CXN*_061014_5285_Tại sao Phạm Chí Dũng trước khi bị bắt ngày 17.7.2012 viết bài cho QLB chống 3D, được thả tháng 12.2012 thì quay sang viết bài ủng hộ Tổng Thống 3D ??? Vì thỏa hiệp với Nguyễn Văn Hưởng trong tù chứ sao nữa !!!!!Bài của PCD(GPCXN,MMDT,9 bài viết)

TQLC dựng cớ VNCH tại Cổ Thành Quảng Trị ngày 16.9.1972 tái chiếm Quảng Trị sau Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 4.1972 (CSBV tồn thất 81 ngày chiếm đóng Cổ thành mỗi ngày 1 đại đội (1 đại đội 120 người), tổng cộng tổn thất đánh chiếm và giữ Cổ Thành 81 ngày là 10 ngàn quân CSBV bị tiêu diệt

TQLC dựng cớ VNCH tại Cổ Thành Quảng Trị ngày 16.9.1972 tái chiếm Quảng Trị sau Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 4.1972 (CSBV tồn thất 81 ngày chiếm đóng Cổ thành mỗi ngày 1 đại đội (1 đại đội 120 người), tổng cộng tổn thất đánh chiếm và giữ Cổ Thành 81 ngày là 10 ngàn quân CSBV bị tiêu diệt

Đăng lần đầu: 10.6.2014

Châu Xuân Nguyễn
——————-6 comments on “*Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng? (Phần 3)(Phạm Chí Dũng chính là Thường Sơn, tác giả bài này, bị bắt ngày 17.7.2012, 2 tuần sau khi viết bài này)”

  1. Đúng là văn phong của PCD, đọc câu này là thấy rõ: “Làn sương mù buổi sáng vẫn chưa đến nỗi quá mờ mịt đối với Nguyễn Tấn Dũng cùng nhóm thế lực ngầm của ông.”

    PCD luôn dùng phong cách miêu tả bóng bẩy như kiểu : “Làn sương mù buổi sáng vẫn chưa đến nỗi quá mờ mịt” để lôi cuốn người đọc.

    PCD đúng là ” con cờ cs bí ẩn”, biết cách luồn lách giữa các thế lực cs đang hồi giãy chết để tìm cơ hội.

    Bài viết tuy cũ nhưng cũng đủ để nhận ra tính 2 mặt của PCD: ” trở cờ theo gió.”

    Hiện nay y ta đang cố gắng xây dựng lên cái gọi là ” hội nghị Diên hồng nhỏ” nhằm gom bi các thành phần trí thức lẫn tôn giáo, dân chủ…. còn non yếu về nhận thức thời cuộc và chính trị để củng cố cho mưu đồ tiến xa của hắn.

    Nếu hắn ta nắm được cái “Hội nghị Diên hồng nhỏ” này thì hắn dễ dàng hơn trong việc đàm phán đổi chác quyền lực với các phe phái cs quốc nội lẫn đoàn đảng hải ngoại xôi thịt bằng sự chà đạp không thương tiếc những người yêu nước thật sự (LS đã chứng minh rồi qua các mặt trận, hội đoàn do đcs lập ra).

    • Trước khi bị bắt hắn phò 4Sang, sau khi bị bắt, hắn bị Nguyễn Văn Hưởng dần trong tù, bây giờ thì phò 3 Dũng nhiệt tình
      AC
      http://chauxuannguyen.org/2013/04/19/pham-chi-dung-cay-viet-tai-nang-day-hoai-bao/
      Trích:”Phạm Chí Dũng là con trai của ông Phạm Văn Hùng, cựu Trưởng ban tổ chức Thành Ủy thành phố HCM.
      Ông Phạm Chí Dũng là một Tiến sĩ kinh tế, cũng là một viên chức an ninh, khi viết báo ông có các bút danh Thường Sơn, Viết Lê Quân, Việt Thắng và vài tên khác. “(HT)

    • Hèn chi trước khi bị bắt hắn viết bài công kích 3 Dũng dữ lắm. Sau khi bị bắt thì toàn là viết về dân chủ nhân quyền, rất ăn ý với thông điệp đầu năm của 3 xạo ( chỉ nói xạo thui): chắc là trong tù bị Nguyễn VH cho ăn “roi lẫn bánh”.

      Dù gì thì với loại người phản chủ như hắn cũng không thọ lâu, đâu có chủ nào dám tin hắn 100%: thôi thì kẻ cướp gặp bà già.

      Bây giờ thì hắn đang làm kế hoạch gom bi dân chủ cho 3 Xạo, nhưng 3 Xạo cũng không sống lâu: nước cờ giàn khoan với tinh thần dân tộc ầm ầm như vậy mà 3 Xạo chỉ tuyên bố đến Philippin là đứt hơi, sau đó bị bóp họng đâu có phun được gì tại Shangri-La.

      Sắp tới vụ giàn khoan chìm xuồng thì 3 Xạo bị cắt cổ là cái chắc. Các vấn đề KT suy thoái, tham nhũng, dân tình nổi loan khắp nơi… sắp bùng tới nơi, lỗi lầm đó điều do 3 Xạo gây ra. Khó thoát tội lắm.

      Rồi hắn (PCD) cũng bị sa thải thui, nhìn tới nhìn lui không còn ai để thờ nữa, Loại người như hắn ai mà tin thì có ngày bán mạng.

      Ps: hắn có nộp đơn xin việc thì AC đừng có nhận nhe, thằng đó thúi lắm.

  2. Nguyễn Văn Hưởng cứ tưởng bằng giọng văn bóng bẩy, viết kiểu dài dòng văn tự tung hô ca ngợi kèm theo một số thành tích hão của PCD được ăn khách và lừa được dân Việt nên NVH trưng dụng PCD, ai dè bị AC vạch mặt cho dân Việt biết. Bị vố quá đau mất bao công sức cài cắm, nghĩ kế, bọn nó sợ trang CXN là phải thôi. Nhờ có AC bọn ve sầu đừng hòng thoát xác. Dân Việt giờ ngán đến tận não cs rồi đừng bắt chúng tôi theo cs nữa nha.

  3. Bắt dân phải bầu cử những thằng con chúng đã chọn sẵn mà dám nói dân chủ là sao hở cs điếm đàng .

  4. Hehe..!!Hồi đó thằng cs nòi PCD theo phe tư Sang tấn công 3D…
    Bị 3D thuần phục,khoác áo dân chủ thâm nhập phong trào rồi lèo lái phong trào giải cộng của NV H.Ngoại.
    Trẹm tôi thật buồn mà nói rằng,cái bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cs,bọn cơ hội ngồi mát ăn bát vàng,loại cò bán nước….vẫn chưa quên bài học cũ rích khi chế độ VNCH sụp đổ.

—————-

CXN: Đây là 2 bài PCD viết 2 tuần trước khi bị bắt.Ủng hộ 4 Sang tấn công 3D, chiến lược của QLB phò 4S thời đó
*Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng? (Phần 2)(Phạm Chí Dũng chính là Thường Sơn, tác giả bài này, bị bắt ngày 17.7.2012, 2 tuần sau khi viết bài này)
—————
*Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng? (Phần 3)(Phạm Chí Dũng chính là Thường Sơn, tác giả bài này, bị bắt ngày 17.7.2012, 2 tuần sau khi viết bài này)
——————-

Trong bài này..*Phạm Chí Dũng trong Trại Giam  Trích:”Một điều kỳ lạ từ trước đến nay lực lượng an ninh Việt Nam có một điều cấm kỵ bất thành văn không nhắc đến tên tuổi giới chóp bu. Song những cuộc tra hỏi ép cung Phạm Chí Dũng thì những cái tên Trương Tấn Sang, Trần Đại Quang, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Phú Trọng… luôn ở cửa miệng 04 trong đám an ninh và hình như họ chỉ có một việc làm là cưỡng hiếp cái miệng của Phạm Chí Dũng! Phạm Chí Dũng luôn luôn bị dựng cổ vào ban đêm để đi thẩm vấn… Trực tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng gọi điện chỉ đạo và hỏi thăm diễn tiến hàng ngày. Ông em vợ của Thủ Tướng Nguyễn Thanh Liêm cũng được huy động vào chiến dịch Phạm Chí Dũng.

Bản thân Hưởng là người hiểu rõ hơn ai hết Phạm Chí Dũng với tư chất thông minh và là người đã có thời làm việc cho TC2 nên cũng là kẻ nhạy bén với các nguồn thông tin nhạy cảm thuộc dạng thâm cung bí sử và Hưởng cũng biết rất rõ Phạm Chí Dũng mọi chi tiết nhỏ nhất về Phạm Chí Dũng do đã bị theo dõi hàng chục năm nay, điện thoại, Internet… Chính việc Dũng sơ hở để lộ sở thích, thói quen với Beo Hồng đã cho Hưởng biết được mọi đường đi, nước bước, mọi mầm mống trong tâm can của Dũng và trở thành con dao đâm vào tim Dũng. Giờ đây Dũng mới ngộ ra trong trại biệt giam!

Thầy trò Hưởng với sự trợ giúp của Beo đang biến Phạm Chí Dũng – Một người làm việc theo lý tưởng mà anh ta tin theo trở thành kẻ bán bí mật Quốc gia cho các thế lực Phản động nước ngoài! Họ đang bôi đen người có chí khí của một Kim Trọng ‘Đi đường thấy việc bất bình chẳng tha’ thành một tên Mã giám sinh vì tiền, vì gái BEO và làm theo chỉ đạo của CIA Trương Tấn Sang, Gián điệp Trung Nam Hải Nguyễn Phú Trọng!Người leo tường”(HT)

———————

Trong bài CXN*_030814_4311_Phạm Chí Dũng, người Cộng sản bí ẩn  Trích:”như vậy có thể hiểu ông Dũng đang đối mặt với tội danh nghiêm trọng: “lật đổ chính quyền”, những cuộc dàn xếp, thương lượng đằng sau vụ việc liệu đã hạ màn? Cho đến sáng 21/7. ngoài Tuổi Trẻ vẫn chưa có báo nào có tin thêm. Việc ông Dũng “biên soạn nhiều tài liệu phá hoại nội bộ”  trùng khớp với việc Blogger Beo – Hồ Thu Hồng khẳng định trên bài trên blog Beo liên quan đến trang quanlambao, một trang blog mới xuất hiện gần đây, chuyên đăng những tin hậu trường chính trị, kinh tế của giới cầm quyền, các vụ đấu đá quyết liệt của những nhóm lợi ích cùng vô vàn những thâm cung bí sử tuy khó kiểm chứng nhưng không phải không có lý. Tuy nhiên cách trang blog này đưa tin không chuyên nghiệp, khó có thể thu hút được ngòi bút của một nhà văn, một cán bộ quan trọng như ông Dũng”(HT)

—————-
Trong bài *Sự thật vụ bắt giữ Phạm Chí Dũng Trích:” Bịt miệng được một cây viết sắc sảo mà sâu sa hơn là Phạm Chí Dũng đã trở thành cái gai trong mắt Nguyễn Tấn Dũng từ khi viết rất nhiều bài mà thầy trò ba Dũng cho rằng đã ‘chọc ngoáy’ vào căn bệnh ung thư của các Tập đoàn nhà nước, của hệ thống ngân hàng do Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng là thủ phạm gây ra cùng bè nhóm lũng đoạn do các bố già và cô con gái rượu cầm đầu. Nỗi đau nhức nhối này chưa trút được cơn giận, nay có cái cớ Phạm Chí Dũng là người đã tham khảo chính tư liệu của Quan làm báo để viết các bài về ‘Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng’, về Thống đốc Nguyễn Văn Bình…. Vậy là Phạm Chí Dũng lập tức bị vu cho cái tội ‘bán tài liệu cho Phản động nước ngoài’ để tống giam.”(HT)
=================================
CXN: Thấy rõ là tất cả đều bao che cho PCD, Đặng Thị Hoàng Yến là một con đàn bà nói láo không ngượng miệng để đạt mục đích của y thị. Chính y thị nói leo lẻo với BBC rằng y thị không có dính tới QLB, vài ngày sau, phe 3D hacker chiếu video tôi thấy rõ là ĐTHY đang mở máy tính đọc email của tôi, tcdrafting9@gmail.com gửi bài cho QLB. Và trong vụ này, ĐTHY giẫy nẫy rằng PCD ko hợp tác, PCD là thư ký riêng cho 4S, ai cung cấp cho QLB những thông tin của các cuộc họp kín ở BCT lúc đó nếu ko là 4S tuồn cho PCD rồi PCD tuồn cho QLB ???? Ai trong BCT có thông tin đó và ai trong BCT đánh 3D nhiệt thành nhất thời đó. Ai là thư kỳ riêng của 4S và ĐTHYến theo phe nào, phải 4S hay ko ????? Chúng ta không ngu đến nỗi nhìn 2 cộng 2 không biết nó là 4 (we are not that dumb not to figure out that put 2 and 2 together makes 4)
—-
Và bây giờ, đọc bất cứ bài nào trong 9 bài dưới đây để thấy rằng PCD (ngay cả LCĐ bây giờ đón gió trở cờ) phò 3D, chịu sự kiểm soát của 3D. Mục đích của 3D trong vụ giàn khoan này là gì ???? CXN_060614_5253_Âm mưu dùng giàn khoan, chủ nghĩa dân tộc phá Đảng để thành Putin2 của 3D thất bại rồi: Ông Bá Thanh xuất ngoại tìm hiểu chống tham nhũng (3X,GPCXN)

Trích bài 5253 ngày 6.6.2014:”Trở lại vụ này ngay từ đầu, càng ngày những dữ kiện đưa tới làm mưu đồ của 3D càng hiện rõ. Lợi dụng vụ giàn khoan, và lợi dụng Chủ Nghĩa Dân Tộc (CNDT) Chủ nghĩa Dân Tộc và Phong trào Dân Chủ, 3D phát động biểu tình quốc doanh chống TQ đầu tiên ngày 11.5.2014. Ở Saigon, Thành Ủy ủng hộ nhiệt tình, ai là Sếp của Thành Ủy vậy ??? Có phải Lê Thanh Hải con gà tham những ruột của 3D hay không ???

 

3D lợi dụng CNDT và lòng dân chống Tàu để hắn dựa vào đó phá banh ĐCSVN như hắn nói mí mí trong thông điệp đầu năm năm 2014.

Về phía 3D, cuộc biểu tình chống TQ (ĐCS là hữu nghị với TQ nên 3D muốn lấy cơ hội này phá banh Đảng) này khá thành công. 3D tiến nhanh với xách động Bình Dương. Ai chủ mưu cho CA BD thụ động, ngay cả dùng xe hụ còi để hộ tống bọn đập phá, CA BD chứ ai ??? Ai chỉ thị cho bọn này đứng im ??? Trần Đại Quang chứ ai ??? TĐQ D9H7 chống 3D nhưng sau này 3D hứa là khi lên Tổng Thống sẽ cho TĐQ làm TT nên TĐQ trở cờ phò 3D

Nhưng vụ bạo loạn B Dương ra ngoài tầm kiểm soát của 3D nên ngày 13.5, 3D chỉ đạo cho Phạm Chí Dũng kêu gọi tổng biểu tình chống TQ (lợi dụng CNDT) và tằng ngu Việt Tân cùng 20 tổ chức hùa theo như nmot65 đám chó kêu gọi biểu tình..CXN_051814_5118_Đừng nghe những gì CSVN, Việt Tân và rân chủ dởm xúi dục mà hãy tự hỏi “Bọn này ngu xuẫn tới cỡ này cơ ah”(biên giới)
—-
Chính 3D lúc đầu ủng hộ nhiệt thành cuộc biểu tình ngày 18.5. Nhưng may cho chúng, CXN viết 1 bài về CNDT ngày 16.5.2014 (2 ngày trước ngày biểu tình đại trà)
————-
Rồi thì cuộc biểu tình bãi bỏ từ 2 messages từ TT, lúc 4 giờ chiều và 9 giờ tối ngày thứ bảy, 17.5.2014.

Trở lại âm mưu của 3D, nó đâu có bỏ đâu, nó qua Manila, ăn cắp lời ông Thiệu nói là đừng tin những gì TQ nói mà hãy nhìn những gì TQ làm, rồi còn nữa, “Ko đánh đổi vẹn toàn lãnh thổ với hữu nghị viễn vông”. Những lời này là lấy lòng dân, lợi dụng chủ nghĩa dân tộc bài Hán sôi sục để kéo đồng bào ủng hộ 3D để phá banh ĐCSVN.
—-

 

Nhưng khi về nước bị khóa mồm, ĐCS ko cho 3D đi Shangri-La mà cho thằng Phùng Quang Thanh đọc bài soạn sẵn của BCT (ĐCS) đầu hàng TQ, TQ muốn gì được nấy. Và từ hồi trở về Vn từ Phi là 3D bị á khẩu.
—-

 

Nhưng tại sao 3D lại muốn phá banh ĐCS mạnh thế ???? Ah, 3D biết chắc KT là bét nhè dứt khoát là ko gở nổi và ĐCS qua Trọng, Bá Thanh cứ dí 3D về tham nhũng miệt mài chứ có buông tha 3D đâu, Bá Thanh quan sát phiên Tòa Bầu Kiên 2 ngày ((đệ tử ruột 3D và NV Hưởng). Nếu 3D muốn thoát KT và tham nhũng thì chỉ còn cách này. Nhưng nhìn lại thì thấy 3D thua keo này rồi, không biết có cơ hội cho keo khác ko sau khi bài này đăng lên.
—-

Để xem phe 3D chuẩn bị thoát háng, bài Hoa, phá đảng, hãy đọc những bài PR cho 3D suốt thời gian này của một nhân vật có nick là Nguyễn An Dân (nick nghe đã thiệt hả ???), đọc những bài này thì thấy cả một mưu đồ lừa bịp người dân dựa vào thoát Hán, Chủ Nghĩa Dân Tộc cho tư lợi của 3D mà đất nước này trong đường tơ kẻ tóc ăn đạn pháo của Tàu Cộng vì QĐND chỉ toàn bắn súng đạn cao su, như Cảnh sát biển bắn súng nước vậy. Chính 3D tham nhũng và ĐCS bất tài nên đất nước và dân tộc ta mới nên nỗi, đồng bào hãy cùng nhau xuống đường biểu tình địa phương để lật bọn ngu xuẩn, dốt nát, tham nhũng, bất tài này càng sớm càng tốt.“(HT)

————-
CXN: Và 3D làm áp lực trong vụ giàn khoan này để đám bảo thủ Trọng Lú ngã theo Mỹ, điều này 3D chỉ đạo PCD đánh rất đẹp với những bài dưới đây, lấy lòng dân và lấy lòng hải ngoại luôn, 1 viên đá ném trùng 2 con chim.
—-
Và PCD ko quên dùng chiến lược của HCM đoàn kết phong trào dân chủ (như MTGPMN 1960’s vậy). Cuối bài, trước khi kết luận tôi muốn trích một đoạn trong bài của BS Phạm Hồng nói lên những mưu ma chước quỷ đang dc 2 phe tận dụng…Phạm Hồng Sơn: Từ chợ Đồng Xuân tới 53 Nguyễn Du

Trích bài PHS:”Tôi có cảm tưởng một số những nhà hoạt động xã hội hiện nay cả tin đến mức như những chú chim hồn nhiên mới bị nhốt vào một ngôi nhà lớn, cứ thấy vệt sáng “dân chủ”, “nhân quyền”, “Hoàng Sa”, “Trường Sa”, “thoát Trung”,… là lao tới, không biết đó là khung trời thật hay chỉ là bầu trời vẽ, khung kính cửa sổ hay một lối thoát dẫn sang một cái lồng khác.

