tàu Kilo tuần tiểu cùng với HK, Su-33 Mk2 12 chiếc sẽ đóng ở Đà Nẵng và Nội Bài, có thể Hải Phòng.-

An sinh xã hội thì sẽ có thất nghiệp, lương hưu cho bất cứ ai trên 65 ko phân biệt đảng phái, sẽ ko còn cảnh màn trời chiếu đất.

Khoa học kỹ nghệ sẽ dựa trên phát triển KT, công thương chứ ko hàn lâm, tất cả hổ trợ công thương, xuất khẩu. NHNN sẽ độc lập với CP, họ sẽ điều phối lãi suất, tỉ giá để thay đổi theo tình hình KT phát triển 9theo kiểu thắ chặt và thả ra theo dự đoán 2 hay 5 năm để ko giật cục)

VN là một nước nông nghiệp, sẽ ko còn TCT thực phẩm thu mua lúa giá rẻ, bán qua cty sân sau ở Sing rồi cty sân sau bán lại lãi gấp mười cho thị trường thế giới. CP HCS sẽ lập hiệp hội xuất khẩu gạo do chủ DN bầu ra và CP sẽ giúp xuất khảu qua ĐSQ cho những hiệp hội như thế này, VN phải xuất khảu hàng đầu và nông dân phải có cuộc sống ít nhất bằng ng thành thị (ở Úc, nông dân là loại rất giàu vì họ lập hội lúa mì, gạo và họ tự định giá, mỗi tấn XK trích vài aud để hiệp hội hoạt đọng, đính giá xuất khẩu vô vụ lợi như The Australian Wheat Board (HH Lúa mì), Ricegrowers’ Association of Australia

Bộ Kế Hoạch và Đầu tư sẽ dẫn đầu bởi một BT có đầy đủ kinh nghiệm và kiến thức như TS Alan Phan, người “đọc” dc suy nghĩ của nhà đầu tư ngoại quốc, biết họ muốn làm gì, nghề gì, xuất khẩu đi đâu, điều kiện nhân công thế nào, tỉnh nào có lợi thế nhất, vận tải thành phẩm và nguyên liệu như thế nào…Những thằng đầu đất như Bùi Quang Vinh thì chỉ đáng xách dép cho những người bảo vệ hay làm vệ sinh của Bộ KH và ĐT của CP HCS.
Một thằng đáng xách dép cho bảo vệ Bộ GT là Đinh La Thăng….Sẽ nghiên cứu và nếu có tiền sẽ làm đường sắt khổ rộng đồng nhất cho VN, đường xá, cầu cống sẽ đấu thầu tư nhân từ A tới Z, Tư vấn giám sát bước đầu là ngoại quốc hay cty VN chỉnh chu, ko móc ngoạc nhà thầu v.v..Dẹp hết những cty cầu đường của BGT & VT
Bộ Xây Dựng cũng phải rất tinh tường về nhu cầu của nhưng building công cộng, có thể trách nhiệm điện lạnh, bảo trì và xây dụng những bld mới của công sở, quản lý nhà chính phủ cho thuê v.v..
Bộ Tài nguyên môi trường sẽ tách ra thành 3 Bộ là Môi Trường, Khoáng sản và Đất đai. KS sẽ giám sát cty tư nhân khai thác đồng, chì, dầu mỏ, than, titanium, Tungsten v.v… Bộ MT sẽ có nhiệm vụ rất cao là giữ môi trường như của Úc Dept of Environment. Bộ đất đai sẽ trách nhiệm lưu trử tất cả nhưng tài liệu sở hữu đất (sẽ trả đất cho dân oan và nhà nước ko quản lý đất đai nữa, sẽ ko còn chuyện quyền sử dụng đất mà chỉ còn là quyền sở hữu đất như Úc thôi)
Bộ LĐ TBXH sẽ lo QĐ về hưu, tàn phế ko kể CS hay VNCH
Bộ thông tin sẽ hoàn toàn báo tư nhân nhưng sẽ giới hạn chứ ko là 700 tờ báo. Đài TH sẽ như Úc, một đài của CP ko lấy quảng cáo thương mại (vì giá quảng cáo rất dễ che giấu, ko có giá “thị trường”, người Úc rất kỹ, CP ko bao giờ dính vào những gì mà từ ngoài nhìn vào ng ta có thể tố cáo tham nhũng)
Bộ VHTTDL, sẽ phải quảng bá hình ảnh du lịch VN với Úc (gần, nhiều tiền, sẽ ngày càng tăng thị phần so với Bali, nhưng chúng ta phải hiếu khách, môi trường tốt, ko chặt chém, giúp đở nhỏ nhặt nếu ko là bộ phận giá của tour) và dĩ nhiên BT phải rành về sở thích của khách du lịch, quảng bá hình ảnh du lịch của VN, CS ko ăn hối lộ v.v..
Đó là vài điều suy nghĩ về một VN tương lai mà bây giờ tôi ko ngại đăng, ko ngại CS bắt chước vì chúng sắp sập rồi, còn gì nữa để chúng cải cách.
Với một người lãnh đạo mới, một ê-kíp có cùng khả năng, nguyện vọng phục vụ, có thành tích quản lý KT thì tôi tin rằng 90 triệu người sẽ hưởng ứng và cúng nhau xây dựng lại một tương lai VN ấm no, công bình, bác ái, thịnh vượng và văn minh

