Thêm phân tích về Đèn Cù

Xăng phản đối giá cao

Đèn Cù tập II: Tư duy, đối xử với kiều bào và quan hệ Tàu

Đèn Cù Tập II có dành vài chương để viết về sự sụp đổ của các chế độ XHCN bên Đông Âu, và một số suy nghĩ của giới lãnh đạo chóp bu. Qua đó, chúng ta cũng có thể có vài ý niệm về suy nghĩ của các vị đang nắm quyền lèo lái con thuyền đất nước thời đó. Không nói ra thì chắc nhiều người cũng có thể đoán được là tư duy của họ còn rất nhiều hạn chế.
Chuyện tư duy
Chúng ta biết rằng ông Lý Quang Diệu được đánh giá cao ở Việt Nam và trên thế giới. Dù người ta không mặn mà với kỉ luật sắt của Singapore, nhưng ai cũng phải công nhận ông là một người có tài chiến lược. Có người tặng cho ông danh hiệu nhà độc tài tốt bụng (benevolent dictator). Nhưng có thời ở Việt Nam, ông Lý Quang Điệu là một đối tượng bị báo chí Nhà nước chửi như tát nước. Tay sai đế quốc. Chống cộng. Chống nhân dân Việt Nam. Ông Diệu được giới lãnh đạo VN tặng cho rất nhiều cái nón.
Nhưng đùng một cái, VN “mặn nồng” với ông Lý Quang Diệu. Ông Võ Văn Kiệt từng mời ông Diệu làm cố vấn và cộng tác. Nhưng ông Diệu từ chối, và nói rằng nếu không có Mĩ gật đầu thì VN vô phương phát triển. Ông Diệu nói rằng Mĩ là chìa khoá, Mĩ là động cơ để phát triển. Ngay cả Tàu cũng phải ôm lấy Mĩ mà phát triển, thì VN không nên xem thường Mĩ.
Sau 1975, một nhóm chuyên gia kinh tế báo cáo cho ông Lê Duẩn rằng các nước như Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiến mạnh là nhờ làm gia công cho các nước giàu có. Nghe xong, Lê Duẩn nạt lại: Lại muốn học chúng làm nô lệ ư? Mà, chẳng phải ông Lê Duẩn mới có tư duy bảo thủ và ngạo mạn đó, ông Tố Hữu cũng thế. Khi một thứ trưởng Bộ Y tế trình rằng các hãng dược phẩm ở miền Nam lúc đó đang thất nghiệp, và ông đề nghị làm thuốc kháng sinh cho khối Comecon. Tố Hữu quát: Trẻ con! Độc lập mà đi gia công?! Anh tưởng Comecon mà không ngoạm nhau à? (Trang 282). Tư duy kinh tế của giới lãnh đạo VN thời mới thắng cuộc là như thế.
Mãi đến 1999, khi VN kí hiệp định thương mại với Mĩ, mà vẫn có vài người có tư duy chống Mĩ! Trong Đèn Cù, tác giả Trần Đĩnh kể rằng sau khi hiệp thương được kí 2 ngày thì Đỗ Mười chỉ thị phải nhớ rằng Mĩ vẫn là kẻ thù của VN và của thế giới. Đỗ Mười còn nói ai thò tay kí vào hiệp thương thì đáng tội “bán nước”. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, người tích cực vận động cho hiệp định, sau đó phải “ra đi”, nói đúng hơn là bị truất phế khỏi chức bộ trưởng.
Đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc
Có thể nói rằng “thành tích” đối xử với Việt kiều và người ngoại quốc của VN không có gì đáng khoe. Nói đúng ra là họ có thái độ hai mặt, ngoài mặt thì nói hay, đằng sau lưng thì nói xấu. Trong Đèn Cù tập II, Trần Đĩnh kể nhiều chuyện cho thấy thái độ xảo trá như thế.