Nhưng đó chưa hẳn là những hệ lụy thâm sâu nhất.”(HT)

————————-
Bây giờ tôi mới đi đến phần kết luận của CXN:
KẾT LUẬN
1. PCD đang bị 3D control (điều khiển), hắn ko hành động vì lợi ích của 90 triệu dân VN mà vì lợi ích của cá nhân và hứa hẹn từ 3D
2. PCD là 1 nhà báo, như Phạm Xuân Ẩn, PXA xâm nhập Mỹ, Thiệu, PCD xâm nhập khuynh đảo PT dân chủ, control (thâu tóm) PTDC, bây giờ Nguyễn Đan Quế đang dc tôn vinh, NĐQ có uy tín với liên tôn, họ kéo nhau ùn ùn ủng hộ PCD về công đoàn độc lập (CĐĐL)
3. Để thông qua TPP với 153 dân biểu Mỹ bắt buộc phải có CĐĐL, ĐCS ngần ngừ, vậy thì 3D chỉ đạo PCĐ thành lập là quá tốt (không lẻ thả Đổ Thị Minh Hạnh ra làm, thả BTM Hằng ra làm, hay để Lê Thị C Nhân hay Nguyễn Văn Đài ra làm ????). PCD làm thì 3D và ĐCS còn control được
4. Cũng như tôi vạch mặt CHH Vũ, LC Định trước khi chúng được PTCD và đồng bào phong thánh cho chúng như từng phong thánh cho HC Minh râu. Khi phong thánh rồi, nếu chúng giở thủ đoạn liên hiệp, thỏa hiệp với CS lại thì tất cả chung ta bó tay, dân tộc sẽ thêm 50 hay 100 năm độc tài toàn trị của 3D kiểu Putin 2 nữa. Và PCD đang được truyền thông quốc tế và PTDC trg nước và Hải ngoại phong thánh nhiệt tình vì hắn thốt lên những lời NVHN và dân cần nghe như…thân Mỹ, biểu tình, chống Tảu, phá đảng v.v…
5.Tôi kết thúc phần kết luận này với một trích của bài PHS ở trên. Trích:”cứ thấy vệt sáng “dân chủ”, “nhân quyền”, “Hoàng Sa”, “Trường Sa”, “thoát Trung”,… là lao tới, không biết đó là khung trời thật hay chỉ là bầu trời vẽ, khung kính cửa sổ hay một lối thoát dẫn sang một cái lồng khác.”(HT)
—-
Melbourne
10.6.2014
Châu Xuân Nguyễn
——————————

++++++++++++++++++++++++++++++
1. Xã hội dân sự Việt Nam: “Chia rẽ là chết!”

 

2. Thư ngỏ: Về thái độ và hành động cần và phải có trước hiểm họa Trung Quốc

3. Xuống đường!

4. “Bắt cá nhiều tay” và “Không chốn dung thân”

 

5. Phạm Chí Dũng: Vì sao từ chối quyền biểu tình chính đáng của người dân?

 

6. Việt Nam phải có ngay một hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ
7. Phạm Chí Dũng : Trung Quốc có tấn công Việt Nam vào thời điểm này ?

8. Hậu quả đi dây Trung – Mỹ: Ai là kẻ thù số một?

9. VIỆT NAM CẦN ‘BÀ CON XA’ HAY ‘LÁNG GIỀNG GẦN’?

++++++++++++++++++++++++++++++

+++++++http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2014/05/09/xa-hoi-dan-su-viet-nam-chia-re-la-chet-pham-chi-dung-defend-the-defendersXã hội dân sự Việt Nam: “Chia rẽ là chết!”Phạm Chí Dũng

Tác giả viết riêng cho Defend The Defenders

May 6, 2014

http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2014/05/06/pham-chi-dung-xa-hoi-dan-su-viet-nam-chia-re-la-chet/

 

Một số động tác gọi hỏi, sách nhiễu của cơ quan an ninh địa phương đối với những thành viên dân sự trong vài tháng qua cũng cho thấy bất cứ tế bào xã hội dân sự nào cũng có thể trở thành “con mồi” nếu họ không biết cách nắm chặt tay nhau để đối diện với kẻ đi săn. Hẳn đó là lý do vì sao nhu cầu thiết thân lại nảy nở vào lúc này, khi nhiều người trong giới hoạt động dân chủ biểu lộ thái độ dựa vào nhau để chia sẻ rủi ro và nâng đỡ tinh thần.

 

Con số 13

Chỉ ngay sau ngày tự do báo chí 3/5/2014 chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, một sự kiện chưa từng có tiền lệ đã diễn ra ở Việt Nam: 13 tổ chức dân sự độc lập đồng loạt ký tên vào một bản tuyên bố chung, yêu cầu chính quyền phải tôn trọng quyền hội họp, lập hội và tự do chính kiến của công dân.

 

Chỉ mới năm ngoái, các nhóm dân sự này đã “độc lập” đến mức còn chưa thuộc tên nhau.

 

Một số hãng truyền thông quốc tế ngay lập tức đã ghi nhận sự kiện này như một dấu ấn về sự thăng tiến của xã hội dân sự ở Việt Nam.

 

“Thăng tiến nhân quyền” lại là cụm từ mới mẻ mà giới quan chức Việt Nam cần học thuộc lòng.

 

Vào tháng 4/2013, một nhóm thăng tiến nhân quyền và dân chủ cũng đã được lập ra trên trường quốc tế, với người phụ trách là Trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Scott Busby. Tác giả bài viết này đã từng có dịp gặp ông Busby vào mùa thu năm ngoái nhân chuyến công tác của ông ở Việt Nam. Cởi mở nhưng nghiêm khắc, đôi khi viên trợ lý ngoại trưởng này khiến đối tác ngoại giao Hà Nội chùn mình.

 

Mới đây, ông Busby mới đây đã dự một hội thảo về tự do báo chí do đài RFA tổ chức và đã xác nhận “Hoa Kỳ thuyết phục thành công nhà nước Việt Nam trả tự do cho một số tù nhân lương tâm”. Phát ngôn mang tính khẳng định hiếm hoi này cho thấy câu nói đầy ẩn ý “Chúng tôi có ưu thế để đặt ra vấn đề nhân quyền” của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là David Shear vào tháng 4/2013 là có cơ sở.

Xã hội dân sự Việt Nam đương nhiên nằm trong ưu tiên về thăng tiến nhân quyền mà nhóm của ông Scott Busby và các tổ chức nhân quyền quốc tế dành ưu tiên. Từ tháng 4/2013 khi bắt đầu nối lại cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ tại Hà Nội, giới quan sát cũng bắt đầu chứng kiến những bước đi tái hợp có hiệu quả của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đối với giới lãnh đạo luôn bị xem là bảo thủ và thực dụng ở Việt Nam.

 

Sau cuộc đối thoại nhân quyền trên, trợ lý ngoại trưởng Mỹ và cũng là trưởng đoàn đối thoại Hoa Kỳ Dan Baer đã được Nhà nước Việt Nam “tạo điều kiện tiếp xúc một số người”, trong đó có linh mục bị bịt miệng tại tòa Nguyễn Văn Lý – một người công giáo không thiếu tinh thần biểu thị bất đồng chính kiến.

 

Thế nhưng sau đó Dan Baer đã ra về với một thái độ không mấy hài lòng. Thậm chí tại buổi họp báo công bố kết quả cuộc đối thoại nhân quyền, ông cũng không thèm hiện diện. Rõ là kết quả sơ khởi vào lúc đó chưa thể làm người Mỹ thỏa mãn.

 

Tuy nhiên một năm sau, vào tháng 3/2014, nữ thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Wendy Sherman thậm chí còn tỏ ra lãng mạn khi cao hứng tại Hà Nội “Xã hội dân sự là một trong những điểm thú vị nhất trong mối quan hệ giữa hai nước”. Cũng cần ghi nhận rằng nữ chính khách này ngay sau đó đã được tiếp xúc khá thoải mái với Hội Anh em dân chủ – một trong những tổ chức dân sự độc lập bị chính quyền đưa vào chế độ “săn sóc đặc biệt”. Nguyễn Văn Đài – luật sư và cũng là một cựu tù nhân lương tâm, người từng nằm trong danh sách yêu cầu trả tự do của phía Mỹ trong cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam năm 2009, là nhân vật khởi xướng ra hội đoàn khiến nhà nước phải bỏ tâm lo nghĩ ấy.

 

Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi

Ở Việt Nam, chẳng có thành quả nào từ trên trời rơi xuống.

 

Số phận thăng tiến của xã hội dân sự ở Việt Nam đương nhiên cũng gắn chặt với đà vận động quốc tế và mối quan hệ tương nhượng giữa hai chính phủ Việt Nam với Mỹ. Đó là chưa xét đến khá nhiều yếu tố tác động từ phía Liên minh châu Âu, nhất là những đòi hỏi nhân quyền đặc trưng văn hóa của người Pháp mà đã giúp cho giáo sư Phạm Minh Hoàng không phải trải nghiệm quá lâu trong trại giam B34 ở Sài Gòn.

 

Tình hình như thế đã phát triển thấy rõ sau tháng 7/2013 – thời điểm diễn ra cuộc gặp “bất ngờ” của nhân vật đứng số hai Việt Nam là ông Trương Tấn Sang với người đứng đầu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Tòa Bạch ốc. Trong nửa cuối năm 2013, đầu năm 2014 và cùng lúc với sự kiện Nhà nước Việt Nam được xét chọn cho một cái ghế trong Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, hàng loạt tổ chức dân sự độc lập đã được độc lập hình thành ở Việt Nam, trong đó đáng chú là những cái tên Diễn đàn Xã hội dân sự, Hội Phụ nữ nhân quyền, Hiệp hội Dân oan Việt Nam, Văn đoàn độc lập Việt Nam, Hội Cựu tù nhân lương tâm Việt Nam.

 

Từ nhiều năm qua, một đề nghị đã trở thành đòi hỏi cấp thiết từ các tầng lớp công dân quan tâm đến hiện tình bức bối đầy trơ trẽn của đất nước là quyền tụ tập và lên tiếng của họ đã luôn bị đảng cầm quyền và chính quyền gò ép và tránh né. Minh chứng rõ rệt nhất cho câu chuyện hoàn toàn không lãng mạn này là mặc dù đã được nêu ra tại điều 69 của hiến pháp năm 1992, nhưng cho đến nay Luật lập hội vẫn chưa được Quốc hội ban hành. Trong khi đó, một văn bản nhỏ lẻ là nghị định số 45 đã được Chính phủ nêu ra như một ràng buộc pháp lý đối với bất kỳ hội đoàn độc lập nào muốn đăng ký hoạt động. Tuy nhiên ai cũng biết rằng trong thực tế, đã chưa có bất kỳ nhóm dân sự độc lập nào vượt qua được rào chắn nghị định 45. Từ vụ việc phải đóng cửa của Viện Những vấn đề phát triển năm 2009 ở Hà Nội đến Hiệp hội dân oan năm 2013 tại Sài Gòn, bất cứ một động thái “thượng tôn pháp luật” nào cũng bị các cơ quan chấp hành luật pháp nại đủ các lý do để từ chối và phủ nhận.

 

Nhưng trớ trêu là tính chất độc lập của các hội đoàn dân sự cũng bởi thế càng có ý nghĩa. Đến giờ, hầu hết các hội nhóm dân sự đều tiến lên độc lập với nhà nước về quan điểm tư tưởng, phương châm và nội dung hoạt động, nhân sự điều hành và tất nhiên cả về tài chính.

 

Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi. Chỉ trong ít năm, làn sóng dân sự độc lập đã bủa rộng dần tại một số thành phố lớn như HàNội, Sài Gòn, Đà Nẵng. Nhưng khác nhiều với giai đoạn năm 2012 trở về trước, giờ đây tiếng nói của xã hội dân sự còn mang ý nghĩa hội nhập quốc tế và vô hình trung còn trùng với một nhu cầu thiết yếu chống khủng hoảng kinh tế của Nhà nước Việt Nam là giành được Hiệp định TPP. Chính vì thế và không còn cách nào khác, giới cầm quyền và ngay cả vài ba nhân vật được coi là bảo thủ nhất trong chính đảng và chính quyền cũng đang có dấu hiệu bị thuyết phục về khuynh hướng “thỏa hiệp” với xã hội dân sự.

 

Chia rẽ là chết!

Cũng không còn cách nào khác, cho đến lúc này xã hội dân sự Việt Nam phải tìm đến tiếng nói nối kết, nếu không muốn nói là một tinh thần “hiệp thông” cao quý hơn nhiều. Thời gian hơn nửa năm qua, việc chứng kiến không gian tách rời tương đối giữa các hội nhóm dân sự độc lập và ngay trong lòng vài hội nhóm đã cho thấy triết lý người xưa không hề sai: chia rẽ là chết.

 

Một số động tác gọi hỏi, sách nhiễu của cơ quan an ninh địa phương đối với những thành viên dân sự trong vài tháng qua cũng cho thấy bất cứ tế bào xã hội dân sự nào cũng có thể trở thành “con mồi” nếu họ không biết cách nắm chặt tay nhau để đối diện với kẻ đi săn. Hẳn đó là lý do vì sao nhu cầu thiết thân lại nảy nở vào lúc này, khi nhiều người trong giới hoạt động dân chủ biểu lộ thái độ dựa vào nhau để chia sẻ rủi ro và nâng đỡ tinh thần.

 

Gần một năm rưỡi sau thời điểm phong trào “Kiến nghị 72” khởi động, vũ điệu chậm chạp của xã hội dân sự còn trong trứng nước mới được gia tốc hơn đôi chút. Cơ hội cho quyền lên tiếng cũng vì thế lại một lần nữa mở ra, dù nội lực và thực lực của các hội nhóm dân sự độc lập vẫn còn là ẩn số.

 

Nhưng muộn còn hơn không. Thức tỉnh không bao giờ là kẻ thù của thời gian và sự tiến bộ.

+++++++++++++++++++++++++++++++++

http://anhbasam.wordpress.com/2014/05/10/2204-thu-ngo-ve-thai-do-va-hanh-dong-can-va-phai-co-truoc-hiem-hoa-trung-quoc/

Thư ngỏ: Về thái độ và hành động cần và phải có trước hiểm họa Trung Quốc

Posted by adminbasam on 10/05/2014

Boxit Vietnam

Kính gửi: Chủ tịch nước Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Bộ trưởng Bộ Công an

Thường trực Ban bí thư

Đồng kính gửi: Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh

Nếu ngay bây giờ hoặc sắp tới Trung Quốc tiến hành một cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam, sự thể sẽ ra sao?

Gần đây, bạn bè của tôi – những sĩ quan trung cao cấp trong quân đội – đã không mấy tin tưởng rằng bộ đội Việt Nam còn đủ khả năng để tái hiện chiến thắng biên giới phía Bắc năm 1979. Nguồn cơn không chỉ bởi tương quan chênh lệchcó thể chỉ khoảng 1/3 về vũ khí và khí tài quân sự dàn đều trong các binh chủng và quân chủng, mà tử huyệt của bộ đội Việt Nam nằm ở lòng quân.

Đã từ lâu, lòng quân chểnh mảng, phân hóa, chia rẽ và hoang mang. Khả năng sẵn sàng chiến đấu cao chỉ chủ yếu tồn tại trong giáo trình quân sự. Điều đơn giản nhất mà một người lính luôn tự hỏi là một khi chiến tranh nổ ra, anh ta sẽ chiến đấu cho cái gì và vì ai. Nhiều người lính như vậy lại có thân nhân là dân oan đất đai và nạn nhân của vô số đối xử bất bình đẳng từ phía các cấp chính quyền. Có ít nhất hàng triệu người dân phải chịu bất công ở các mức độ từ bình thường đến nghiêm trọng và cực kỳ nghiêm trọng trên khắp các vùng đất nước. Một người lính sẽ không thể quyết tử vì tổ quốc quyết sinh nếu người thân của họ bị chính quyền địa phương ngày đêm chà đạp quyền lợi và các quyền con người.

Quân đội từ nhân dân mà ra. Lòng quâncũng bắt nguồn và là hệ quả của lòng dân. Tình cảm của một người dân trước hiểm họa ngoại xâm chỉ thể hiện giản dị qua hành động phản ứng rất đỗi bình thường là biểu thị tinh thần phản kháng và biểu tình để tìm đến tinh thần đoàn kết dân tộc.