Trong khi chờ đợi, chúng ta vẫn phải ngưng đóng thuế.

Melbourne
27.01.2014
Châu Xuân Nguyễn

————————-
http://sgtt.vn/Goc-nhin/186627/De-xoay-chuyen-can-dot-pha.html

Ngày 25.01.2014, 08:12 (GMT+7)

Kinh tế Việt Nam 2014

Để xoay chuyển, cần đột phá

Đồ thị tăng trưởng GDP năm 2013 của Việt Nam, giống như nhiều năm trước, vẫn diễn ra theo xu hướng “quý sau cao hơn quý trước”. Thành tích tăng trưởng từng năm nhưng đo theo quý này vừa phản ánh được một xu hướng có thực, vừa gây ấn tượng về sự chuyển biến tích cực của tình hình, mang lại cảm giác về sự tốt lên rõ rệt, tạo niềm tin về khả năng “thoát đáy” và phục hồi nhanh chóng mặc dù trên thực tế, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với khó khăn kéo dài.

1. Điều dễ nhận thấy trong đồ thị tăng trưởng GDP là mấy năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP tính theo năm đều rất thấp – thấp nhất trong 13 năm trở lại đây. Như vậy việc cải thiện tốc độ tăng trưởng theo quý đã không ảnh hưởng gì đến “đại cục hàng năm” của GDP: tốc độ tăng trưởng theo năm vẫn “tụt xuống” hoặc “đi ngang” ở đáy trong nhiều năm liền. Nghĩa là ngược lại với cảm giác tăng trưởng được cải thiện rõ rệt do cách tính theo quý mang lại, hoá ra khi tính theo năm, nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi tình trạng bị “tắc nghẽn tăng trưởng” (đồ thị 1).

 

Tốc độ tăng trưởng GDP 2006 – 2013 (%)

Phối hợp cách đo tăng trưởng GDP cả theo quý lẫn theo năm, có thể nhận định: sự vươn lên trong suốt mỗi năm của nền kinh tế trong thời gian qua chỉ là kết quả được coi là tích cực của những nỗ lực ngắn hạn, không đủ để xoay chuyển tình hình. Số doanh nghiệp đóng cửa năm 2013 vẫn nhiều không kém các năm trước, còn số doanh nghiệp kinh doanh lỗ vốn chiếm tới 2/3 số doanh nghiệp đang hoạt động; ngân sách nhà nước gặp khó khăn, nhập siêu từ Trung Quốc tăng vọt (hơn 21 tỉ USD năm 2013). Và điểm mấu chốt: quá trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng diễn ra chậm, chưa có bước tiến căn bản và chưa có dấu hiệu làm xoay chuyển tình hình.