Đặng Chấn Liêu là một quan chức của Liên Hiệp Quốc, theo tiếng gọi của cụ Hồ về Việt Nam đóng góp xây dựng XHCN. Ông trở thành chủ nhiệm bộ môn tiếng Anh của Đại học Sư phạm Hà Nội. Tuy nhiên, ông lại là nạn nhân của Hoàng Văn Hoan, người nghi ngờ ông Liêu là tình báo của Anh. Ông Liêu còn dính dáng vào vụ “án xét lại”, nên lao đao ở Hà Nội một thời gian dài. Những người đau khổ thường có khả năng đúc kết triết lí cuộc đời rất hay. Trong một cuộc trò chuyện cùng Trần Đĩnh và Gs Tôn Thất Tùng, ông Đặng Chấn Liêu tổng kết quan sát về qui luật hành xử của chế độ như sau: “Chúng mình nhìn người bằng con mắt thân thiện vì chúng mình cảnh giác trước tiên với cái xấu ở trong bản thân; còn họ, tự nhận là cách mạng cao quí, họ luôn cảnh giác với người khác để kịp thời giáo dục, uốn nắn. Họ với chúng ta cơ bản ngược giò nhau, họ bắt buộc phải tự khẳng định vai trò lãnh đạo, dạy dỗ chúng ta. Cái mặc cảm ưu việt này dẫn tới đòi dân phải có mặc cảm tự ti với họ. Mặc cảm tự ti này là dấu hiệu dân tin tưởng đảng, yếu tố hàng đầu của thắng lợi, khốn nạn là thế đấy.” (Trang 297).
Một Việt kiều khác là Mỹ Điền, từ Anh về miền Bắc Việt Nam, cũng với ý đồ xây dựng XHCN. Ông là con của một địa chủ ở miền Nam. Ông được phân công đi làm cán bộ Cải cách ruộng đất ở Thái Bình. Người trong đoàn nói với ông rằng từ nay trở đi, ông phải gọi mẹ là “Con địa chủ”. Là người miền Nam rất thẳng thắn, ông dứt khoát phản đối và không chấp nhận cách gọi mất dạy đó. Ngày hôm sau, ông được cho về Hà Nội. Về Hà Nội, ông trở thành một giáo viên dạy tiếng Anh, và một trong những học trò của ông là Nguyễn Dy Niên, người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ ngoại giao. Mỹ Điền nói với tác giả Trần Đĩnh rằng “Tôi đã ở trong quân đội Bình Xuyên sau Cách mạng tháng 8. Tôi cũng đã ở nội phủ cộng sản. Tôi thấy sao? Nội phủ phần lớn là hoạn quan. Bình Xuyên phần lớn là dân anh chị. Phải công bằng mà nói là dân anh chị lại quân tử, nói là giữ lời. Hoạn quan thì không à nha.” (Trang 304).
Một trí thức miền Nam khác là Phạm Trung Tương cũng bị đối xử không tốt. Ông Tương từng làm cò cảnh sát, nhưng lại là người có cảm tình với Việt Minh. Ông giúp Việt Minh trong cuộc tổng khởi nghĩa và được ghi nhận công trạng. Sau đó, ông được tập kết ra Bắc, rồi thất nghiệp do lí lịch đen. Mỹ Điền thấy thương nên “tâu” với Ung Văn Khiêm về tình trạng của Phạm Trung Tương, ông Khiêm giới thiệu cho ông Tương về làm ở nhà xuất bản Ngoại văn, chuyên dịch sách báo.
Sau 1975, ông Tương quay về quê Trà Vinh. Tỉnh uỷ Trà Vinh “đì” ông rất tận tình. Nhà ông bị cắt điện, sống tối om. Bệnh viện từ chối không điều trị cho ông. Một hôm, Lê Duẩn xuống Trà Vinh nói chuyện cùng giới trí thức. Duẩn đứng trên bục nhìn xuống thấy một người quen quen, ông bèn đi xuống gặp ông Tương, rồi nói trước hội trường: Người con ưu tú của miền Nam đây! Tối hôm đó, nhà ông Tương lập tức có điện, và bệnh viện đến nói với ông rằng từ nay luôn có một phòng cho ông đến điều trị bất cứ lúc nào.
Frida Cook là đảng viên Đảng cộng sản Anh, bà tình nguyện sang Bắc VN làm giáo viên dạy tiếng Anh. Sau 1975, bà lại sang VN, và nhờ Mỹ Điền dẫn đi thăm các trại cải tạo, đó là thứ hiếm mà bà nói thế giới không có được. Đến cổng trại, bà gặp một ông cụ, và hỏi sao ông vào đây. Ông cụ trả lời rằng ông là viên chức chế độ VNCH. Bà Cook kêu lên: “Ôi, tôi nghe giới thiệu thì toàn là những ác ôn!” . Khi VN sang chiếm Campuchea, bà Cook gửi trả VN những huy chương, bằng khen mà VN đã từng trao cho bà trong thời chiến. Bà nói “tôi từ lâu đã ngửi thấy ở họ một cái gì …”. Nhưng bà Cook không biết rằng cả chục năm trước, an ninh Việt Nam đã cho rằng bà ấy là một gián điệp Anh được gửi sang VN để phá hoại. Nhà nước VN gắn huy chương cho mụ ấy cốt để che mắt và mò phá tuyến của mụ ấy (trang 303).