Thế nhưng ngay vào lúc này, nếu những người cầm quyền ở Việt Nam muốn phát động một cuộc biểu tình của dân chúng chống lại sự can thiệp của Trung Quốc, liệu còn được bao nhiêu người dân xuống đường?

Khả năng không sẵn sàng chiến đấu và có hơi hướng thất bại về tư tư tưởng của quân đội cũng là một thất bại quá lớn về niềm tin của người dân đối với chế độ. Mất niềm tin chính thể cũng dẫn đến não trạng vô cảm của không ít người dân dù phải đối mặt với hiểm họa xâm lăng ngoại bang.

Một trong những nguyên do dễ giải thích nhất cho sự vô cảm ấy lại thuộc về thái độ của chính quyền, khi giới lãnh đạo quốc gia và ngành công an đã luôn tìm cách ngăn chặn, khống chế, trấn áp và cả đàn áp đối với đám đông biểu tình chống Trung Quốc từ nhiều năm qua, đặc biệt từ giữa năm 2011 đến nay.

Hậu quả quá cay đắng mà một dân tộc đủ tự trọng phải nhận lãnh là trong ít nhất mấy năm qua, dư luận nhân dân đã công khai công kích về những Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống thời cuộc, về cái gọi là “chính sách ngoại giao đầu gối” từlẩn khuất đến công nhiên trong một bộ phận lãnh đạo quốc gia mà đang quét sạch chút ý chí còn lại của quân đội và dân chúng.

Nhưng với người bạn “Bốn Tốt”, tất cả chỉ mới bắt đầu. Chỉ mới bắt đầu cho một trang lịch sử nô thuộc mới đối với Việt Nam. Chỉ mới bắt đầu cho một chiến dịch thăm dò phản ứng, uy hiếp và tiến tới xâm lược quân sự tổng lực đối với đất nước “Thơ tôi khóc lệ rơi hình chữ S”.

Bi kịch thời đại của đất nước hình chữ S đó đang tiếp biến vào tháng 5/2014, với hình ảnh giàn khoan “Mười sáu chữ vàng” của Trung Quốc ngự trị ngay trên vùng lãnh hải và lương tri quốc gia.

Giới lãnh đạo Việt Nam sẽ làm gì? Làm gì để ngăn chặn mối họa xâm lăng, ít nhất ngang bằng với lòng kiên định và hành động mà họ đã thường phô bày để chế ngự ý chí phản kháng ngoại bang của dân chúng? Vì sao họ không tiến hành điều tra ngay lập tức về chuyện liệu có một quan hệ “đi đêm” nào giữa nhữngquan chức nào đó của Việt Nam với người Trung Quốc để dẫn đến hậu quả ngang nhiên và ngang ngược như ngày hôm nay? Và tại sao giới lãnh đạo ViệtNam lại không đủ hồi tâm, thống nhất và quyết đoán để ít nhất chấp nhận một cuộc biểu thị lòng yêu nước xứng đáng của trí thức và người dân, tại ít nhất hai thành phố trung tâm là Hà Nội và Sài Gòn?

Đã khá muộn khi nhắc lại lời ai điếu của người dân: “Chính sách ngoại giao đầu gối” không bao giờ có thể khiến cho 500 đại biểu quốc hội và gần 200 ủy viên trung ương đảng cầm súng tiến ra mặt trận. Nhưng tinh thần quỳ gối không còn chút liêm sỉ của một bộ phận quan chức nào đó trong đảng và chính quyền lại đang khiến cho chẳng còn mấy người dân tình nguyện đỡ đạn ở chốn tiền phương,thay cho các nhóm lợi ích tham lam và sẵn lòng biến khỏi đất nước vào bất kỳ thời điểm nào Tổ quốc lâm nguy.

Cuộc biểu tình dự kiến vào ngày chủ nhật 11/5 tới đây tại Hà Nội và Sài Gòn chỉ là khúc bi tráng đầu tiên trong giai điệu bi ca và lâm nguy của dân tộc Việt Nam…

Song những người cầm quyền vẫn còn chút cơ hội để vớt vát lại niềm tin dân chúng, nếu họ thể hiện lònghồi tâm bằng việc hủy bỏ chế độ ngăn chặn và đàn áp đối với các tầng lớp nhân dân chỉ xuống đường vì lòng yêu nước chứ không phải nhằm lật đổ chế độ.

Giá trị lịch sử của các tầng lớp nhân dân như thế vẫn còn nguyên vẹn, từ nhân sĩ trí thức, sinh viên học sinh, tiểu thương, công nhân và nông dân, đảng viên lão thành, cựu chiến binh…, kể cả con số ngày càng tăng của cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an đang tại ngũ. Đó là những người còn mất ngủ trước hiện tình hỗn mang đất nước, còn linh cảm tồi tệ về lương lai một quốc gia nô bộc, còn chưa thể bỏ mặc dĩ vãng tận cùng của “Ngàn năm Bắc thuộc”.

Các tầng lớp nhân dân ấy–cội nguồn và lịch sử của dân tộc Việt Nam –đã đến lúc không cần phân biệt “Lề phải” và “Lề trái”, hãy cùng kết tay nhau và nắm tay giới cán bộ, công chức còn nặng tình quê hương trong hệ thống đảng và chính quyền, gìn giữ những giá trị cuối cùng nhưng sắp mất nốt của dân tộc chúng ta.

Tổ quốc hay là chết!

Sài Gòn ngày 8 tháng 5 năm 2014

Phạm Chí Dũng

Cựu sĩ quan quân đội, nhà báo độc lập

___________________

http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2014/05/12/xuong-duong-thuy-my-rfi-pv-pham-chi-dung/

Xuống đường!

Thụy My RFI

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 5 năm 2014

http://thuymyrfi.blogspot.com/2014/05/xuong-uong.html

 

Nhà báo Phạm Chí Dũng (áo trắng, ở giữa, trong đoàn biểu tình ngày 11/05/2014.

http://chauxuannguyenblog.files.wordpress.com/2014/06/a0b8d-tuanhanh.jpg

 

Thụy My : Thân chào nhà báo Phạm Chí Dũng. Một ngạc nhiên thú vị : phát hiện ra anh đang đi ở hàng đầu trong đoàn biểu tình chống Trung Quốc ngày hôm nay 11/05/2014 trước Bưu điện TPHCM. Đây là tấm ảnh đầu tiên trong một loạt ảnh minh họa cho bài tường thuật về cuộc biểu tình này của báo Thanh Niên online. Chắc là anh có khá nhiều cảm xúc về cuộc biểu tình này ?

 

Phạm Chí Dũng : Một cuộc xuống đường đầy cảm xúc! Cảm xúc sống động và đầy đủ nhất của tôi không chỉ là bầu không khí biểu tình phản kháng Trung Quốc của người dân, vì thực ra không khí này đã đột biến từ năm 2011 rồi. Nhưng đây là lần đầu tiên phát tiết một sự ăn khớp nhịp nhàng và cảm thông, chia sẻ giữa báo chí nhà nước với hoạt động dân chủ của giới trí thức và dân chúng, liên quan đến sự kiện luôn bị đảng và chính quyền xem là đặc biệt “nhạy cảm” này.

 

Không chỉ các trang mạng truyền thông xã hội như Dân Làm Báo, Dân Quyền, Dòng Chúa Cứu Thế, Tễu… đưa tin và hình ảnh trực tiếp về cuộc biểu tình ngày 11/5, mà các báo nhà nước như Pháp Luật TP.HCM, Thanh Niên online… cũng liên tục và sôi nổi cập nhật và tường thuật về diễn biến và không khí cuộc biểu tình này. Trước đó, có thông tin là Ban Tuyên giáo trung ương đã cấm báo chí trong nước không được đưa tin về cuộc biểu tình, coi đây là hoạt động không được pháp luật thừa nhận và làm ảnh hưởng đến “Bạn vàng”. 

 

Thế nhưng tinh thần đồng điệu và đồng cảm của giới báo chí nhà nước đã khiến cho tình cảm đồng vị dân tộc chưa bao giờ được tôn bật như lúc này. Ngay khi một nhóm chỉ mười mấy người bắt đầu giương băng-rôn, biểu ngữ và hô khẩu hiệu đả đảo Trung Quốc tại Nhà hát Thành phố, hàng chục phóng viên báo đài đã tràn đến ghi âm, ghi hình. Không khí phấn khích ngay lập tức đã lan ra, khiến đám đông dường như quên bẵng cuộc mít-tinh hình thức có sự can thiệp chỉ đạo của chính quyền thành phố trên các bậc thềm Nhà hát lớn.

 

Cuộc biểu tình diễn ra thế nào, thưa anh?

 

Chỉ sau ít phút đi từ Nhà hát lớn, túc số biểu tình đã vọt lên đến hàng trăm người. Nhiều bạn trẻ từ đám đông mít-tinh và hai bên đường đã ngay lay lập tức hòa mình vào dòng người tuần hành. Chị Thiều Thị Tân, một cựu tù Côn Đảo mà tôi tình cờ gặp lại sáng nay, đã chuẩn bị sẵn loa phóng thanh. Chị làm cho tôi ngạc nhiên vì không chỉ hát tiếng Pháp rất hay, cựu nữ sinh trường Marie-Curie hơn sáu chục tuổi này vẫn còn giữ được phong độ và kinh nghiệm của những năm tháng đấu tranh trong chốn lao tù. Giọng chị sang sảng và lôi cuốn đám đông, khiến cho cuộc tuần hành mau chóng tuôn trào ý nghĩa “xuống đường”.

 

Quả là xuống đường! Từ Nhà hát lớn, chúng tôi đi ngược chiều đường Đồng Khởi và cứ thế tiến về Nhà văn hóa Thanh niên và Tổng lãnh sự quán Trung Quốc. Ngoài chị Thiều Thị Tân, những người đi đầu có thể kể đến nhà thơ Bùi Minh Quốc vừa từ Đà Lạt về Sài Gòn, nhà thơ Hoàng Hưng, nhà báo Huy Đức, và cả một nhân vật phản biện đặc biệt của “lề phải” mà người dân vẫn nhớ còn là “ông hội đồng Khoa”. Chưa hết đường Đồng Khởi, con số tuần hành đã lên đến ít nhất 300-400 người.

 

Khi đoàn biểu tình tiến đến Nhà văn hóa Thanh niên, rất nhiều bạn trẻ rải rác chờ quanh khu vực đó từ sáng sớm đã lập tức gia nhập vào dòng người. Tôi nhận ra nhiều khuôn mặt quen thuộc trong những lần biểu tình chống Trung Quốc trước đây, hồn nhiên, đầy hăng hái và ít nhiều trải nghiệm. Nhưng cũng còn nhiều khuôn mặt mới. Thậm chí trong số đó, tôi còn nhận ra vài ba gương mặt quen thuộc của những bạn trẻ hoạt động trong giới cán bộ Đoàn. Tất nhiên, nếu chỉ xét về biểu hiện, người ta có thể xem những bạn trẻ này là “biểu tình cuội”. Song tôi lại không cho là như vậy, bởi tôi nhìn thấy ánh mắt hừng hực của họ và một biểu lộ tha thiết muốn tham gia biểu tình thật sự chứ không phải nhằm “phá đám”.

 

Những gương mặt và những ánh mắt ấy tôi đã chứng kiến trong cuộc mít-tinh phản đối Trung Quốc do Mặt trận Tổ quốc và Hội Luật gia TP.HCM tổ chức vào buổi chiều ngày 10/5 tại Nhà văn hóa Thanh niên.

 

Theo quan sát của anh thì cuộc mít-tinh của chính quyền ra sao?

 

Tất cả tinh thần “cực lực phản đối”  của giới chức chính quyền đã chỉ diễn ra trong một hội trường đóng kín với máy lạnh chạy hết công suất và đã kết thúc trong vỏn vẹn có 30 phút, sau bốn, năm bài tham luận bằng giấy và không ít cái ngáp dài cùng cặp mắt nhắm nghiền. Thế nhưng chi tiết có thể đặc tả là mỗi khi diễn giả nào nói mạnh mẽ đôi chút về thái độ phản kháng đối với Trung Quốc, hội trường lại vang lên tiếng vỗ tay.

 

Chúng ta nên biết rằng cuộc mít-tinh ngày 10/5 được chính quyền TP.HCM tổ chức và giám sát chặt chẽ từ nội dung đến thành phần tham dự. Những người tham dự phải là “lực lượng nòng cốt” và phải có thẻ mới được vào dự. Thế nhưng tình cảm chất chứa bên trong của mỗi con người thì lại là một câu chuyện khác hoàn toàn. Thái độ quá nhu nhược và còn bị coi là đớn hèn của tầng lớp cầm quyền ở Việt Nam đã khiến cho ngay một người dân nhịn nhục giỏi nhất cũng phải cảm thấy hổ thẹn, còn những người không mang tâm tư khuất phục thì không thể chịu đựng nổi.

 

Xuống đường! Trong đoàn biểu tình sáng 11/5 đã hiện ra nhiều khuôn mặt hừng hực bạn trẻ, rất có thể có cả những bạn đã tham dự cuộc mít-tinh của chính quyền. Họ đi đầu, với cờ tổ quốc, la khản cả giọng và có cảm giác như chỉ cần một hiệu lệnh đủ thực tâm, những bạn trẻ đó có thể cầm súng tiến ngay ra mặt trận để chiến đấu với kẻ gây hấn Trung Quốc.

 

Có lẽ thái độ nhu nhược của chính quyền Việt Nam trước Trung Quốc đã phải trả giá?

 

Tháng 5/2014 đã ghi nhận một sự kiện vô cùng đặc biệt: chưa bao giờ kể từ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, Nhà nước Việt Nam lại phải chấp nhận một cuộc biểu tình và xuống đường công khai như thế này, cho dù trước đó chính quyền vẫn muốn làm theo cách họ là chủ động tổ chức mít-tinh và cùng lắm là cho biểu tình, nhưng lại là độc quyền biểu tình, tương tự như triết học độc quyền yêu nước của họ.

 

Nhưng sự nhượng bộ của chính quyền đã cho thấy gần hai chục cuộc biểu thị, biểu tình chống Trung Quốc của trí thức và người dân diễn ra ở Hà Nội và Sài Gòn từ năm 2011 đến nay hoàn toàn không phải là vô nghĩa. Còn hơn thế, mức độ gây hấn của Trung Quốc đã bộc lộ sâu sắc về ý nghĩa xâm lược, đến nỗi chính quyền Hà Nội đang cảm thấy cô đơn và sợ hãi hơn lúc nào hết.

 

Họ cô đơn trước quốc tế vì nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc vào lúc này, sẽ không còn bất cứ cường quốc nào trên thế giới ủng hộ họ. Họ càng cô đơn trước dân chúng vì đã từ quá lâu họ đè nén quá nhiều các tầng lớn nhân dân bằng chính sách sưu cao thuế nặng, bằng các nhóm lợi ích tham tàn và đàn áp thậm tệ những người biểu tình chống Trung Quốc. Thế sợ hãi của chính quyền đang vào đúng vị thế của kẻ ở chân tường. Vậy nên họ phải thay đổi phương cách tổ chức biểu tình, cố thay đổi để ít nhất cũng vớt vát được phần nào niềm tin nơi dân chúng và đồng thời hy vọng đạt mục đích cô lập “các thế lực thù địch”.

 

Thế còn thái độ của nhân viên an ninh như thế nào, trước các “thế lực” bị coi là thù địch này, thưa anh?

 

Thực ra cuộc biểu tình ngày 11/5 đã cho thấy rõ ràng là chẳng có thế lực thù địch nào hết. Tất cả đều đồng lòng, từ trí thức, sinh viên, cựu chiến binh, báo chí, tôn giáo, dân oan đất đai… Ngay cả những nhân viên an ninh luôn đi bên cạnh tôi cũng mang một dáng vẻ khác, với nét mặt thư giãn hơn trước đây. Đôi khi tôi còn thấy vài nhân viên an ninh bên đường mỉm cười có vẻ đồng cảm với tiếng hô của đám đông dưới lòng đường. Một số khác tỏ ra ngượng nghịu. Trong khi đó, lần đầu tiên cảnh sát giao thông và lực lượng thanh niên xung phong tỏ ra đặc biệt có trách nhiệm với đoàn biểu tình. Bất chấp đoàn người đi ngược chiều lưu thông, mọi xe cộ đều được hướng dẫn rẽ sang ngả khác.

 

Tôi cũng nhận ra biểu cảm có chút tế nhị ở một số người quen của của tôi trong Thành ủy và vài sở ngành liên quan đến công việc theo dõi biểu tình. Có người nói nhỏ với tôi rằng đến giờ họ chỉ xem việc theo dõi hoạt động biểu tình như một nhiệm vụ không thể thoái thác. Ngoài ra, họ hoàn toàn “vô cảm” với công tác này. Rõ là nhận thức và có thể cả con tim của các viên chức nhà nước, nhân viên an ninh đã chuyển biến qua thời gian, ít nhất cũng tách bạch được đâu là chuyện “âm mưu lật đổ chế độ” và đâu là lòng yêu nước thực sự.

 

Trước đây đã có thời nhiệm vụ của anh còn đối lập với những người biểu tình?

 

Năm 2009, khi còn làm công tác nội chính, hàng tuần tôi đều phải “trực chiến”, có nghĩa là phải ra Nhà văn hóa Thanh niên và Công viên 30/4 để quan sát động thái của đám đông. Đó là thời gian mà lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với đám đông biểu tình, lần đầu tiên nhận ra sự thật hùng hồn nhiệt huyết trong ánh mắt của họ, lần đầu tiên nhìn thấy một trong những người nhiệt thành nhất trong biểu tình chống Trung Quốc là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải – người mà số phận run rủi để tôi nằm đúng bệ xi măng của anh, đi đúng đôi dép tổ ong mòn vẹt của anh tại buồng giam 2C1, trại giam số 4 Phan Đăng Lưu (PA92) của Công an TP.HCM vào tháng 10/2012.