2. Tuy nhiên, tình hình kinh tế năm 2013 có một điểm khác biệt căn bản: sau nhiều năm, quy luật “hai năm lên, một năm xuống” của lạm phát đã bị “chặn” lại. Không nghi ngờ gì, chỉ số CPI khá thấp, thấp hơn nhiều so với những năm 2012 và 2013 là kết quả tích cực của những nỗ lực to lớn nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô của Chính phủ. Kéo theo mức lạm phát thấp là xu hướng cải thiện rõ ràng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng: lãi suất hạ thấp, thanh khoản tốt lên, tỷ giá ổn định và dự trữ ngoại hối tăng.

Nhưng trong cái tốt lên đó, theo đúng quy luật trả giá của kinh tế học, có vài điều đáng lo ngại: mức tăng trưởng tín dụng thấp, phản ánh khả năng duy trì và phục hồi “sức khoẻ” của các doanh nghiệp nội địa yếu; và chênh lệch giữa mức mất giá tiền tệ do lạm phát cao kéo dài gây ra với sức mua đối ngoại của đồng tiền Việt Nam (tỷ giá hối đoái) vốn đã lớn tiếp tục gia tăng. Chính sách duy trì tỷ giá cơ bản ổn định (theo cách diễn đạt của ngân hàng Nhà nước là có “linh hoạt” chứ không “bất động”, nhưng thực tế chỉ linh hoạt trong một biên độ rất hẹp so với mức lạm phát) vẫn được thực thi và chưa có dấu hiệu thay đổi (đồ thị 2).

 

Tỷ giá “vô cảm” với CPI,

Có thể coi đây là hai điểm tắc nghẽn khó tháo gỡ bậc nhất hiện nay. Chúng gây tác động tổ hợp: chế độ tỷ giá đánh giá cao đồng nội tệ có tác động khuyến khích nhập khẩu, ít hỗ trợ sản xuất trong nước và không thúc đẩy xuất khẩu. Với hai điểm “tắc nghẽn” nêu trên, dù cân đo theo chiều nào, năng lực trả nợ công – thể hiện ở năng lực tăng thu ngân sách (trả nợ trong nước) và năng lực tăng trưởng xuất khẩu, trong quan hệ với tăng trưởng nhập khẩu (trả nợ nước ngoài) đều có nguy cơ suy giảm nhanh. Mức độ an toàn nợ công, vì thế, sẽ giảm mạnh.

3. Một vấn đề lớn khác của năm 2013 và cả vài năm trước để lại là đến nay, nhiệm vụ tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng, dù được xác định là nhiệm vụ chiến lược ưu tiên, vẫn chưa được triển khai đúng tầm và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách về thời gian. Tại sao vấn đề quan trọng sống còn như vậy, được thảo luận khoa học rất nhiều, được dành quyết tâm cao ít thấy mà mãi không triển khai được?

Xin mạo muội chỉ ra vài nguyên nhân được coi là chính:

Một là chưa định vị được trục chính, xuyên suốt của công cuộc tái cơ cấu. Khi xác định tái cơ cấu là thay đổi hệ thống phân bổ nguồn lực theo hướng ngày càng “thị trường lành mạnh” thì điểm mấu chốt phải là xác lập cơ chế bảo đảm cho hệ thống giá vận hành theo đúng nguyên lý thị trường. Không có hệ thống giá cả này, mọi nỗ lực tái cơ cấu đều khó mang lại hiệu quả cần có. Tuy nhiên, trên thực tế, trong mấy năm qua, vận hành của các yếu tố chủ yếu quyết định hệ thống giá của nền kinh tế – giá năng lượng (than, điện, xăng dầu), giá đất đai – nguồn lực đầu vào cơ bản của mọi hoạt động kinh tế, thị trường tài sản lớn nhất của nền kinh tế, giá vốn (lãi suất và tỷ giá hối đoái) và tiền lương trong khu vực nhà nước (giá lao động – cũng là một loại đầu vào cơ bản) – vẫn bị chi phối mạnh mẽ bởi nguyên tắc can thiệp hành chính trực tiếp. Với hệ thống giá đó, cơ cấu kinh tế không thể không méo mó nghiêm trọng.