Đèn Cù còn đề cập đến Gs Trịnh Xuân Thuận, một nhà vật lí thiên văn có tiếng qua những tác phẩm khoa học phổ thông. Thân phụ ông Thuận là Trịnh Xuân Ngạn, từng làm việc trong toà án dưới thời VNCH. Sau 1975, ông Ngạn bị chính quyền mới bắt đi tù cải tạo. Ông Thuận nhờ chính phủ Pháp can thiệp để cứu ông bố ra tù (Tran 315). Năm 2005, VN vinh danh ông Thuận cùng 14 nhà khoa học Việt kiều khác ở nước ngoài. Nhưng những người trong giới cầm quyền có lẽ chưa đọc cuốn “Hỗn độn và hài hoà” mà trong đó ông Thuận viết rằng “Tôi thông báo cái chết của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.
Quan hệ với Tàu
Tháng 2/1999, ông Lê Khả Phiêu (lúc đó là tổng bí thư) đi thăm Tàu. Người ta ngạc nhiên vì sự chậm trễ này. Thường thì sau khi ai đó nhậm chức tổng bí thư Tàu mời sang thăm nay, còn đằng này, ông Phiêu nhậm chức từ năm 1997 mà mãi đến 1999 mới được mời sang thăm Tàu. Buổi tiếp đón không có diễn văn, chỉ có hội đàm, rồi chiêu đãi, và hạ màn. Trong buổi chiêu đãi, Giang Trạch Dân ca bài “Bông hồng nhỏ của tôi”, còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thì hát bài “Cây trúc xinh”, có lẽ ý nói trúc mọc một mình, không cần đến “bạn”.
Tiền Kỳ Tham từng là phó thủ tướng Tàu có viết hồi kí, và ông dành 2 chương để viết về VN. Trong đó có nói về chuyến thăm của Lê Khả Phiêu. Theo hồi kí này, đoàn của ông Phiêu chờ mãi chẳng thấy phía chủ nhà Tàu nói gì cả. Xem lịch thì thấy 2 giờ chiều Giang Trạch Dân có lịch đón đoàn VN, ông Phiêu bèn dẫn đoàn đến nơi, nhưng thật ra giờ đó thì Giang tiếp thống đốc Hồng Kong, nên Tiền Kỳ Tham nói đoàn ông Phiêu phải chờ đến 5 giờ chiều! Ông Phiêu đưa cho họ Tiền một tờ giấy gồm một số chữ, và đề nghị Tiền đưa cho Giang. Giang Trạch Dân mở ra đọc, đọc xong, lẳng lặng vo lại và ném vào sọt rác. Giang lấy tờ giấy khác và viết theo ý của y (Trang 354). Nghe nói Giang viết 16 chữ: “Sơn thuỷ tương liên, lí tưởng tương thông, văn hoá tương đồng, vận mệnh tương quan.”
Nhận được giấy của Giang viết, ông Phiêu hỏi Tiền Kỳ Tham tại sao không có chữ “bình đẳng” hợp tác như ông Phiêu nêu ra. Tiền Kỳ Tham viết: “Tôi không trả lời Phiêu mà chỉ cười và nghĩ thầm rằng, người lãnh đạo cao nhất như Phiêu mà không hiểu nổi rằng xưa nay có bao giờ Việt Nam được bình đẳng với Trung Quốc!” Nhưng khi về đến VN, đoàn ông Phiêu mở cuộc họp báo và tuyên bố chuyến đi thăm Tàu là “thành công tốt đẹp”! Hồi kí của Tiền Kỳ Tham còn quan tâm đến văn học VN. Trong hồi kí, họ Tiền nhắc đến các tác phẩm văn học VN bị cấm lưu hành, trong đó có tập thơ của Nguyễn Duy. Họ Tiền dẫn câu thơ của Nguyễn Duy: Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng; / Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn.
Nói chung đọc qua những trang trong Đèn Cù Tập II, chúng ta dễ nhận ra rằng giới cầm quyền chẳng tin tưởng vào ai, kể cả chính người của họ, còn kiều bào và người nước ngoài thì chỉ là “hoa lá cành” cho họ mà thôi. Một điều cũng thể hiện khá rõ nét là những gì mà giới lãnh đạo Tàu và Mĩ hay nói về giới cầm quyền VN: đó là không đáng tin cậy, vì nói một đằng làm một nẻo.