 

Tất cả những cái đầu tiên đó đã làm cho tôi xác quyết lại nhận thức của mình về tính chính nghĩa của nhân dân khi tôi còn chưa rời khỏi ngành nội chính. Để vào năm 2011, tôi bắt đầu viết những bài đầu tiên trên “Lề trái” với bút danh Người Quan Sát, tất nhiên là viết lén. Viết về những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, về sự bối rối và sợ hãi ngay từ lúc đó của chính quyền. Khi đó một số người dân chủ vẫn cứ tưởng bút danh đó là của nhà báo Huy Đức.

 

Còn giờ đây, kỷ niệm đó đã trôi dạt vào dĩ vãng, nhưng vẫn làm cho tôi cảm thấy bồi hồi khi nhìn thấy đám đông các bạn trẻ đang xuống đường, hòa mình trong bài ca “Dậy mà đi” vang trời ngày hôm nay.

 

Thật là thú vị! Xin anh kể tiếp về diễn tiến của cuộc biểu tình sáng 11/5

 

Đến 10 giờ sáng, đám đông đã lên đến  hơn 2.000 người, một con số chưa từng có trước đây. Cùng lúc, hàng ngàn người dân ở Hà Nội cũng đổ ra đường hòa nhịp với Sài Gòn. Hai đầu cầu làm nên một niềm vui khó tả về tinh thần xuống đường hòa quyện và đồng nguyên. Nhiều người dân đi trên đường cũng bắt đầu nhập đoàn, dắt xe máy đi cùng. Có cả những bé nhỏ mặt tươi sắc nắng. Một người đàn ông mặt mũi đen nhẻm và áo cũng đen nốt, nhưng động tác vô cùng quyết liệt lại trở thành người dẫn đầu đám đông. Rất thú vị! Những hình ảnh như thế làm tôi nhớ lại cuộc Cách mạng tư sản Pháp vào thế kỷ 18, so sánh cuộc xuống đường của nền cộng hòa Gaulois trong quá khứ và cuộc biểu thị của xã hội dân sự Việt Nam hơn 200 năm sau đó.

 

Miên man trong dòng người, tôi cũng chợt nghĩ đến giới lãnh đạo nước nhà. Quả thật, nếu họ chịu hiểu ra đôi chút về tình cảm đồng loại thì có lẽ họ đã dám tham gia vào đoàn người này. Mấy ngày trước, tôi nghe phong phanh thông tin là Bộ Chính trị họp liên tục và rất căng thẳng về vụ giàn khoan 981 của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải Việt Nam ở Biển Đông, và cuối cùng có vẻ chẳng ai quyết định được điều gì quan trọng, ngoài việc tiếp tục kéo dài khẩu hiệu 16 chữ vàng và làm thế nào để đám đông Việt Nam không quá giận dữ với Bắc Kinh.

 

Anh có ngạc nhiên hoặc có nhận xét gì về thái độ thiếu quyết đoán như vậy của giới lãnh đạo?

 

Tôi không ngạc nhiên về lối tư duy như thế, và tất nhiên mấy hàng rào chắn cùng lực lượng cảnh sát cơ động trước cung đường dẫn đến Tổng lãnh sự quán Trung Quốc cũng là lẽ thường tình, xảy ra một cách quá thường tình trong một chế độ với năng lực quản lý tầm thường. Nhưng tôi chỉ ngạc nhiên là vì sao cũng có thông tin vài ba vị lãnh đạo cao cấp nào đó của đất nước muốn nhân dịp này lấy lòng dân và ngấm ngầm bất đèn xanh cho các cuộc xuống đường, tuy nhiên họ lại không đủ bản lĩnh và quyết đoán để ít nhất dám xuất hiện trước ống kính truyền hình hoặc tối thiểu trong một bài trả lời phỏng vấn của báo chí nhà nước, về thái độ cần và phải có đối mặt với Trung Quốc.

 

Bởi điều đơn giản là Hội nghị trung ương 9 mà dường như xoáy sâu vào vấn đề sắp xếp nhân sự đang diễn ra, và có thể đây là hội nghị bản lề về nhân sự trên con đường dẫn đến đại hội đảng cầm quyền lần thứ 12 vào năm 2016. Những vị quan chức cao cấp muốn tranh thủ tình cảm mị dân vẫn luôn đánh mất cơ hội quý giá trong khi người dân còn chút trông đợi vào họ.

 

Bài học căn bản của công tác lấy lòng dân chúng, hay nói thẳng tuột là mị dân, là dựa vào tình cảm dân tộc. Ở Trung Quốc, đó là tinh thần tự tôn nước lớn. Còn với Việt Nam, lại là ý chí chống ngoại xâm mà đã hiện ra không biết bao nhiêu lần trong lịch sử. Tất nhiên giới chính khách lão luyện về thủ thuật chính trị rất biết bài học này. Nhưng có điều, cái khác biệt quá lớn giữa họ với giới chính khách phương Tây là họ quá thiếu bản lĩnh về nghệ thuật mị dân. Thế nên cứ hết cơ hội này đến cơ hội khác, tất cả đều trôi tuột qua, lòng dân ngày càng thất vọng và càng sụp đổ, trong khi vị thế của giới quan chức chế độ cũng chẳng khá gì hơn.

 

Theo anh, làm thế nào để có được tinh thần mà anh gọi là “đồng nguyên” của người dân Việt vào lúc này?

 

Cuộc biểu tình ngày 11/5, trùng với Ngày Nhân quyền Việt Nam, đã trở thành một thành công ngoài mong đợi. Không chỉ là một cuộc xuống đường đầy đủ ý nghĩa, đây còn là lần đầu tiên có sự hòa hợp của ít nhất giới truyền thông nhà nước, còn gọi là “Lề phải”, với giới hoạt động dân chủ và tiếng lòng chính đáng của nhân dân. Chắc chắn là vào mỗi giờ phút hiểm nguy của dân tộc, tinh thần đồng nguyên lại giương cao, và tất cả những người còn lương tri đều cần đến một ý chí đồng nguyên như thế để xử lý âm mưu ngoại xâm và giải quyết luôn cả những mâu thuẫn khó có thể khắc phục với chính quyền.

 

Điều đó làm cho tôi có hy vọng là trong những tháng năm tới, cùng với việc Đảng và Nhà nước buộc phải dần thừa nhận xã hội dân sự. Các hoạt động dân sự tiêu biểu như xuống đường và biểu tình cũng được mở ra rộng hơn, nhiều hơn và đa dạng hơn, không chỉ phản kháng Trung Quốc mà còn mang tính phản biện đối với các bất công xã hội đang ngập ngụa đầy rẫy. Thu hồi đất đai, ô nhiễm môi trường, những cái chết do công an bạo hành, hay trách nhiệm của Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng về cái chết của hơn 50 người dân trong nạn xả lũ thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013, hoặc về trách nhiệm của bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến liên quan đến dịch sởi cùng cái chết của hơn 100 trẻ em Việt Nam… đều cần được xã hội dân sự và các cuộc xuống đường lên tiếng, lên án mạnh mẽ và kịp thời.

 

Có như thế thì người dân mới có cơ hội để nói lên tiếng nói thực sự từ lòng mình, quyền lợi của dân nghèo mới được vớt vát phần nào. Và Luật biểu tình do Quốc hội hứa hẹn ban hành suốt hơn hai chục năm qua mới có cơ hội ló dạng trong thời gian tới.

 

Xin vô cùng cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng đã dành cho Thụy My cuộc phỏng vấn về cuộc biểu tình hừng hực lửa của người dân Saigon hôm nay.

+++++++++++++++++++++

http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2014/05/12/bat-ca-nhieu-tay-khong-chon-dung-than-pham-chi-dung/

“Bắt cá nhiều tay” và “Không chốn dung thân”

Phạm Chí Dũng

12/05/2014

http://boxitvn.blogspot.com/2014/05/bat-ca-nhieu-tay-va-khong-chon-dung-than.html

 

Trong số các quốc gia mà cần phải gây hấn để hướng dư luận Trung Quốc ra bên ngoài, Việt Nam đương nhiên ở vào thế yếu nhất và dễ bị o ép nhất. Chính sách “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” từ nhiều năm qua đã trở nên phản tác dụng đến mức kế hoạch tính toán bắt cá nhiều tay đã trở nên một bài học kinh điển về hậu quả mà rốt cuộc Hà Nội không còn bất cứ đồng minh và càng không thể nói đến bạn hữu nào.

Cho dù nhiều khả năng chiến dịch xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc mới chỉ tạm dừng ở mục tiêu thăm dò và chiến thuật khiêu khích, nhưng phản ứng của toàn bộ ban lãnh đạo đảng cầm quyền ở Việt Nam đã trở nên nhu nhược chưa từng thấy. Tình hình đó đang phát triển nhanh đến mức mà một số giới quan sát cho rằng trong thời gian tới, Bộ Chính trị Việt Nam có thể bỏ mặc cho người Hán muốn làm gì thì làm ở khu vực biển ĐôngPCD.

*

 

“Không chốn dung thân”

 

Rất ít khả năng Trung Quốc tấn công Việt Nam ngay tại thời điểm này.

 

Nhưng bất chấp thái độ khiêm nhường quá đáng của chính quyền Hà Nội, hình ảnh khổng lồ của giàn khoan mang số hiệu 981 của người bạn “Bốn Tốt” ngạo nghễ trấn ngự ngay trong vùng lãnh hải Việt Nam vẫn trở thành tiêu điểm dư luận trong tuần qua.

 

Nếu cần phải nhìn lại, người ta sẽ không mấy khó khăn nhận ra một hệ thống dấu hiệu: cứ mỗi khi nội tình Nội Hán có hiện tượng động loạn, Bắc Kinh lại mở ra một chiến dịch gây hấn nho nhỏ với các quốc gia láng giềng như Philippines, Việt Nam và cả Nhật Bản. Logic này đã diễn biến gia tăng ở Việt Nam từ giữa năm 2011, khiến nổ ra 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc của người dân hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn, và cho đến cả giờ đây khi đã có gần hai chục cuộc biểu thị phản đối lòng tham Trung Nam Hải.

 

Hàng loạt nguy cơ xuất hiện từ làn sóng phản kháng của người Duy Ngô Nhĩ và khu vực Tây Tạng, cộng với cường độ sức ép mạnh mẽ của bất ổn xã hội ngay trong lòng Nội Hán, đã khiến Bắc Kinh một lần nữa phải hướng dư luận trong nước ra bên ngoài vào cuối tháng 4, đầu tháng 5/2014. Không gian bên ngoài đó, hữu hiệu và mang tính dân tộc chủ nghĩa nhất, chính là biển Đông. Đây cũng là điểm nối giữa các đời Tổng bí thư – Chủ tịch nước ở Trung Quốc, và cho tới giờ là sự thể hiện cực quyền của nhân vật được coi là quyền uy thứ hai trên thế giới – Tập Cận Bình.

 

Trong số các quốc gia mà cần phải gây hấn để hướng dư luận Trung Quốc ra bên ngoài, Việt Nam đương nhiên ở vào thế yếu nhất và dễ bị o ép nhất. Chính sách “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” từ nhiều năm qua đã trở nên phản tác dụng đến mức kế hoạch tính toán bắt cá nhiều tay đã trở nên một bài học kinh điển về hậu quả mà rốt cuộc Hà Nội không còn bất cứ đồng minh và càng không thể nói đến bạn hữu nào.

 

Cho dù nhiều khả năng chiến dịch xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc mới chỉ tạm dừng ở mục tiêu thăm dò và chiến thuật khiêu khích, nhưng phản ứng của toàn bộ ban lãnh đạo đảng cầm quyền ở Việt Nam đã trở nên nhu nhược chưa từng thấy. Tình hình đó đang phát triển nhanh đến mức mà một số giới quan sát cho rằng trong thời gian tới, Bộ Chính trị Việt Nam có thể bỏ mặc cho người Hán muốn làm gì thì làm ở khu vực biển Đông.

 

Ngược hẳn với ý chí tự tôn bất chấp của Đại Hán, đất nước Giao Chỉ năm xưa đang luôn cúc cung một thái độ không thể khác hơn là quỵ lụy. Thái độ phản đối quá sức yếu ớt của Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đối với Quốc vụ viện Trung Quốc đã khiến dư luận và giới quan sát phải đặt dấu hỏi nặng chịch về năng lực thực chất của vị ứng viên này nếu ông ta muốn vươn đến chức vụ Thủ tướng trong tương lai.

 

Vụ dùng giàn khoan dầu khí xâm phạm lãnh hải Việt Nam còn phát ra một linh cảm rất tệ về dã tâm thôn tính của Bắc Kinh trong vài ba năm tới. Hầu như chắc chắn, dã tâm đó sẽ chyển sang hành động rất cụ thể vào bất cứ khi nào chế độ chính trị Hà Nội đủ phân hóa đến mức tê liệt sức đề kháng, cộng hưởng bất ổn và phản kháng xã hội sôi trào.

 

Không còn đồng minh, cũng chẳng còn bạn bè, lại phải đối diện với tình cảm bất mãn quá sâu xa và chỉ chực chờ bùng nổ của dân chúng, giới lãnh đạo nhìn sang nhiều phía ở Hà Nội đang nghĩ gì về tác phẩm văn học “Không chốn dung thân”?

 

“Thoát Trung” hay còn gì khác?

 

Một động thái khác cũng rất đáng lưu tâm trong tuần qua là cùng thời gian xảy ra vụ giàn khoan 981 của Trung Quốc, một trong những tiếng nói “thoát Trung” mạnh mẽ ở Hà Nội là blogger Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh đã bị bắt khẩn cấp. Tuy điều luật bắt giữ blogger này không hề đề cập đến yếu tố Trung Hoa, và chắc chắn sẽ không có chuyện đó, nhưng dư luận về sự khuất tất của động cơ bắt bớ có thể đã là quá đủ.

 

Tất nhiên, không thể trách cứ dư luận khi đã từng xảy ra những tiền lệ – ít nhất hai blogger là Phạm Viết Đào và Đinh Nhật Uy đã bị bắt và bị truy tố vào năm 2013 mà mọi người đều biết ít nhiều có liên quan đến “tội” phản kháng Trung Quốc. Còn trước đó, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải là một trường hợp tiêu biểu, và thân phận của ông vẫn còn nằm nguyên trong chốn lao tù chưa biết đến khi nào.

 

Nhìn sang một khía cạnh khác, một luồng dư luận bổ sung lại nghi vấn động thái bắt giữ blogger Ba Sàm có liên quan đến những động thái ngày càng phức hợp và có vẻ mang tính kích nổ trên chính trường. Một chi tiết rất đáng chú ý là thời điểm bắt Ba Sàm chỉ trước khi khai mạc Hội nghị trung ương 9 có ba ngày. Chi tiết này càng trở nên có tính tham khảo nếu đối chiếu lại vụ bắt giữ một cán bộ nội chính của Thành ủy TP.HCM vào tháng 7/2012, cũng chỉ trước hội nghị trung ương 6 một thời gian ngắn.

 

Cùng thời gian xảy ra các vụ giàn khoan 981 và vụ bắt giữ Ba Sàm, nguyên Tổng giám đốc Vinalines Dương Chí Dũng vẫn phải nhận án tử hình tại phiên xử phúc thẩm đúng vào ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Trái ngược với vẻ tươi cười tự tin trước đó, dường như nhân vật có tên “Ụ nổi” đã mất hẳn hy vọng được sống. Tình cảnh trái ngược như thế không thể không khiến phát sinh một luồng dư luận rất đặc thù: khi không còn khai thêm được bất kỳ thông tin nào có giá trị, đặc biệt là giá trị nội bộ, số phận của Dương Chí Dũng đã bị phủi tay. Nhưng ngược lại, số phận của “Phe lợi ích” lại trở nên khả quan nhất từ sau cái chết của viên Thứ trưởng công an Phạm Quý Ngọ vào ngày 18/2/2014.

 

Nối vòng tay lớn

 

Trong bối cảnh chính trường sôi động khúc bi ca, hoạt động của xã hội dân sự cũng không hề trầm lắng. Ngày 4/5/2014, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam, 13 hội đoàn dân sự độc lập đã cùng ký tên vào một bản tuyên bố chung, đòi hỏi thái độ minh bạch của chính quyền đối với quyền lập hội và công khai phản ứng không khí sách nhiễu không thể chấp nhận của một số cơ quan an ninh đối với các thành viên của xã hội dân sự.

 

Sau vụ bắt giữ blogger Ba Sàm, dường như nhu cầu nối vòng tay lớn giữa các hội đoàn dân sự đang tăng tiến vượt bậc. Trước những khó khăn gây ra từ phía chính quyền, hầu hết các hội đoàn dân sự đều cảm thấy rủi ro có thể xảy đến với bất kỳ ai, và việc chia sẻ rủi ro với nhau trước khi nói đến những việc lớn lao và vĩ đại hơn, là một đức tính không thể thiếu của con dân nước Việt trong cơn hoạn nạn.

 

Chủ đề thành lập Hội nhà báo độc lập Việt Nam cũng bởi thế đang được khơi lại và có thể thành hình trong một tương lai không quá xa.

 

P.C.D.

 

Nguồn: vietnamhumanrightsdefenders.net

 

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 09:57

===================================

http://saohomsaomai.wordpress.com/2014/05/18/pham-chi-dung-vi-sao-tu-choi-quyen-bieu-t-inh-chinh-dang-cua-nguoi-dan/

 

Phạm Chí Dũng: Vì sao từ chối quyền biểu t ình chính đáng của người dân?