Hai là phạm vi tái cơ cấu, dù đã được khuôn lại trong ba tuyến trục, vẫn quá lớn, đặc biệt là khi đặt trong bối cảnh năng lực tái cơ cấu, bao gồm năng lực tài chính, rất yếu. Với phạm vi đó, cách thức tiến hành tái cơ cấu mang nặng dáng dấp “đồng khởi”, “phong trào”; do vậy càng khó triển khai trên thực tế. Đó là chưa kể đến tình huống trong chương trình chi tiêu ngân sách quốc gia, cho đến nay, vẫn chưa thấy có nguồn lực tài chính nào được dành cho công cuộc tái cơ cấu theo đúng nghĩa chiến lược.

Ba là tái cơ cấu chắc chắn đụng chạm mạnh đến các nhóm lợi ích. Tuy nhiên, sự va đụng này cũng chưa được nghiên cứu sâu để có các chính sách ứng xử, đối phó thích hợp.

Như lập luận của nhiều công trình phân tích, chưa có tái cơ cấu trên thực tế thì không thể xoay chuyển tình hình, rằng cho dù tốc độ tăng trưởng có được cải thiện bằng việc ưu tiên đổ vào đó các nguồn lực thì về bản chất, sự cải thiện đó, do vẫn diễn ra theo mô hình tăng trưởng cũ, trong khuôn khổ các trục trặc cơ cấu chưa được khắc phục, sẽ đòi hỏi nhiều chi phí hơn và còn làm tích đọng thêm các mất cân đối cơ cấu lớn cho nền kinh tế.

4. Các nhóm luận cứ nói trên chưa phản ánh hết những đường nét chính của tình hình kinh tế vĩ mô năm 2013, tuy nhiên, có thể gợi ra một vài khía cạnh quan trọng để nhận diện tình hình kinh tế năm 2014 và sau đó.

Thứ nhất, các nỗ lực ngắn hạn, dù lớn đến đâu, may lắm cũng chỉ mang lại những cải thiện ngắn hạn và cục bộ. Chúng không thể làm xoay chuyển tình hình, không thể giúp xác lập cơ cấu và mô hình tăng trưởng mới. Việc kéo dài các hành động nhằm các mục tiêu cải thiện tình hình ngắn hạn thậm chí còn làm cho tình hình sẽ trở nên trầm trọng hơn, giá phải trả để khắc phục các vấn đề cơ cấu sẽ ngày càng đắt. Do vậy, phải bỏ cách làm cũ của mấy năm nay, tiếp cận xử lý vấn đề theo tinh thần đột phá: kiên quyết dành ưu tiên cho nhiệm vụ tái cơ cấu ở tầm chiến lược, nhanh chóng thay đổi hệ thống phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia, thay vì nỗ lực ưu tiên cải thiện tốc độ tăng trưởng và ổn định vĩ mô chủ yếu vẫn trên nền tảng mô hình tăng trưởng cũ.

Thứ hai, phải định vị lại trục trung tâm và xuyên suốt của quá trình tái cơ cấu – hướng tới mục tiêu xác lập nhanh cơ chế vận hành toàn bộ hệ thống giá theo nguyên tắc thị trường, trong đó, nhiệm vụ ưu tiên đã “thị trường hoá” giá cả bốn nhóm nguồn lực – đầu vào cơ bản nêu trên. Chỉ trên cơ sở xác lập yếu tố trung tâm quyết định hệ thống phân bổ nguồn lực như vậy, việc tái cơ cấu “ba tuyến trọng tâm ưu tiên” (đầu tư công, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, hệ thống các ngân hàng thương mại) mới có thể diễn ra để thu được kết quả mong đợi. Trên nền tảng hệ thống giá này, mới có thể xác định được nội dung tái cơ cấu cụ thể cho mỗi tuyến, cũng như cách “ứng xử” phù hợp với từng nhóm lợi ích.