(FB NguyenVanTuan)

===

Que Diêm: Đèn cù Tập II: những bí ẩn được tiết lộ
Trong Đèn Cù Tập II, Trần Đĩnh có thuật lại một số sự kiện đáng chú ý, dù có khi chỉ là một câu phát ngôn hay một thái độ. Tuy nhiên, những hành vi có vẻ thoáng qua đó nó cho chúng ta một vài tín hiệu về tâm tính, trình độ, và có khi cả nhân cách của những người cộng sản thời xưa.

Trại gái
Một nhân vật được tác giả nhắc đến trong sách là Chu Đình Xương. Thoạt đầu đọc qua, tôi thấy quen quen, nhưng sau khi tra tìm thì biết ông từng giữ chức giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ (chắc như Sở Công An ngày nay?) Chu Đình Xương kể rằng thời kháng chiến ở vùng Việt Bắc, ông Đinh Đức Thiện (em của Lê Đức Thọ) từng lập một trại gồm toàn gái để “cán bộ đến cấp bậc nào đó đến giải quyết sinh lí, kiểu nhà thổ của lính Nhật” (trang 173). Nghe nói sau này ông Trường Chinh biết được và yêu cầu phải giải tán.

Hồ Chí Minh gặp Ngô Đình Diệm
Chu Đình Xương kể chuyện đánh đập tù nhân trong xà lim, và đáng chú ý là cả chuyện “thủ tiêu phản động” (trang 173). Như vậy thời đó quả thật có chuyện Việt Minh sát hại những người kháng chiến chống Pháp nhưng không đứng về phía Việt Minh.
Chúng ta biết rằng ông Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt vào tháng 9/1945 ở Huế. Sau đó, họ đưa ông Diệm lên tận vùng gần biên giới Việt – Trung. Trong lúc đó thì Việt Minh giết anh ông Diệm là Ngô Đình Khôi và học giả Phạm Quỳnh ở Huế. Chính trong thời gian này ông Hồ Chí Minh đã gặp ông Diệm trong tù. Chu Đình Xương còn cho biết chính ông là người dẫn Hồ Chí Minh đến gặp ông Diệm và Phan Kế Toại. Sau này, chúng ta biết rằng chính Hồ Chí Minh phóng thích ông Diệm và ông Toại. Tôi nghĩ có lẽ chính vì nghĩa cử đó mà sau này ông Diệm giữ mộ ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp rất tốt.