Posted on 18.05.2014 by

Nhà báo Phạm Chí Dũng trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Saigon ngày 11/05/2014.Nhà báo Phạm Chí Dũng trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Saigon ngày 11/05/2014.DR

Thụy My
Sáng sớm hôm nay 17/05/2014 tiến sĩ, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng đã nhận được giấy triệu tập của Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi làm việc suốt buổi sáng, cơ quan chức năng yêu cầu nhà báo Phạm Chí Dũng không đi biểu tình ngày mai. Được biết hôm 13/5, ông đã đưa ra lời kêu gọi toàn quốc xuống đường phản đối Trung Quốc xâm lấn Biển Đông vào ngày Chủ nhật 18/5.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với nhà báo Phạm Chí Dũng ngay sau khi ông vừa « làm việc » xong với cơ quan công an.

Nhà báo Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh17/05/2014
by Thụy My
Nghe (07:43)
More

RFI : Thân chào nhà báo Phạm Chí Dũng. Được biết sáng nay anh đã nhận được giấy triệu tập của công an, sự việc diễn ra như thế nào thưa anh ?
Nhà báo Phạm Chí Dũng : Mới đầu giờ sáng tôi đã nhận được giấy mời triệu tập, và tôi nghĩ ngay rằng cuộc biểu tình ngày mai sẽ rất có ý nghĩa. Và chắc chắn là họ không muốn tôi đi dự cuộc biểu tình đó.
Tôi đến cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tại số 4 Phan Đăng Lưu quận Bình Thạnh đúng hẹn. Họ hỏi tôi xoay quanh các bài viết của tôi, hỏi số lượng bài viết cũng như số cuộc trả lời phỏng vấn. Tôi cũng trả lời thành thực là trong một năm qua tôi đã viết khoảng hơn 200 bài cho các đài quốc tế Việt ngữ, và trả lời hơn 100 cuộc phỏng vấn cho báo chí nước ngoài.
Nhưng họ không xoáy sâu vào nội dung các bài viết của tôi, mà đặt vấn đề về cuộc biểu tình chống Trung Quốc vào ngày 18/5. Và dường như họ nhấn mạnh về lời kêu gọi cả nước xuống đường của tôi.
Đến cuối buổi làm việc thì họ đưa cho tôi giấy triệu tập lần thứ hai, là sáng mai, tức ngày 18/5, và họ đề nghị tôi đừng đi biểu tình. Tại vì tình hình rất phức tạp, rất lộn xộn, và có thể có những hoạt động quá khích : đập phá, đốt phá… cũng giống như ở Bình Dương, Đồng Nai, Hà Tĩnh trong thời gian vừa qua. Đó là nội dung mà họ thông tin cho tôi biết.
Cuối cùng họ đề nghị tôi ký xác nhận về hàng loạt bài viết của tôi trên mạng cũng như trên các đài quốc tế Việt ngữ. Nhưng tôi không đồng ý ký ngay tại cơ quan an ninh điều tra, vì tôi cho rằng câu chữ trong các bài viết mà họ đưa cho tôi có thể bị sửa. Do đó tôi đã yêu cầu họ đi theo tôi về nhà, và tôi in bài trên máy của tôi ra, sau đó tôi mới đồng ý ký tên.
RFI : Còn việc anh đi biểu tình ngày mai thì sao ?
Cùng ngày hôm nay khi tôi đến cơ quan an ninh điều tra làm việc, thì lần đầu tiên trang nguyentandung.org, vốn là một trang bị coi là mạo danh Thủ tướng chính phủ, lại đưa một bài về tôi rất quyết liệt. Họ cho tôi là một kẻ gian xảo, đã cấu kết và nhận sự chỉ đạo của các tổ chức phản động nước ngoài, để tung ra lời kêu gọi biểu tình cho ngày 18/5. Tôi không biết trang này thực sự như thế nào, nhưng họ đưa ra những vấn đề mà tôi nghĩ rằng màu sắc của họ thay đổi như tắc kè.
Dựa theo tinh thần đó thì tôi có thể thấy rằng có những sự khó khăn khá lớn đang chờ đợi tôi ở phía trước, nếu ngày mai tôi bước ra đường biểu tình cùng với đồng bào của mình. Mặc dù đó là một cuộc biểu tình hết sức chính đáng, nếu chiếu theo tinh thần công điện của Thủ tướng chính phủ ngày 15/5 vừa qua, là « việc làm chính đáng ». Vì tất cả mục đích cũng chỉ nhắm tới việc phản kháng hành động ngang ngược của Trung Quốc.
Đồng thời cuộc biểu tình theo tôi còn có ý nghĩa là để cho thế giới thấy rằng Việt Nam là đúng, Việt Nam là chính nghĩa. Người dân Việt Nam cũng có quyền xuống đường thể hiện quyền tự do chính kiến, tự do ngôn luận, tiếng nói riêng của mình về vấn đề Trung Quốc, và phản biện đối với sự nhu nhược của nhà cầm quyền, về thái độ với Trung Quốc trong thời gian vừa qua.
Vì vậy tôi rất tiếc là ngày mai tôi sẽ không thể đi cùng với đồng bào của mình xuống đường để biểu thị tinh thần phản kháng Trung Quốc.
RFI : Nhưng với lời kêu gọi toàn quốc xuống đường mới đây, có lẽ những gì có thể đóng góp được thì anh đã đóng góp rồi ?
Còn quá ít ỏi đối với dân tộc này, và còn quá ít ỏi đối với tôi ! Nhưng mà tôi mong rằng trước khi giàn khoan HD-981 của Trung Quốc phải rút khỏi Biển Đông – một ngày nào đó hy vọng là nó sẽ phải rút khỏi Biển Đông – thì các cuộc tuần hành, biểu tình vấn tiếp diễn.Và tôi hy vọng dần dần đó sẽ là cuộc biểu tình của số đông, của sự đồng lòng ba miền Nam Trung Bắc, của tất cả các tỉnh thành trong nước ; cuối cùng sẽ dẫn tới một đám đông vĩ đại, có thể thay đổi cả một thái độ của Việt Nam đối với Trung Quốc.
RFI : Nhưng những sự kiện mới đây ở Bình Dương và Hà Tĩnh đã khiến chính quyền lo ngại những cuộc xuống đường đông người ?
Họ cần phải phân biệt biểu tình quá khích và biểu tình ôn hòa khác nhau như thế nào, không để con sâu làm rầu nồi canh. Ngày hôm qua 17/5 Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đã chính thức thông tin cho báo chí biết rằng tất cả những kẻ gây rối ở Bình Dương và Đồng Nai không phải là công nhân.
Công nhân Việt Nam không có truyền thống và không có bản chất đi gây rối, đập phá và giết người như vậy. Tất cả là một đám côn đồ không biết từ đâu ra, và hiện nay dư luận cũng đang đặt câu hỏi rất lớn : Ai đứng đằng sau mà để cho khi đám côn đồ hoành hành dẫn các đoàn biểu tình ở Bình Dương, Đồng Nai và đốt phá, đập phá hàng mấy chục nhà máy, thì lại không thấy bóng dáng lực lượng cảnh sát giao thông và cảnh sát cơ động đâu ?
RFI : Vừa rồi Chủ tịch Hà Nội, ông Nguyễn Thế Thảo lại kêu gọi không biểu tình. Anh có thấy việc này là bất nhất, khi công điện của Thủ tướng nói rằng biểu thị lòng yêu nước, phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép là việc làm chính đáng ?
Không chỉ bất nhất với công điện của Thủ tướng, mà một lần nữa lại cho thấy sự phân hóa ngày càng sâu sắc trong chính nội bộ của chính phủ về vấn đề này. Vì nếu chiếu theo quyền được tự do lên tiếng và quyền phản đối chính đáng của người dân đối với vấn đề sự can thiệp của Trung Quốc, thì không lý do gì ngăn chặn, khống chế và cô lập người dân, để người dân không xuống đường biểu tình. Đây không phải là biểu tình để lật đổ chế độ, lật đổ đảng cầm quyền, mà đây là sự phản kháng chính đáng của người dân đối với Trung Quốc.
Nếu cứ ngăn chận người dân như thế này, đến một lúc nào đó, liệu khi mà xung đột với Trung Quốc hoặc sự căng thẳng với Trung Quốc có thể dẫn tới tình trạng chiến tranh – dù là ở quy mô nhỏ, và Nhà nước muốn huy động một lực lượng biểu tình của dân chúng để phản đối Trung Quốc, thì liệu còn huy động được không ? Và nếu như tình trạng chiến tranh với Trung Quốc mà nổ ra sâu rộng hơn, thì liệu lệnh tổng động viên ở Việt Nam có thực hiện được hay không ?
Đó là một câu hỏi mà Nhà nước Việt Nam phải đặt ra. Và câu hỏi đó đã được trả lời một phần nào ngày hôm nay, khi ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ký công điện không cho biểu tình. Đây lại thêm một bước lùi nữa trong mối tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy thêm một lần nữa, một bộ phận trong Nhà nước Việt Nam biểu lộ thái độ nhu nhược, chủ hòa và có thể dẫn tới chủ bại đối với Trung Quốc. Và như vậy, đó chính là họa diệt vong mất nước !
RFI : Người dân Việt trong và ngoài nước đều sôi sục từ khi chính quyền Bắc Kinh kéo giàn khoan khổng lồ đến vùng biển Hoàng Sa. Có lẽ đây cũng là cơ hội để biểu lộ quyết tâm đối với Trung Quốc, đồng thời khiến cho thế giới thấy rõ hơn mặt thật « quyền lực mềm » của chế độ Tập Cận Bình ?
Không chỉ đó là cơ hội, mà tôi cho rằng chúng ta phải cảm ơn Trung Quốc. Vì nếu không có sự xâm lấn của Trung Quốc ít nhất là từ năm 2011 đến nay, không có sự kiện giàn khoan HD-981 của Trung Quốc xâm lăng Biển Đông, thì sẽ không có dịp để chúng ta đo lường được lòng dân Việt Nam như thế nào.
Rất tiếc là cho tới nay Nhà nước Việt Nam đã không hề tổ chức được một Hội nghị Diên Hồng nào để nghe ý kiến dân chúng. Một Hội nghị Diên Hồng như ở Bình Than thời Trần, mà có thể tập hợp được tính đồng nguyên, tính dân tộc, lòng dân và sự thống nhất giữa các lực lượng để chống ngoại xâm. Mà như vậy thì tình hình sẽ đi về đâu ???
RFI : Chúng tôi xin rất cám ơn nhà báo Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã vui lòng dành cho RFI Việt ngữ cuộc phỏng vấn hôm nay.

++++++++++++++++++++++++++

http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2014/05/22/viet-nam-phai-co-ngay-mot-hiep-uoc-tuong-tro-quoc-phong-voi-hoa-ky-radio-sbs-australia-pv-pham-chi-dung/

Việt Nam phải có ngay một hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ

Phượng Hoàng, Đài SBS, Australia, phỏng vấn tiến sĩ, nhà báo Phạm Chí Dũng

21/05/2014

http://boxitvn.blogspot.de/2014/05/viet-nam-phai-co-ngay-mot-hiep-uoc.html

 

Chủ nhật tuần qua biến cố biểu tình lan rộng khắp nước chống Trung Quốc đưa giàn khoan vào trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã được dư luận quốc tế chú ý loan tin rộng rãi. Nhưng trên trạng mạng của báo chí lề trái, người ta thấy rõ bàn tay của nhà cầm quyền tổ chức một cuộc biểu tình “quốc doanh”, chủ ý định phỗng tay trên cướp đoạt cuộc biểu tình của người dân yêu nước để lèo lái theo ý muốn của đảng cầm quyền, nhưng bị thất bại vì bị vạch mặt.

 

Thế rồi sang ngày thứ Ba, một làn sóng biểu tình khác đã bùng nổ tại 22 tỉnh thành. Đặc điểm là các cuộc biểu tình này bạo động, diễn ra ở các công ty của người ngoại quốc, đa số là của Trung Quốc. Nhiều hãng xưởng đã bị đập phá, phóng hỏa, và bị một số người hôi của. Ngay ngày hôm ấy, công nhân tại các nơi này đã xác nhận những kẻ đến hô hào bạo động không phải là công nhân của nhà máy. Hàng trăm người bị bắt.

 

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xác nhận vừa “bình ổn được tình hình ở phía Nam”, thì ở khu công nghiệp Vũng Áng, Hà Tĩnh đã xảy ra xô xát chết người.

 

Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại Việt Nam đã đi đến từng nhà máy trong khu công nghiệp Biên Hòa, Bình Dương và ghi nhận: nhóm biểu tình bạo động này rất hung hăng, đi từ nơi này sang nơi khác, trang bị gậy sắt, máy bộ đàm, có tổ chức chặt chẽ, dụ dỗ người đi biểu tình sẽ được trả tiền. Nhóm người này có cung cách hành xử rất côn đồ, đập phá có chủ đích và rất chuyên nghiệp.

 

Đặc biệt, tại tất cả những nơi bị đám người này tấn công, người ta thấy vắng bóng công an, cảnh sát; công ty bị phóng hỏa, công nhân gọi lực lượng cứu hỏa nhưng bị cúp máy. Tất cả cho thấy một sự “thả lỏng” kỳ lạ của nhà cầm quyền.

 

Trong khi đó, lời kêu gọi của thành phần thanh niên yêu nước – kêu gọi biểu tình ôn hòa, không bạo động, không cướp phá – bị lạc lõng trong cơn hỗn loạn.

 

Ai giật dây những kẻ gây ra bạo loạn? Phải chăng mục đích của họ là phá hoại phong trào chống hành động xâm lăng của Trung Quốc và phá hoại luôn cả kinh tế Việt Nam?

 

Như vậy phải chăng hiện nay có đến 3 thành phần, 3 khuynh hướng biểu tình tại Việt Nam? Chúng tôi đã đặt câu hỏi đó với tiến sĩ kinh tế – nhà báo tự do Phạm Chí Dũng tại Sài Gòn. Ông trả lời:

 

Phạm Chí Dũng: Phóng sự hai phần của nhạc sĩ Tuấn Khanh rất giá trị trong bối cảnh hiện thời, tại thời điểm hiện thời và trong những điều kiện gọi là tình hình hỗn mang ở Việt Nam, bởi vì phóng sự đó nêu ra những câu hỏi, những tín hiệu không thể không làm cho dư luận phải nghi ngờ về vai trò của công an và sự biến mất của công an trong những ngày diễn ra những cuộc biểu tình bạo động ở Bình Dương, Đồng Nai và kể cả Hà Tĩnh. Riêng Hà Tĩnh thì đã có chết người và đó là một hậu quả rất trầm trọng.

Bài phóng sự đó tôi cho là mô tả tổng quát và đã đặt ra những câu hỏi – không chỉ là câu hỏi mà có thể dẫn tới kết luận nữa. Ngày hôm nay báo chí Nhà nước xác nhận là tất cả những kẻ bị bắt, những kẻ côn đồ đập phá tại Bình Dương, Đồng Nai không phải là công nhân. Rõ ràng như vậy. Mà không phải là công nhân thì là ai? Được giật dây bởi ai? Ai đứng đằng sau những kẻ côn đồ như vậy? Làm sao xuất hiện một nhóm côn đồ như vậy và có thể xách động cả một cuộc biểu tình đi đập phá thay vì biểu tình ôn hòa và biểu tình có văn hóa?

Chúng ta nhìn lại tổng quát thì thấy thế này: trong thời gian vừa qua thì có bốn luồng biểu tình – bốn khuynh hướng biểu tình. Khuynh hướng lớn nhất chính là nhân dân mà tôi cho là phát xuất từ tình cảm dân tộc. Người ta muốn phản kháng sự can thiệp của Trung Quốc tại lãnh hải của Việt Nam ở Biển Đông. Khuynh hướng thứ hai là biểu tình quốc doanh, hoặc là “biểu tình cuội”, hoặc dùng một từ chuyên môn hơn của Nhà nước, gọi là “phản biểu tình” hoặc “chống biểu tình”. Đó là cái phương án đã được tập dượt từ lâu và đưa cả vào phương án B2 là phòng chống bạo loạn biểu tình. Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng biểu tình hơi có tính chất “cải lương” của một số trí thức nhân sĩ mang khuynh hướng phản biện trung thành với Nhà nước. Khuynh hướng này trong thời gian vừa rồi đã nhận được sự hồi đáp gần như là sự lăng mạ từ phía chính quyền, không gần gũi hơn được với chính quyền và có thể nói thẳng đó là một sự thất bại.

Và khuynh hướng thứ tư đặc biệt nghiêm trọng mà chúng ta vừa đề cập tới, là khuynh hướng biểu tình bạo động và có thể dẫn tới bạo loạn. Đó là những phần tử quá khích hôi của và mượn hơi cuộc biểu tình để thực hiện những động cơ riêng của họ.

Tại sao lại có những người đi biểu tình cầm theo cả máy bộ đàm? Tại sao trong những ngày biểu tình, toàn bộ lực lượng cảnh sát giao thông – vốn trước đó tràn ngập và bị coi là “hung thần” ở tỉnh Bình Dương và Đồng Nai – lại biến mất? Kể cả cảnh sát cơ động cũng không thấy tăm hơi đâu! Quân đội thì hoàn toàn không thấy! Và tại sao những kẻ côn đồ biểu tình đập phá tới nay lại được xác nhận không phải là công nhân? Như vậy là một nhóm nhỏ hay là một nhóm lớn? Và những luồng thông tin đặt ra là liệu có bàn tay của tình báo Hoa Nam, Trung Quốc, trong những cuộc biểu tình bạo động như vậy hay không? Và đặc biệt nghiêm trọng là chúng ta thấy là ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, là nơi có ít nhất 7.000 công nhân Trung quốc làm việc, nơi có giá trị đến hàng tỉ đô la Trung Quốc đầu tư vào và đã gây dậy sóng dư luận trong báo chí Việt Nam trong thời gian vừa qua về việc Trung Quốc tọa ngự ngay trên mặt đất Việt Nam và đó là kế sách định cư lâu dài của người Trung Quốc ở Việt Nam, thì đã xảy ra những cái chết . Và những cái chết đó không phải là số ít. Theo tin Reuters, có ít nhất 20 người. Tôi còn nghe những thông tin có thể con số cao hơn. Và tình hình rất nghiêm trọng ở đó. Chính ông Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã phải xác nhận là tình hình rất nghiêm trọng và ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Như vậy tất cả nhưng hiện tượng biểu tình trong thời gian vừa qua xứng đáng để tất cả chúng ta, những người quan sát đau đáu với hiện tình đất nước Việt Nam trước giàn khoan HD 981 của Trung Quốc ngự trị trong lãnh hải Việt Nam, đặt ra những câu hỏi hết sức bức xúc rằng: với tất cả những hiện tượng nhốn nháo như hiện nay thì mọi chuyện sẽ dẫn tới đâu?