Thứ ba, nhất thiết phải ưu tiên dành cho công cuộc tái cơ cấu nguồn lực thích đáng trong kế hoạch chi tiêu ngân sách quốc gia. Đây là một thách thức lớn cho cả nền kinh tế trong bối cảnh cả ngân sách nhà nước lẫn khu vực doanh nghiệp đều gặp khó khăn lớn về thực lực tài chính. Nhưng một bản đề án tái cơ cấu tốt, khi mang lại niềm tin cho xã hội và cộng đồng quốc tế về triển vọng sáng sủa của nền kinh tế Việt Nam, cũng sẽ mang lại cơ hội tiếp cận nguồn lực đó – dù đó là nguồn lực vay do bán tài sản nhà nước hay đi vay, do vay trong nước hay vay ngoài nước.

Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2014 được xác lập trong tương quan lựa chọn hai loại phương án ưu tiên nêu trên.

Không thể trông cậy vào một phép mầu của tái cơ cấu để ngay trong một năm, vực dậy mức tăng trưởng cao và sự ổn định vĩ mô vững chắc. Nhưng rõ ràng, việc sao lãng mục tiêu tái cơ cấu, thiên lệch sự ưu tiên sang phía nhanh chóng cải thiện tình hình bằng cách tăng trưởng đầu tư trên nền tảng mô hình tăng trưởng và cơ cấu cũ sẽ dẫn đến sự khó khăn đột biến và khó hình dung cho nền kinh tế.

Chính áp lực đó tạo niềm tin về phương án được chọn để giải quyết vấn đề trong năm tới, do đó, cũng là niềm tin về triển vọng chiến lược sáng sủa lâu bền của nền kinh tế.

Trần Đình Thiên (viện Kinh tế Việt Nam)

Advertisements

3 comments on “CXN_012714_4069_Trần Đình Thiên này ngày càng mơ hồ và viễn vông như những thằng TS giấy Đông Âu chiên da KT: Để xoay chuyển, cần đột phá

  1. Với 68 năm rồi không thể tái lòng tin ở người dân được nữa đâu,giờ xoay chuyển đi để dể và mau sập sớm cho dân nhờ,đột phá đi để phá hủy mọi hệ thống điều hành của loài quỉ đỏ khát máu và khác máu bán nước hại dân,dân không còn đủ nghị lực và niềm tin với csvn nữa đâu

    Like

  2. kinh thế việt nam đang xoay chuyễn rất mạnh,TỪ BỊ THƯƠNG SANG HẤP HỐI BẤT ĐÔNG CHỜ TẮT THỞ ĐEM CHÔN LÀ XONG./.

    Like

  3. Đưa 3x, (trình độ chính thức là bằng y tá trong rừng U Minh) lên làm tt thì chỉ có ở một nước độc tài đảng trị nhơ ở VN mà thôi. 3x chết thì chết nhưng nếu như T lú và đồng bọn dám để cho nhân dân được bầu cử tự do, có giám sát quốc tế để đảng khỏi chơi quả lừa như từ trước đến nay, không đời nào cử tri lại bầu cho ứng viên của đảng vì họ đã mất sạch niềm tin rồi. Chính vì thế mà trong HP 2013, điều 4 vô lý vẫn cứ ngang nhiên tồn tại. Và với chế độ công an trị đồ sộ, tàn bạo, đảng vẫn còn ngồi trên ghế cai trị nhân dân nhưng bây giờ người ta đã nhìn thấy ngày tàn của nó. Vấn đề là ngày đó đến sớm hay muộn mà thôi.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s