Hình nhân Hồ Chí Minh
Một chuyện khác do Chu Đình Xương kể cũng đáng chú ý là ông Hồ Chí Minh từng có người giả (gọi là “hình nhân”). Chuyện kể rằng năm 1946, ông Hồ từ Pháp về Hà Nội qua đường Hải Phòng. Ông đi từ Hải Phòng về Hà Nội bằng xe lửa, nhưng vì sợ bị ám sát nên an ninh dắt ông cụ (lúc đó phải bịt râu) đi thẳng về một địa điểm bí mật. Còn người đứng trên xe vẫy vẫy chào công chúng đứng đón ông cụ là một hình nhân, người có dáng dấp rất giống ông cụ Hồ! Hình nhân này phải đeo râu giả làm cụ Hồ. Điều trớ trêu là đến kì Cải cách ruộng đất, người ta đem hình nhân này ra đấu tố là “địa chủ phản động ác ôn”. Hình nhân khóc nói “Tôi từng đóng thay bác Hồ để phản động có bắn thì tôi chết thay bác thế nhưng phản động không bắn, mà nay đảng lại bắn tôi, ôi bác Hồ ơi …” Thế là sau đó người ta hạ hình nhân xuống phú nông và thoát án tử hình.

Xin tài trợ từ Mĩ
Chuyện Việt Nam hùng hồn đòi nợ Mĩ sau chiến tranh thì chẳng có gì là bí mật, nhưng có câu chuyện vui vui liên quan đến vụ này trong Đèn Cù Tập II. Chuyện kể rằng Nguyễn Cơ Thạch lúc bấy giờ là Thứ trưởng Ngoại giao gặp Richard Holbrooke (cũng Thứ trưởng Ngoại giao Mĩ) ở Hà Nội. Ông Thạch đòi Mĩ bồi thường mấy tỉ USD, nhưng Holbrooke cười cười nói Mĩ chẳng có nợ nần gì VN và chẳng có văn bản nào cả để … đòi nợ. Thấy “đòi nợ” hơi khó, ông Thạch mời Holbrooke đi ăn tối. Trong bữa ăn tối với chả chiên, Thạch hạ giọng năn nỉ Mĩ viện trợ nhân đạo. Nhưng Holbrooke lại mỉm cười nói viện trợ nhân đạo thì có thể ok, nhưng ở Mĩ việc đó phải qua Quốc hội phê chuẩn. Nói chung, câu chuyện cho thấy “Anh hùng như thể khúc lươn / Khi co thì ngắn, khi vươn thì dài”.

Vì vật chất
Chúng ta biết rằng người cộng sản xem vật chất nhẹ hơn tinh thần và ý chí. Ít ra là họ nói như thế. Chẳng hạn như Phạm Văn Đồng từng hùng hồn tuyên bố “Phương Tây là vật chất, vật chất, vật chất khốn nạn. Phương Đông là tinh thần, tinh thần, tinh thần cao quí.” Nhưng trong thực tế thì chúng ta biết rằng không phải như thế; họ cũng rất mê vật chất, cũng ham ăn ngon mặc đẹp, và cũng đam mê học đòi những thói quen của người tư sản.
Người sắp chết thường nói lời nói thật. Đó là trường hợp Lê Duẩn. Trước khi chết, ông Duẩn cho gọi các lí thuyết gia (đúng hơn là “tuyên truyền gia”) và nói: sau 60 năm hoạt động cách mạng đến nay, ông mới hiểu ra câu của Mác nói lợi ích vật chất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động. Mao bất lực không làm cho dân sướng về vật chất, nên phịa ra cái gọi là “chân lí chính trị” hàng đầu, tư tưởng hàng đầu. Còn ông Lê Duẩn vì “nghe thấy sướng quá nên bê luôn về cho dân xài, ai nói về vật chất bác phang cho tội xét lại.”
Đèn Cù Tập II cho biết rằng thời đó ở ngoài Bắc có cái nông trại tên là Tam Thiên Mẫu giữa Cẩm Giàng và Thuận Thành nuôi đủ bò, dê, heo, gà, ngỗng, vịt, cá, lươn, ếch, v.v. cung cấp cho Bộ Chính trị. Còn ở Thái Bình thì có đồng trồng lúa riêng cho các vị trong Bộ Chính trị. Trong khi đó thì dân chúng không đủ gạo ăn và thiếu thực phẩm.