 

SBS : Mọi chuyện sẽ dẫn tới đâu anh ? Dù là phe nào đi nữa thì vấn đề đặt ra là: ai chịu trách nhiệm? Nhà Nước Việt Nam nói chung vẫn là người phải đứng ra gánh trách nhiệm chứ đâu có đổ cho nhóm nào, côn đồ hay ai được? Người chịu trách nhiệm tối hậu là Nhà Nước, phải không ạ?

Phạm Chí Dũng: Tất nhiên là Nhà Nước phải chịu trách nhiệm. Chỉ có điều đó là trách nhiệm cuối cùng, chứ không phải là trách nhiệm đầu tiên. Bởi vì đầu tiên phải thể hiện vào lúc mà hậu quả bắt đầu sinh ra. Nhưng mà khi hậu quả bắt đầu sinh ra thì không thấy bóng dáng chính quyền, Nhà nước, công an ở đâu cả! Và chỉ khi mọi thứ đã tan hoang, khoảng vài chục – có con số lên tới gần một trăm doanh nghiệp đã bị đập phá, trong đó có doanh nghiệp của Trung Quốc, Đài Loan và kể cả của Singapore nữa- lúc đó công an mới vào cuộc, mới bắt người. Lúc đó mọi chuyện đã quá muộn rồi! Cuối cùng vẫn là trách nhiệm của Nhà nước. Tôi đồng ý với quan niệm này.

 

SBS: Và khi mình nói đến trách nhiệm, có vấn đề bồi thường? Có bồi thường không? Ai sẽ bồi thường đây?

Phạm Chí Dũng: Trung Quốc đang nêu vấn đề bồi thường với Việt Nam. Nhà nước Trung Quốc sau vụ biểu tình ở Vũng Áng, Bình Dương, Đồng Nai và sau những hậu quả trầm trọng như vừa qua thì bắt đầu lên tiếng: “Việt Nam phải có trách nhiệm để xử lý nghiêm những kẻ gây rối, những kẻ côn đồ và phải bồi thường cho các doanh nghiệp”.

Tôi không biết thực ra vấn đề bồi thường này Trung quốc dựa trên điều luật quốc tế nào, bởi vì ngay những quy tắc ứng xử ở Biển Đông (DOC) và các quy ước quốc tế (UNCLOS) Trung Quốc đã không tuân thủ nghiêm túc thì làm sao Trung Quốc có thể đòi Nhà nước Việt Nam bồi thường về vấn đề này? Và trước khi nói tới vấn đề bồi thường thì Trung Quốc sẽ trả lời Việt nam thế nào nếu như Nhà nước Việt Nam làm được như là Nhà nước Philippines, có nghĩa là đệ đơn kiện Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam ra tòa án quốc tế? Đó là một vấn đề.

Vấn đề thứ hai là việc bồi thường cho các doanh nghiệp Trung Quốc, nếu chỉ xét ở nội tình Việt Nam, tôi cho là Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm phải bồi thường, trong đó có trách nhiệm đã không quản lý trị an thực sự đúng pháp luật và để xảy ra những sự việc như vậy – nhưng mà không phải do yêu cầu của Trung Quốc mà Nhà nước Việt Nam tự thân phải có trách nhiệm về vấn đề đó.

Bây giờ có một vấn đề đặt ra là : chưa thấy bất kỳ một doanh nghiệp nào nêu ra một sự thiệt hại tính bằng giá trị nào…

 

SBS: Họ chưa có thì giờ, họ chưa kịp thôi!

Phạm Chí Dũng : Có lẽ có tâm lý như thế này nữa: là họ đang ngán ngại, đang sợ hãi vì cái làn sóng chống Trung Quốc ở Việt Nam, và họ sợ là khi họ công bố những con số như vậy lại càng đổ dầu vào lửa và làm cho sự phẫn uất của người Việt Nam đối với Trung Quốc tăng cao hơn nên họ chưa công bố, chứ tôi nghĩ là họ đã có con số thống kê, có ước tính sơ bộ về thiệt hại như thế nào rồi.

 

SBS : Nhưng không phải chỉ riêng các công ty Trung Quốc họ đang sợ hãi mà chạy sang các nước khác, lo bỏ của chạy lấy người. Có cả những công ty của Singapore, của Đài Loan, họ cũng giơ hai tay lên, họ nói: chúng tôi không có dính líu gì tới Trung Quốc hết, chúng tôi ủng hộ Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam v.v.. Nói chung là bầu không khí đầu tư làm ăn ở Việt Nam đang sụp đổ. Làm thế nào để gây lại lòng tin tưởng nơi giới đầu tư bây giờ anh?

Phạm Chí Dũng: Nhà nước Việt Nam phải đứng ra xin lỗi giới đầu tư nước ngoài, chính thức phải có trách nhiệm bồi thường một phần cho giới đầu tư nước ngoài. Không thể khác hơn được. Chính Nhà nước Việt Nam và ngân sách Việt Nam phải đứng ra làm chuyện đó. Chỉ có điều ngân sách Nhà nước Việt Nam cũng lấy từ tiền thuế của dân thôi, mà tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay cực kỳ khó khăn. Tôi không biết Nhà nước Việt Nam sẽ lấy tiền ở đâu ra. Nhưng chắc chắn sẽ phải xin lỗi người ta, tại vì vụ vừa qua không chỉ ảnh hưởng tới kinh tế đối với nước ngoài, mà những cuộc biểu tình bạo động bạo loạn làm tôi nhớ tới tình hình Indonesia cách nay 15, 16 năm và tới tình hình Ukraine như thời gian vừa qua. Và nó thực sự là nỗi nhục quốc thể đối với Việt Nam, tại vì nó đẩy nền văn hóa biểu tình, nền văn hóa biểu thị của dân chúng xuống tới tận cùng. Người ta nhìn vào cái hiện tượng này, quy về cái bản chất của nó. Nếu chỉ nhìn vào hiện tượng thì sẽ thấy là biểu tình chỉ là để đập phá và giết người. Và như thế là tận cùng của văn hóa biểu thị và hoàn toàn không phù hợp chút nào với các công ước, quy ước quốc tế trong Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia.

 

SBS: Có ý kiến cho rằng biểu tình và bày tỏ sự phẫn nộ như vậy không phải từ nguyên nhân duy nhất là chống Trung Quốc, có phải vậy không ạ?

Phạm Chí Dũng: Hoàn toàn đúng. Tôi là người Việt Nam, tôi hoàn toàn sống trong bầu không khí phẫn nộ và kích nổ ở Việt Nam nên tôi hiểu vấn đề. Và tôi cũng nghe rất nhiều dư luận về thực trạng xã hội Việt Nam trong những năm vừa qua; đặc biệt là từ năm 2013 tới giờ xảy ra quá nhiều chuyện. Và giới công nhân là giới bị áp bức nhiều nhất, áp bức về chế độ lương, về chế độ lao động, về chế độ an sinh xã hội, về mối quan hệ chủ thợ. Họ luôn luôn sống trong cảnh nơm nớp bị đuổi việc.

Từ năm 2011 đến nay, mặt bằng giá cả, chỉ số lạm phát thực tế ở Việt Nam đã tăng từ 2,5 đến 3 lần. Trong khi đó, mặt bằng lương cuả công nhân ở các khu chế xuất công nghiệp giảm từ 25 đến 30%. Như vậy thì giá cả tăng, mà lương lại giảm thì làm sao công nhân có thể tồn tại được ? Mà mức lương đó vốn trước đây đã được coi là khó sống. Trả lương như vậy mà kéo dài thời gian làm việc; thậm chí đi toilet cũng phải xin phép, phải làm đơn, như vậy thì làm sao công nhân có thể chịu đựng được? Mà lại có hiện tượng những công ty Trung Quốc và Đài Loan là những công ty đối xử với công nhân Việt Nam thiếu văn hóa, tàn tệ nhất. Chính điều đó đã gây ra một mối xung khắc tích tụ lâu năm giữa công nhân Việt Nam với chủ nhân Trung Quốc và Đài Loan. Cho nên không ngạc nhiên là trong làn sóng bạo động vừa qua, các doanh nghiệp bị nhắm tới là Trung Quốc và Đài Loan chứ không phải là ai khác.

Vấn đề giàn khoan HD 981 chỉ là phát pháo lệnh, một đốm lửa để bùng cháy lên, lan ra cả một vùng lửa lớn; trong đó có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân chính là bức xúc và phẫn uất xã hội dẫn tới phản kháng xã hội; chưa kể là sự phản kháng của công nhân đối với các chính sách của Nhà nước và các vấn đề khác của xã hội. Họ nhân vụ này để ra đường gào, thét, la và làm mọi thứ để có thể giải tỏa nỗi bức xúc đã bị kìm nén lâu ngày. Đó là nguyên nhân chính. Còn về vấn đề Trung Quốc, tôi cho là họ có tinh thần dân tộc, nhưng nó không là nguyên nhân quyết định trong vụ việc để kéo cả một đám đông trong suốt mấy ngày đi từ tỉnh này sang tỉnh kia, thậm chí là diễn ra hành động đập phá như vừa qua. Đó là một hiện tượng rất đáng lý giải về góc độ xã hội học và tâm lý học.

 

SBS: Trong khi tình hình diễn ra như vậy thì anh nghĩ gì khi Hội nghị Trung ương đảng né tránh chuyện Biển Đông, lo đi bàn về văn hóa? Bên trong thì như vậy, còn bên ngoài thì Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng xin gặp Tập Cận Bình nhưng bị từ chối ?

Phạm Chí Dũng: Đó cũng là một sự thất vọng kép! Hai sự thất vọng đến cùng một lúc! Hội nghị Trung ương hoàn toàn không đề cập đến vấn đề Trung Quốc. Chỉ bài diễn văn cuối cùng mới đề cập đến vấn đề biển Đông. Dùng từ “biển Đông” nhưng không có một từ “Trung Quốc” nào cả! Có lẽ không cần giải thích quý vị cũng hiểu tại sao như vậy. Tại vì tất cả đều dẫn dắt từ một chu trình khép kín thôi – nhân nào thì quả đó. Và chính sách Việt Nam là hữu nghị thắm thiết, tình bạn môi hở răng lạnh với Trung Quốc đã phải trả giá như thế nào. Và hầu hết cho tới nay thì dường như giới chính khách đều ngậm bồ hòn. Họ không thể nói hơn được nữa. Đó là một chuyện.

Câu chuyện thứ hai chị vừa đề cập là chuyện tờ The New York Times, tờ báo uy tín lớn nhất của Hoa Kỳ đã tiết lộ tin này, chứ không phải báo chí trong nước. Việc ông Nguyễn Phú Trọng đã bị từ chối thẳng thừng bởi văn phòng của ông Tập Cận Bình là vì ông Nguyễn Phú Trọng đề cập chuyện có thể qua Bắc Kinh để bàn những biện pháp “giải tỏa”. Thực sự đó là một lời cầu xin. Nhưng ngay cả lời cầu xin đó cũng bị thẳng thừng từ chối. Tôi cho đó là một nỗi nhục tiếp theo nỗi nhục một nước nhỏ quá quỵ lụy nước lớn đến không thể chấp nhận được!

Tình hình đó cho thấy là tình hình ở biển Đông bế tắc, bế tắc tới mức mà nay người ta cho rằng Việt Nam không còn lựa chọn nào khác. Chỉ là một trong hai, chứ không còn là cả hai. Không còn là lúc so đo tính toán, đi dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ nữa, mà chỉ có thể là lựa chọn một trong hai: hoặc là Trung Quốc, hoặc là Hoa Kỳ. Cho nên tín hiệu mà Tư lệnh hạm đội 7 Hoa Kỳ bắn tin trên Reuters về việc hợp tác quân sự Biển Đông giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong vài ngày qua, đó là tín hiệu tôi cho là nếu Việt Nam mà bỏ qua cơ hội này thì sẽ khó còn cơ hội nào khác.

 

SBS: Thưa, báo chí trong nước loan những tin như là “quốc tế phẫn nộ”, như là “dư luận các nước, các chính khách, các học giả lên án Trung Quốc”… nhưng mà trong những ngày đầu, Mỹ còn nhẩn nha nói là Mỹ “đang nghiên cứu”. Còn về phía Nga là nước đã bán tàu ngầm cho Việt Nam, thì Nga bận tập trận với Tàu. Có ý kiến là mình chớ có tin Mỹ, tin Nga mà có ngày bán thóc giống mà ăn. Thế thì, cái lựa chọn nào còn lại cho Việt Nam? Liệu bây giờ nhà cầm quyền Hà nội có nghĩ tới chuyện kiện Trung quốc ra tòa án quốc tế như Phi Luật Tân hay không? Hay là chuyện đó bây giờ trễ quá rồi?

Phạm Chí Dũng: Tôi cho rằng người Nga họ đang bận với việc trưng cầu dân ý ở Crimea và bận đối phó với những luồng thông tin bất lợi cho họ về vụ Crimea. Người Pháp – tôi nghĩ là họ quan tâm tới vấn đề văn hóa được đặt ra trong hội nghị Trung ương 9 của đảng Cộng sản Việt Nam hơn là chuyện ở biển Đông. Còn người Mỹ, thì có vài thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ lên tiếng, không phải là đại diện cho Quốc Hội Mỹ, càng không phải là đại diện cho chính phủ Mỹ! Càng không có một tiếng nói nào của Tổng thống Mỹ.

Tôi cho là, hơn ai hết, người Mỹ họ hiểu Việt Nam. Họ đang đóng vai trò một người đứng trên núi nhìn xuống, nhìn hai con cá quẫy dưới biển và xem con cá nào thắng. Họ không bao giờ dại gì mà lao vào một cuộc chiến ở biển Đông mà trong đó cái phần thất thiệt sẽ ảnh hưởng đến lực lượng và uy tín của họ.

Báo chí Việt Nam, theo lối thông tin một chiều từ trước tới giờ – tất nhiên phải nói là “những tiếng nói phẫn nộ trên trường quốc tế”. Nhưng mà những tiếng nói nào, trong khi không hề có một tiếng nói chính thức nào trên một diễn đàn chính thức nào ủng hộ Việt Nam? Chỉ có một số người, trong đó cộng đồng người Việt là chủ yếu, chứ còn trong giới học giả thì rất ít.

Đồng minh lớn nhất của Việt Nam hiện nay, đối tác chiến lược toàn diện, chính là Trung Quốc. Nhưng mà tình bạn môi hở răng lạnh như vậy đã đối xử với Việt Nam như vậy, thì thử hỏi những người bạn khác đối xử với Việt Nam như thế nào? Thực tế Việt Nam không còn một đồng minh nào khác. Nhà nước Việt Nam hiện nay hoàn toàn cô đơn trên trường quốc tế.

 

SBS: Câu hỏi đặt ra là bây giờ liệu Việt Nam có nên cùng với Phi Luật Tân đứng ra kiện Trung quốc nhân chuyện giàn khoan này, hay la chuyện đó quá trễ rồi?

Phạm Chí Dũng: Tôi cho là chuyện đó có thể để sau. Không nhất thiết phải làm trong thời điểm này. Việt Nam vẫn còn mười năm nữa để đòi lại Trường Sa và vẫn còn thời gian khá dài để làm rõ cái đường lưỡi bò là như thế nào.

Nhưng việc nên làm trước mắt là bài học của người Philippines đã đạt được trong chuyến công du của Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama tại Philippines. Đó là giữa Philippines và Hoa Kỳ đã có được một hiệp ước về quốc phòng.

Hiệp ước tương trợ về quốc phòng đó rất giá trị, có nghĩa là bảo đảm lãnh hải của Philippines khó bị Trung Quốc xâm lấn. Cho nên vừa rồi, bất chấp những lời tuyên bố hung hăng hiếu chiến của Trung Quốc, phía Trung Quốc đã không dám làm một cái gì trong hành động chiếm bất kỳ một đảo nhỏ nào của Philippines. Philippines đầy chủ quyền, đầy tự tin để có thể bắt bất cứ tàu cá nào của Trung quốc xâm nhập lãnh hải của Philippines.

Đó, vấn đề là như vậy. Cho nên khi Hoa Kỳ đã chìa tay ra từ tháng Tư năm 2013, đã có những hợp tác giao lưu quân sự với Đà Nẵng của Việt Nam thì đúng ra Việt Nam phải bắt được tín hiệu đó; nhưng mà rất tiếc đã không làm được gì từ đó đến nay và không có nổi một cái điều gọi là “chiến lược lá chắn” của Hoa Kỳ ở biển Đông của Việt Nam. Như vậy thì hậu quả Việt Nam phải trả giá đến ngày hôm nay là điều chắc chắn.

Điều đầu tiên, nhu cầu đầu tiên Việt Nam phải làm là phải có ngay được một hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ, và chính hạm đội 7 sẽ đóng vai trò đó. Khi hạm đội 7 xuất hiện ở biển Đông thì tôi cho rằng không chỉ giàn khoan HD 981, mà kể cả hàng trăm tàu chiến và hải cảnh của Trung Quốc đang quần thảo ở vùng lãnh hải này sẽ phải rút đi. Và mối họa trước mắt cũng như trong trung hạn của Trung Quốc đối với Việt Nam sẽ bị giảm thiểu.