“Đĩ đực”
Trong Đèn Cù Tập II, tác giả Trần Đĩnh cung cấp một thông tin thú vị về những mâu thuẫn trong giới lãnh đạo chóp bu. Chẳng hạn như ông Nguyễn Văn Linh không ưa gì ông Lê Duẩn, và vì muốn làm hoà với Tàu, nên ông Linh nói với Giang Trạch Dân rằng ông Duẩn đã sai lầm khi “bắt tay” với Liên Xô. Nói cách khác, họ không ngần ngại “vạch áo cho người xem lưng”. Ông Linh từng nhận xét về cách làm kinh tế của Lê Duẩn là “lãnh đạo gì mà làm ăn như cái ‘con c..’.” (Trang 181).
Một chi tiết thú vị là Nguyễn Văn Linh cũng không ưa ông Trần Văn Trà và Lê Giản. Ông Linh rất ghét đa nguyên. Chính Lê Giản kết nạp Nguyễn Văn Linh vào đảng ở Hải Phòng. Thế mà trước khi lên chức tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh gọi Lê Giản và Trần Văn Trà là “những thằng đĩ đực” (Trang 250).

Những bí ẩn được tiết lộ?
Đèn Cù Tập II có nhắc đến ông Dương Bạch Mai, là bậc trí thức Tây học gốc Nam Bộ. Ông sinh ra ở Bà Rịa 1904, qua đời 1964 ở Hà Nội. Ông là người chống lại đường lối thân Tàu, ông đòi đảng phải cải thiện đời sống cho dân, đòi dân chủ, v.v. Trang wikipedia chỉ nói cái chết của ông là “đột tử”. Nhưng trong Đèn Cù, tác giả trích dẫn lời của Hoàng Minh Chính cho rằng “Họ cho anh Mai uống bia có thuốc độc, chết chưa kịp buông cốc, ngay tại Quốc hội.”
Một chi tiết khác cũng khá thú vị là bà Nguyễn Thuỵ Nga, người vợ bé (miền Nam) của ông Lê Duẩn từng là người tình của ông Nguyễn Văn Trấn (Trang 256). Ông Trấn cũng là một trí thức gốc Nam Bộ, cùng thời với Ung Văn Khiêm, nhưng cũng bị thất sủng và bị phe thân Tàu cho về vườn. Ông Trấn còn là người nổi tiếng với tác phẩm bị cấm “Viết cho mẹ và Quốc hội”. Bà Nga học làm báo từ ông Trấn, và có lẽ vì thế mà bà có duyên với báo chí sau này.
Một chuyện cá nhân khác liên quan đến ông Lê Đức Anh. Chuyện kể rằng thời Đại tá Lê Trọng Nghĩa làm chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, ông Lê Đức Anh là trung tá. Vợ ông từ Nam ra tận văn phòng làm ầm lên vì ông lấy vợ bé! (Trang 279).
Trong cuốn “Bên thắng cuộc” chúng ta đã đọc biết ông Đỗ Mười từng bị bệnh tâm thần. Chi tiết này cũng được Trần Đĩnh nhắc đến trong Đèn cù Tập II. Tác giả viết: “Các lão thành hỏi nhau có nhớ hồi nào Đỗ Mười điên nằm Việt – Xô. Lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết.” (Trang 278). Con trai và cháu ông Đỗ Mười cũng bị điên.

Chú thích: Những câu chữ trong ngoặc kép là trích từ sách Đèn Cù Tập II.