SBS: Dạ vâng. Cảm ơn anh Phạm Chí Dũng.

TS Phạm Chí Dũng gửi BVN

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 01:13

****************************

http://ngoclinhvugia.wordpress.com/2014/05/31/pham-chi-dung-trung-co-tan-cong-viet-nam-vao-thoi-diem-nay-thuy-my-rfi/


Phạm Chí Dũng : Trung Quốc có tấn công Việt Nam vào thời điểm này ?

Thụy My – RFI

Thứ sáu 30 Tháng Năm 2014

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140530-pham-chi-dung-trung-quoc-co-tan-cong-viet-nam-vao-thoi-diem-nay

 

Đã gần một tháng, giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc vẫn ngang nhiên hiện diện tại vùng biển Hoàng Sa thuộc vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hàng trăm tàu quân sự trong đó có những tàu hộ vệ tên lửa và tàu cá giả dạng của Bắc Kinh, cùng với máy bay trinh sát hàng ngày hung hãn tấn công, đe dọa các tàu Việt Nam.

Trong lúc Biển Đông dậy sóng, những hình ảnh trên mạng cũng hé lộ việc Trung Quốc rầm rộ chuyển quân về phía biên giới Việt-Trung.

 

Các động thái này khiến mọi người không thể không đặt ra câu hỏi : Liệu chế độ Bắc Kinh sẽ lại tấn công quân sự vào Việt Nam như đã tiến hành vào năm 1979 ?

RFI Việt ngữ đã đặt vấn đề này với nhà bình luận Phạm Chí Dũng, cựu sĩ quan quân đội ở Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Nghe (19:23) : TS Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh – 30/05/2014 – by Thụy My

 

 

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 đã làm nổi sóng dư luận, với một câu hỏi thẳng thừng, mà về phương diện quân sự là thứ bậc cao nhất trong phòng vệ quốc gia: Liệu Trung Quốc có tấn công quân sự Việt Nam vào thời điểm này? Nhận định của anh ra sao?

 

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Tất nhiên chiến dịch hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc trên vùng lãnh hải của Việt Nam không còn mang tính chất như những vụ khiêu khích và gây hấn thông thường như trước đây. Tính chất lần này nghiêm trọng hơn nhiều và cho thấy rõ ràng đây là một bước đi có tính toán của Bắc Kinh, nằm trong một giai đoạn ngắn hạn nhằm phục vụ cho một chiến dịch trung hạn lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam.

Do đó, không phải vô cớ mà những quốc gia gần gũi về lãnh hải với Việt Nam ở khu vực Biển Đông như Nhật Bản, Philippines và cả Hạm đội 7 của Hoa Kỳ vốn chỉ liên quan gián tiếp, đã phải bắn tín hiệu thực sự lo ngại về động thái mở rộng bành trướng của Trung Quốc. Rồi hẳn nhiên một lần nữa – nhưng lần này nghiêm túc hơn nhiều, cả dư luận lẫn giới quan sát Việt Nam và quốc tế đều muốn tìm lời giải cho việc Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam vào thời gian này hay không.

Trước hết, chúng ta hãy xem xét những bất lợi đối với chính thể Trung Quốc nếu họ tiến hành một cuộc tấn công quân sự vào Việt Nam. Theo tôi, có ít nhất một số bất lợi rất đáng kể có thể xảy ra đối với Trung Quốc.

Từ sau cuộc chiến tranh lạnh Mỹ – Liên Xô, thế giới đã tiến vào kỷ nguyên hội nhập và thỏa hiệp với nhau về nhiều mặt, trong đó nổi trội là phương diện buôn bán thương mại song phương và đa phương. Tương quan như thế khiến không một quốc gia có ảnh hưởng nào dám chịu thiệt lớn chỉ đổi lấy cái lợi nhỏ. Một trong số ít những cuộc chiến tranh chấp hải đảo gần đây nhất xảy ra vào năm 1982 giữa người Anh và Achentina ở quần đảo Malvinas, nhưng cũng kết thúc chỉ sau vài tháng. Một chi tiết đáng chú ý là Anh luôn được xem là một trong những nước lớn ở châu Âu và nằm trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Rõ ràng Luân Đôn đã không dám phiêu lưu quân sự.

Còn ở châu Á, Trung Quốc cũng được coi là nước lớn, dù chưa được xếp vào loại siêu cường như Mỹ và Nga. Nhưng Trung Quốc cũng có chân trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và đó là lý do để có thể cho rằng bất kỳ hành động gây hấn hoặc xâm lược nào từ phía Bắc Kinh cũng làm ảnh hưởng đến đại cục địa – chính trị trên thế giới mà các siêu cường khác không thể bỏ qua. Những vụ Trung Quốc gây hấn với Nhật Bản về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hay với Philippines về một số đảo nhỏ đã lập tức gặp phải phản ứng mạnh mẽ của không chỉ các quốc gia này mà với cả cộng đồng quốc tế.

Trừ Nhật có lực lượng phòng vệ bờ biển đủ mạnh, Philippines đã phải tính đến việc tìm kiếm một quan hệ tương trợ quốc phòng với người Mỹ để chống lại ý đồ xâm lăng từ Bắc Kinh. Vào tháng 5/2014, họ đã đạt được kết quả khả quan khi thiết lập được hiệp ước tương trợ quốc phòng với Washington, do vậy sẽ hợp thức hóa sự có mặt của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ở vùng lãnh hải Philippines bất cứ khi nào Trung Quốc gây hấn.

Hậu quả mà Bắc Kinh không tính kỹ trước khi hành động xâm chiếm biển đảo chính là chỗ này. Tức là họ đã khiến một số nước nhỏ trong khu vực đang nổi lên khuynh hướng liên kết với nhau theo cách Phong trào không liên kết vào nửa cuối thế kỷ 20 và tìm đến sự trợ giúp của người Mỹ để hạn chế rủi ro. Xu thế này cũng đang diễn ra với Việt Nam.

Ngay sau vụ việc giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, chúng ta có thể thấy là giới lãnh đạo Việt Nam, cho dù một số trong đó vẫn thề thốt “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc, nhưng đã không còn dám xem thường hiểm họa ngoại xâm trước mắt và tương lai mất nước không còn quá xa. Và bất chấp tiếng nói hết sức yếu ớt của 3/4 bộ tứ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng ê-kíp của ông đã tìm đến mối liên minh không chính thức đầu tiên với Philippines và sau đó có thể là một mối quan hệ quân sự ở mức độ nào đó với Hoa Kỳ.

 

Trung Quốc chưa dám tấn công vào thời điểm này

 

RFI : Theo anh, hoạt động gây hấn của Trung Quốc gây ảnh hưởng thế nào đến chính sách Biển Đông của Hoa Kỳ ngay vào thời điểm này?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Nếu không can thiệp mà để cho Trung Quốc tự tung tự tác, Mỹ sẽ gặp bất lợi lớn về tự do hàng hải, an toàn hàng hải ở Biển Đông và do đó có thể sẽ bị phá sản phần lớn chính sách xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Ai cũng biết rằng Biển Đông có vị trí như một cửa ngõ cho giao thương hàng hải và nếu cần có thể khống chế hoạt động quân sự của cả khu vực phía Nam và các nước xung quanh. Hiện nay cuộc đua lớn nhất giữa Trung Quốc và Mỹ chính là điểm xung yếu này. Do vậy nếu bị Trung Quốc qua mặt ở Biển Đông, mục tiêu an toàn hàng hải của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng, vai trò của Hạm đội 7 cũng có không ý nghĩa đủ lớn, làm cho chính sách của Mỹ về bảo vệ an ninh thế giới và cũng là an ninh của công dân Mỹ sẽ lạc điệu.

Lời bắn tiếng về mối liên kết “đối tác chiến lược” với Việt Nam của Tư lệnh quân đội Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Locklear là một minh chứng khá hoàn hảo về việc người Mỹ hoàn toàn không bỏ qua ý đồ phong tỏa Biển Đông của Trung Quốc. Mới đây lần đầu tiên từ khi nhậm chức Tổng thống Mỹ, ông Barack Obama đã phải tuyên bố “sẽ điều binh đến Biển Đông” nếu tình hình nơi đây có thể xung đột quân sự.

Chúng ta đang nhận ra rằng người Mỹ không quá câu nệ vào quan hệ làm ăn với Trung quốc, bất chấp quốc gia đông dân nhất thế giới này là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ với giá trị buôn bán hàng năm lên đến 600 tỉ USD. Thậm chí ngược lại, nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về tín dụng, nợ xấu, ngân hàng, làn sóng thoái vốn của giới đầu tư nước ngoài, thị trường xuất khẩu, do vậy Trung Quốc phải cần đến các đối tác thương mại như Mỹ và Tây Âu hơn là phương Tây cần đến họ.

Kẻ nào quá tham lam sẽ bị cộng đồng tẩy chay. Cũng như hình ảnh suy yếu của nước Anh vào năm 1982 trong cuộc tranh chấp quần đảo Malvinas với Achentina, những năm gần đây Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia bị oán ghét nhất trên hành tinh này. Nếu mạo hiểm gây ra một cuộc chiến tranh dù chỉ quy mô nhỏ trong khu vực, Trung Quốc sẽ bị đại đa số quốc gia trong Liên Hiệp Quốc quay lưng và sẽ bị cô lập. Đó chính là điều mà chủ nghĩa Đại Hán phải tính đến một cách rất nghiêm cẩn, cho dù tham vọng bành trướng của họ lớn đến mức nào.

 

RFI : Trong lịch sử, người Việt Nam luôn sẵn sàng chống lại đến cùng tham vọng xâm lược của Trung Quốc, kể cả sau một ngàn năm Bắc thuộc. Anh có cho rằng lịch sử sẽ lặp lại nếu chiến tranh Trung – Việt nổ ra vào thời gian tới?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Có những dấu hiệu rất cần chú ý và lượng giá. Nếu Trung Quốc đã rất tự tin kéo giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 vào vùng biển Việt Nam thì từ sau khu xảy ra vụ bạo động ở Bình Dương, Đồng Nai và cuộc xung đột dẫn đến chết người ở Hà Tĩnh, các cơ quan tuyên giáo và báo đảng ở Trung Quốc, kể cả Hoàn Cầu Thời Báo là tờ báo hung hăng nhất, đã có vẻ lắng tiếng khá đột ngột. Giả thiết nêu ra là Bắc Kinh đã không tính đúng và đủ về phản ứng của người dân Việt Nam đối với bước đầu xâm lăng của họ, cho dù có thể họ đã lường trước và còn có thể “điều khiển” được phản ứng của giới lãnh đạo cầm quyền Việt Nam.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ chủ nghĩa Đại Hán nô dịch được đất nước này như một chư hầu trọn vẹn. Sau hàng loạt triều đại lịch sử kháng Trung thành công như từ thời Hai Bà Trưng, Đinh, Lê, Lý và Hậu Lê, những cuộc xâm lược gần nhất của Trung Quốc chỉ là sự tồn tại rất ngắn ngủi của đội quân hai chục vạn của triều đình nhà Thanh ở Thăng Long vào cuối thế kỷ 18. Hoặc là sự tồn tại ngắn ngủi không kém của đội quân cũng hai chục vạn người của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1945. Và ngắn ngủi nhất là lực lượng lên đến sáu chục vạn người của Trung Quốc nhưng bị thiệt hại đến 10% quân số trong cuộc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979.

Lịch sử và ưu thế kháng chiến đã nghiêng về Việt Nam, đó là điều hiển hiện. Biện chứng lịch sử cũng cho thấy các chế độ chính trị Trung Hoa luôn sai lầm khi đánh giá thấp tinh thần phản kháng của người dân và quân đội Việt Nam, đặc biệt vào những bối cảnh mà họ cho là triều chính Việt Nam đang phân hóa và rối loạn như hiện thời.

Nhưng cũng chính yếu tố rối loạn nội bộ mà Trung Quốc tưởng như một ưu thế để có thể gây áp lực với Hà Nội lại khiến nảy sinh xu hướng công khai hóa quan điểm ngả sang phương Tây của một nhóm không nhỏ các chính khách Việt Nam. Tôi cho đây chính là một bất lợi lớn đối với Trung Quốc khi phần lớn, nếu không nói là tất cả giới lãnh đạo Việt Nam đã như tỉnh ra, ngộ ra bản chất thật của mối quan hệ “Bốn Tốt” với Trung Quốc là như thế nào. Cùng lúc, bất cứ quan chức Việt Nam nào cũng phải tính đến tương lai cho cá nhân họ nếu chủ hàng trước Trung Quốc. Tương lai ấy cùng lắm cũng chỉ là “ngựa xe vài cỗ, quân hầu lơ thơ” nếu Việt Nam bị biến thành chư hầu của người bạn phương Bắc đầy dã tâm.

Một bất lợi khác là nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam vào thời điểm này sẽ khiến cho một bộ phận quan chức “thân Trung” bị lộ diện và sẽ bị cô lập. Truyền thống người Việt xưa nay không thể chấp nhận những Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống, và nếu những nhân vật tái thế thời hiện đại này bị cô lập quá sớm, Trung Quốc sẽ không còn nhiều cơ hội để thực hiện chiến thuật mua chuộc, không chế lãnh đạo để sau đó bắt toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam phải phụ thuộc vào ý chí của Bắc Kinh.

 

RFI : Thế còn bất lợi về hiệu quả kinh tế nếu Trung Quốc xâm lược Việt Nam?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Đây là câu hỏi khó trả lời nhất đối với Trung Quốc. Câu hỏi này cũng dẫn đến một câu hỏi tiếp nối là Trung Quốc tấn công Việt Nam sẽ được lợi gì, nếu thiệt hại về kinh tế của họ là khó có thể bù đắp được?

Trong lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều nhất. Ít nhất 35% nguyên liệu dùng cho sản xuất của Việt Nam phải nhập khẩu từ Trung Quốc, và cơ cấu này đang gây khó rất lớn cho việc Việt Nam tham gia vào TPP, ứng với một điều kiện không thể thay đổi của TPP là Việt Nam phải chuyển đổi vùng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước ngoài TPP như Trung Quốc về các nước trong khối TPP.

Chỉ từ sau năm 2000 đến nay, giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng chẵn 100 lần, và hiện thời Việt Nam đang phải nhập siêu từ 23-24 tỉ USD hàng năm từ Trung Quốc. Đó là một sự mất cân xứng quá lớn và làm lợi rất nhiều cho Trung Quốc. Cũng cho đến nay, Trung Quốc có gần 940 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư gần 5 tỉ USD…

Những giá trị thương mại và đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam cho thấy họ có khá nhiều việc phải lo lắng nếu chiến tranh nổ ra. Khi đó, cơ chế nhập khẩu chính thức qua cửa khẩu Việt Nam sẽ đương nhiên chấm dứt, rất nhiều doanh nghiệp Trung Quốc sẽ khó lòng tồn tại được.

Cũng rất có thể sẽ xảy ra một làn sóng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc và càng làm khó cho sự tồn vong của giới đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam. Minh chứng mà chúng ta có thể thấy là sau vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981, ở nhiều vùng và từ một doanh nghiệp lớn đến một bà bán tạp hóa ở chợ, tâm lý ngán ngại nhập hàng Trung Quốc là khá phổ biến. Mặc dù cho tới nay chưa có một chiến dịch nào về tẩy chay hàng Trung Quốc được công bố chính thức, nhưng rõ ràng một số mặt hàng Trung Quốc vẫn bị coi là ẩn chứa rủi ro độc tố như thực phẩm, nhựa… đã bị giảm đáng kể sức tiêu thụ.

Với không ít bất lợi như vậy, tôi cho rằng Trung Quốc sẽ chưa dám mạo hiểm tấn công Việt Nam ngay vào thời điểm này.

 

RFI : Nhưng hiện thời vẫn đang có thông tin có thể xảy ra chiến tranh, chẳng hạn như một tờ báo Hàn Quốc đưa tin về việc có đến 300.000 quân Trung Quốc đã áp sát biên giới Việt – Trung?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Tôi cho rằng tin tức đó chỉ đơn giản là chiến tranh tâm lý, do chính Trung Quốc tung ra trên mạng Internet và cho vài tờ báo nước ngoài. Thậm chí còn có tin đồn về lực lượng quân đội Trung Quốc dùng để tấn công Việt Nam lên đến hơn 500.000 người, hoạch định sẽ công chiếm Việt Nam trong đúng một tháng, và chiến tranh có thể diễn ra ngay vào mùa hè này, thậm chí vào tháng Sáu năm 2014…

Bao giờ cũng vậy, trước hoặc sau mỗi hành động gây hấn, Bắc Kinh đều sử dụng tối đa loa phóng thanh một chiều nhằm mục đích gây nhiễu. Một chuyện khá khôi hài khác là giữa hai nhà nước Trung Quốc và Việt Nam đang diễn ra một trận khẩu chiến mà dân Hà Nội gọi Bắc kinh là “Chí Phèo”, còn Trung Quốc lại coi Việt Nam là nhân vật “AQ” trong tiểu thuyết của nhà văn Lỗ Tấn…

Thực ra tôi không để ý đến hoạt động này nhiều. Vì điều đơn giản mà chúng ta có thể rút ra là nếu Trung Quốc thực sự có kế hoạch gây xung đột quân sự hoặc tấn công tổng lực Việt Nam, để giữ yếu tố bất ngờ trong khai chiến, họ đã không cần phải khẩu chiến theo kiểu cù nhầy, hoặc tung thông tin giả quá hung hãn để tạo tin đồn và gây xáo trộn đời sống chính trị ở Việt Nam. Một dẫn chứng khác cũng dễ thấy là nếu Trung Quốc có ý đồ tấn công quân sự, họ đã không phải dùng lại các tiểu xảo và chơi xấu, như dùng “tàu lạ” – từ mà một số báo nhà nước ở Việt Nam cho đến giờ này vẫn chưa thể chui ra khỏi chăn – để đâm húc tàu cá Việt mà đã gây ra hai cái chết cho ngư dân ở Quảng Ninh vừa qua.