(1) Trích “Vietnam, a history, tr.216-217″ một đoạn đối thoại giữa ông Hồ Chí Minh và ông Ngô Đình Diệm:
Ông Diệm nhớ lại rằng cuộc trò chuyện giữa ông và ông Hồ rất thẳng thắn:
Ông Diệm: Anh muốn gì ở tôi?
Ông Hồ Chí Minh: Tôi muốn ở anh điều anh luôn luôn muốn ở tôi – sự hợp tác của anh để giành độc lập. Chúng ta theo đuổi một điều giống nhau. Chúng ta phải chung sức với nhau.
Ông Diệm: Anh là một kẻ tội phạm đã đốt cháy và hủy hoại đất nước, và anh lại còn bắt giam tôi.
Ông Hồ Chí Minh: Tôi xin lỗi anh vì sự cố không may ấy. Khi quần chúng bị áp bức nổi dậy, những sai lầm là điều không thể tránh khỏi và những thảm kịch đã xảy ra. Nhưng tôi luôn tin rằng hạnh phúc của nhân dân sẽ bù đắp được hết những sai lầm ấy. Anh thù hận chúng tôi nhưng chúng ta hãy quên chuyện ấy đi.
Ông Diệm: Anh muốn tôi phải quên rằng những thuộc cấp của anh đã giết chết anh trai tôi?
Ông Hồ Chí Minh: Tôi chẳng biết gì hết về chuyện ấy. Tôi chẳng liên can gì đến cái chết của anh trai anh. Tôi cũng lấy làm tiếc về những điều thái quá ấy cũng giống như anh. Làm sao tôi có thể ra lệnh cho người ta làm việc ấy rồi giờ đây lại đưa anh tới đây? Không phải chỉ có vậy, tôi cho đưa anh tới đây để mời anh giữ một chức vụ quan trọng trong chính phủ của chúng tôi.
Ông Diệm: Anh trai tôi và con trai của anh ấy chỉ là hai trong hàng trăm người đã bị giết và hàng trăm người nữa bị phản bội. Làm sao anh dám mời tôi hợp tác với anh?
Ông Hồ Chí Minh: Tâm trí của anh hướng về quá khứ. Anh hãy nghĩ đến tương lai – giáo dục, cải thiện mức sống của người dân.
Ông Diệm: Anh nói mà không biết suy nghĩ. Tôi đấu tranh cho lợi ích của đất nước, nhưng tôi không thể bị chi phối bởi áp lực. Tôi là một người tự do.Tôi sẽ mãi mãi là một người tự do. Anh hãy nhìn thẳng vào mặt tôi. Tôi có phải là một người sợ áp bức hay sợ chết không?
Ông Hồ Chí Minh: Anh là một người tự do.”

(2) Nạn nhân của thể chế (Trích “Đèn Cù II – vài giai thoại (Ts Nguyễn Văn Tuấn))
Trong một chương cuối của Đèn Cù tập II, tác giả Trần Đĩnh cho rằng ông Hồ chính là “nạn nhân trước hết của chủ nghĩa cộng sản và của đảng chính trị kiểu Lenin” (trang 619). Ngay từ đầu, Stalin đã cho đàn em huấn luyện cho các lãnh tụ cộng sản tương lai của VN như Nguyễn Ái Quốc thấm nhuần chân lí: Việt Nam phải chịu sự kiểm soát của Liên Xô và răm rắp tuân lệnh Stalin. Nhưng sau này thì chính ông lại là nạn nhân của thể chế ông xây dựng nên. Sử gia nổi tiếng người Pháp là Pierre Brocheux viết rằng “trong vụ án xét lại chống đảng, ông Hồ Chí Minh cũng đã nhận ra bản chất của chế độ nhưng chẳng làm gì được. Hơn nữa, kể từ năm 1960, chính nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh mới thực sự là những người nắm quyền. Theo nghiên cứu của tôi thì cả một giai đoạn trước khi qua đời, ông Hồ bị cách li khỏi quyền lực, tức là không hề có quyền gì. Ông ấy tự biến hành một biểu tượng.” (Trang 633).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s