Theo tôi, sẽ chẳng có một hành động mạo muội xứng đáng nào từ phía Trung Quốc ngay vào thời điểm này. Kể cả hiện tượng họ rút công nhân Trung Quốc đang làm việc ở Hà Tĩnh về nước hay sơ tán chuyên gia cũng chỉ là động tác tâm lý nhằm gây áp lực với Bộ Chính trị Việt Nam mà thôi.

Khi nào Trung Quốc có thể tấn công Việt Nam?

 

RFI : Nếu Vậy theo anh, Trung Quốc sẽ thực sự tấn công Việt Nam trong những điều kiện gì và vào lúc nào?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Trung Quốc chỉ tấn công Việt Nam nếu hội tụ các điều kiện: kinh tế khủng hoảng, xã hội rối loạn, nội bộ chính trị phân hóa đủ sâu và có thể tan vỡ, sức chiến đấu của quân đội giảm sút mạnh. Và cũng phải thêm một điều kiện không thể thiếu: giới kinh tài Trung Quốc đủ sức chi phối và lũng đoạn phần lớn một số ngành quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Hiện thời, nền kinh tế Việt Nam đang dợm bước chân vào khủng hoảng và tất cả chỉ còn chờ thời gian. Bất ổn xã hội cũng đang mau chóng chuyển thành rối loạn xã hội và có thể dẫn đến khủng hoảng xã hội. Nếu đến năm 2016-2017, kinh tế Việt Nam thật sự rơi vào khủng hoảng thì tất yếu xã hội sẽ khủng hoảng theo. Khủng hoảng xã hội cộng hưởng với khủng hoảng kinh tế hầu như chắc chắn sẽ dẫn đến khủng hoảng chính trị. Đó là điều kiện cần và cũng là điều kiện đủ của một dân tộc trong vận khí suy vong.

Trong trường hợp đó, tôi không hy vọng là quân đội Việt Nam còn duy trì được khả năng sẵn sàng chiến đấu như những năm trước. Và đó sẽ là cơ hội vàng để nếu muốn và không quá bị chi phối bởi sự cô lập của quốc tế, Trung Quốc có thể nuốt gọn Việt Nam trong một kế hoạch quân sự với tỉ lệ ba chọi một.

 

RFI : Tại sao anh lại cho rằng Trung Quốc cần huy động quân đội ba chọi một, anh có thể giải thích cụ thể thêm được không ?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Xuất phát từ chiến thuật biển người truyền thống của họ.

Trong chiến dịch xâm lược biên giới năm 1979, toàn bộ lực lượng kể cả hậu cần và dự bị của Trung Quốc là 600.000 quân. Trong khi đó, Việt Nam chỉ chủ yếu đối phó bằng lực lượng quân sự địa phương và một bộ phận lực lượng bộ đội chính quy. Có những trận đánh ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, thông báo quân sự hồi đó cho biết tỉ lệ đối kháng giữa quân Trung Quốc và bộ đội Việt Nam lên đến 5/1 và 10/1. Tuy thế, cuộc chiến vẫn kết thúc với thất bại của người Trung Quốc, chiến dịch xâm lược đó đã chấm dứt với 60.000 thi hài của lính Trung Quốc.

Còn bây giờ, có những thông tin nghiên cứu cho biết tuy xét về số lượng, Việt Nam là quốc gia có lực lượng quân đội hùng hậu nhất khu vực Đông Nam Á với khoảng nửa triệu bộ đội chính quy và khoảng 5 triệu quân dự bị, nhưng quân đội Trung Quốc lại duy trì số lượng đông thuộc loại nhất trên thế giới, cùng chi phí quân sự đứng thứ hai chỉ sau Mỹ.

Đó là ưu thế để một khi phát động chiến tranh, Trung Quốc sẽ dễ dàng huy động ít nhất nửa triệu quân từ các tập đoàn quân ở Vân Nam và Quảng Tây, chưa kể hạm đội Nam Hải. Thậm chí tôi cho rằng với chiến thuật biển người được duy trì từ cuộc chiến tranh Triều Tiên những năm 1950, Trung Quốc có thể huy động một lực lượng tăng thiết giáp gấp nhiều lần Việt Nam. Ngay cả với xe tăng họ T của Liên Xô cũ, Trung Quốc cũng có nhiều tăng T72 trở lên, trong khi Việt Nam vẫn chủ yếu là tăng T54, T55.

 

RFI : Một số chuyên gia đánh giá rằng ưu thế quân sự của Trung Quốc có thể tỏ rõ trên mặt biển, nhưng còn trên đất liền thì sao?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Đúng là Trung Quốc chỉ còn thiếu tàu sân bay. Còn về quân chủng hải quân, họ có đủ các loại tàu, kể cả tàu ngầm lớp kilo. Họ vẫn tự hào và khoe khoang là chỉ riêng hạm đội Nam Hải của họ đã có thể làm chủ cả mặt biển Đông.

Trong khi đó, địa hình duyên hải Việt Nam có lợi thế kinh tế và du lịch là trải dài, nhưng trong chiến tranh điều đó lại thường là nhược điểm vì có thể bị đối phương từ biển đánh úp bất cứ điểm bố phòng mỏng manh hoặc sơ hở nào.

Tuy nhiên, đánh trên bộ thì lại khác hẳn. Dù được trang bị vũ khí và khí tài quân sự tối tân và có vẻ được đánh bóng về khả năng thiện chiến, nhưng quân đội Trung Quốc luôn đi sau Việt Nam khoảng một phần tư thế kỷ về trải nghiệm và kinh nghiệm trận mạc. Đã sáu chục năm qua quân đội Trung Quốc không thực sự chiến đấu, trong khi bộ đội Việt Nam chỉ mới kết thúc chiến tranh tại chiến trường Campuchia từ cuối thập kỷ 80. Sự so le thời gian như thế cho thấy phản xạ tác chiến của bộ đội Việt Nam vẫn cao hơn binh lính Trung Quốc.

Thêm vào đó, nếu tấn công quân sự theo hướng xẻ dọc qua các vùng biên giới phía Bắc về Hà Nội, quân đội Trung Quốc sẽ vấp phải địa hình rừng núi hiểm trở mà lực lượng tăng thiết giáp của họ khó lòng phát huy được hiệu quả tác chiến chiến thuật. Đến lúc đó, có thể Trung Quốc mới được nếm trải chiến thuật chiến tranh du kích của người Việt Nam lợi hại như thế nào.

Trong hầu hết các cuộc kháng Trung trong lịch sử, người Việt đã không bao giờ bỏ trống hậu phương địch quân, đặc biệt tại những vùng sơn cước. Theo tôi, trong trường hợp Trung Quốc tác chiến trên bộ dù với tỉ lệ ba chọi một, xác suất chiến thắng của họ vẫn chỉ là năm ăn năm thua. Họ cần phải chú ý là bộ đội đặc công của Việt Nam rất thiện chiến.

Nhưng đó chỉ mới là về sức kháng cự của quân đội Việt Nam. Còn nếu nhà nước Việt Nam đủ hồi tâm để biết cách huy động sức dân thì một cuộc chiến tranh nhân dân sẽ được hình thành, và đó là điều đáng sợ nhất đối với bất cứ một cường quốc xâm lược nào.

 

RFI : Nếu một cuộc chiến tranh tổng lực chưa được Trung Quốc phát động vào thời điểm này, họ có thể làm những gì tiếp theo vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Họ sẽ trở lại bài bản của những cuộc gây hấn và khiêu khích từ ít nhất năm 2011 đến nay. Nghĩa là tạo mọi khó khăn đối với ngư dân Việt Nam, dùng tàu cá hoặc tàu hải giám chủ động va chạm hoặc đâm chìm và có thể dẫn tới tử vong cho ngư dân Việt. Trên bộ, họ có thể tiếp nối chuỗi khiêu khích bằng những cuộc xung đột vũ trang quy mô nhỏ và có thể dẫn đến sát thương bộ đội Việt Nam. Tình hình quấy rối như thế cũng có thể tương tự những gì mà lực lượng Khmer Đỏ gây ra ở biên giới Tây Nam đối với thường dân Việt Nam vào năm 1978.

Theo tôi, ý đồ của Trung Quốc là chờ đến năm 2016-2017, khi tình hình Việt Nam xấu hẳn, họ sẽ tấn công theo kịch bản Nga – Crimée. Cần lưu ý là khác hẳn Việt Nam, thế mạnh hiện thời của Trung Quốc là quyền lực tập trung vào một cá nhân là Tập Cận Bình, và Trung Quốc vừa thiết lập quan hệ tay đôi với Nga.

Tuy nhiên, không phải Trung Quốc luôn rảnh tay để hành động. Bản thân Trung Quốc cũng gặp nhiều rắc rối: kinh tế có xu hướng suy thoái, phản kháng xã hội dâng cao, các khu vực tự trị Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông gia tăng bất ổn. Tình hình đó gần như tương tự với không khí xã hội Trung Hoa vào lúc triều đình Mãn Thanh xua hai chục vạn quân do Tôn Sĩ Nghị làm chủ tướng tràn vào Thăng Long trước một Lê Chiêu Thống đi bằng đầu gối.

Do vậy, họa xâm lăng Trung Quốc vẫn có một hy vọng được giải tỏa phần nào bởi chính nguy cơ tan rã từ bên trong của nền kinh tế và do đó của chế độ độc đảng Bắc Kinh thiên về đàn áp như hiện nay. Nếu nguy cơ này được xác nhận thì Trung Quốc dù có gây chiến tranh với Việt Nam cũng nằm trong tình trạng bị suy yếu đáng kể chứ không thể gọi là mạnh mẽ.

Vấn đề còn lại là giới lãnh đạo chủ chốt ở Việt Nam có làm được gì để hạn chế hiểm họa từ Trung Quốc trong vài năm tới.

 

Nguyễn Tấn Dũng là nhân tố duy nhất?

 

RFI : Để đối phó với họa ngoại xâm ngày càng hiển hiện, anh có hy vọng nào vào giới lãnh đạo Việt Nam hiện thời?

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Nếu không xét đến những gương mặt chính khách chưa xuất hiện, trong tất cả những gương mặt hiện nay và trong khoảng hai năm tới, tôi chỉ hy vọng vào một nhân tố duy nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng hy vọng này cũng chỉ mới manh nha và còn rất chập choạng.

Cơ sở để có thể có đôi chút hy vọng vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là bởi ông ta đang trong tình thế phải “cứu nhà, cứu nước”. Nước mất thì nhà tan. Nhưng muốn cứu nhà thì trước hết và dù muốn hay không cũng phải cứu nước.

Sau vụ giàn khoan Hải Dương 981, có vẻ ông Nguyễn Tấn Dũng đã dứt khoát hơn trong chính sách chuyển hướng xoay trục sang phương Tây. Để đối chọi với Trung Quốc, trước mắt người Việt cần ít nhất sự hỗ trợ của Hạm đội 7 của Mỹ, sau đó là một bản hiệp ước tương trợ quốc phòng với Hoa Kỳ, như kết quả mà Philippines đã vừa đạt được. Và cuối cùng, tốt nhất Việt Nam trở thành một đồng minh quân sự với Hoa Kỳ như trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tuy nhiên, cần chân thật mà nói rằng hy vọng duy nhất vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rất có thể chỉ là một đốm lửa sớm nở tối tàn. Từ khi nhậm chức thủ tướng vào năm 2006 đến nay, ông Dũng đã đưa ra khá nhiều lời cam kết trước quốc dân đồng bào, nhưng thời gian sau những lời hứa đó lại chỉ là một khoảng trống thất vọng mênh mông.

Còn bây giờ, khi nước đã đến chân và không thể không nhảy, người dân Việt đang chờ đợi những hành động cụ thể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như tiến hành thủ tục kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, đưa ngay Luật Biểu tình vào đời sống để người dân có cơ hội phản kháng Trung Quốc, chứ không chỉ bằng vài câu tuyên bố có vẻ cảm tính và sẽ bị trôi ngay vào lãng quên nếu không làm gì cả.

RFI
: Xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn hôm nay của RFI Việt ngữ.

———————————————

http://anhbasam.wordpress.com/2014/06/06/2205-hau-qua-di-day-trung-my-ai-la-ke-thu-so-mot/

Hậu quả đi dây Trung – Mỹ: Ai là kẻ thù số một?

Posted by adminbasam on 06/06/2014

Trần Quang Thành phỏng vấn nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng

06-06-2014

Nghe audio phỏng vấn

00:00
00:00

 

Lời giới thiệu: Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á IISS (hay còn gọi là Đối thoại Shangri-La) lần thứ 13 được tổ chức tại Singapore từ ngày 30/5 đến ngày 1/6 mới đây có sự tham dự của 450 đại biểu, gồm các quan chức quân sự cấp cao, các chuyên gia an ninh, và bộ trưởng quốc phòng các nước, Mỹ, Nhật Bản, Anh, Malaysia, Indonesia, Australia, Việt Nam, Singapore, Pháp, New Zealand…

Theo các nhà phân tích, việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam làm nóng diễn đàn Shangri-La năm nay.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe là diễn giả chính tại lễ khai mại diễn đàn hôm 30/5, đã cam kết ủng hộ các quốc gia Đông Nam Á trong nỗ lực nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Sáng 31/5/2014, tại Hội nghị đối thoại Quốc phòng an ninh châu Á (Shangri La 2014), tướng Phùng Quang Thanh có bài phát biểu bày tỏ quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông.

Nội dung bài phát biểu đó là gì và đã được dư luận phản ứng ra sao mời quý vị theo dõi phân tích của nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng qua cuộc phỏng vấn cua nhà báo Trần Quang Thành

Trần Quang Thành: Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng, hôm nay lại gặp nhau để bàn về tình hình đất nước. Thưa nhà báo PHẠM CHÍ DŨNG, trong hội nghị Sangrila vừa rồi đã để lại điều gì ấn tượng nhất, đáng quan tâm nhất thưa nhà báo?

Phạm Chí Dũng : Ấn tượng nhất là lời phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh.

TQT: Tại sao lại quan tâm về lời phát biểu của ông ta?

PCD: Trong khi tình hình nước sôi lửa bỏng Trung Quốc xâm lấn Việt nam đã cận kề, ông đại tướng vẫncho rằng chưa có gì là biến động cả, mọi chuyện vẫn tốt đẹp, Việt Nam và Trung Quốc vẫn là bạn. Ngay cả ông Đặng Ngọc Tùng chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam còn phải nêu rằng đây là một bài học cho tất cả những ai mơ hồ về 16 chữ vàng và 4 tốt, trong khi một đại tướng nắm trọng trách toàn bộ lực lượng quân đội Việt Nam mà lại phát biểu như thế thì người ta quá thất vọng. Và rõ ràng là ông Phùng Quang Thanh, mặc dù có tần suất xuất hiện trên báo chí, công luận ít thôi,nhưng lần xuất hiện này lại gây thất vọng rất lớn và có lẽ làm giảm sút đáng kể uy tín của ông không chỉ trong dư luận trong nước mà cả trên chính trường quốc tế.

TQT: Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì bảo là Việt Nam đang chuẩn bị sẵn sàng mọi tư liệu,mọi chứng cứ để kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, hoặc là để phanh phui những hành động xâm lược của Trung Quốc. Thế giữa ông thủ tướng và ông đại tướng có gì là mâu thuẫn nhau không thưa nhà báo?

PCD: Cả hai ông đều là tướng, nhưng họ có mâu thuẫn và bất nhất với nhau. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có một lời tuyên bố tương đối kiên quyết và được dư luận đánh giá là lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ thủ tướng, ông đã dám có can đảm để nói thẳng ra một điều là “không có tình hữu nghị viển vông”. Tôi đặc biệt chú ý tới tính từ “viển vông” mà ông dùng, đó là một tính từ không nằm trong các văn bản của nhà nước. Trong khi đó văn bản đọc tại hội nghị Shangri-la của Đại tướng Phùng Quang Thanh nghe nói đã được Bộ Chínhtrị duyệt từng câu từng chữ, và ngay cả cách đọc của ông cũng không được thuyết phục vì nó hơi bị vấp váp. Như vậy giữa hai vị tướng này đã có sự mâu thuẫn về mặt quan điểm đường lối, đối sách của Việt Nam đối với Trung Quốc, và tôi cho đó không phải là một điềm lành đối với Việt Nam.

TQT: Như vậy phải chăng trong Bộ Chính trị đã có sự rạn nứt ?

PCD: Tôi nghĩ là rạn nứt thì đã từ lâu rồi. Người ta khác nhau về quan điểm đối ngoại và đặc biệt là khác nhau về quan điểm đi dây như thế nào giữa Trung Quốc và Mỹ. Việc đó đã xuất hiện vào tháng 5 năm 2013 khi diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh giữa ông Tập Cận Bình và phía Hoa kỳ là tổng thống Barack Obama tại Phòng Bầu dục ở Washington, và sau đó đến chuyến đi của ông Trương Tấn Sang thì người ta rộ lên những lời đồn đoán về một sự khác biệt nào đó, một sự khác biệt khá lớn. Nhưng chỉ đến gần đây khi mà xảy ra sự kiệngiàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm lược lãnh hải Việt nam thì tất cả những mâu thuẫn mới bộc lộ ra và làm người ta thấy nhiều khác biệt về quan điểm.

Tôi cho rằng rất cần trong lúc này phải có một sự đồng nguyên trong Bộ Chính trị, trên tinh thần dân tộc và cần phải có một Hội nghị Diên Hồng để các vị tướng có thể nói với nhau về làm cách nào để bảo vệ đất nước, bảo vệ cho chính gia đình và cho chính họ. Nhưng rất đáng tiếc là cho tới nay họ vẫn lúng túng và tất cả dường như vẫn đang chờ đợi nhau. Người ta nói rằng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ đưa ra những lời tuyên bố thẳng thừng, kiên quyết như vậy, nhưng ông ta vẫn phải chờ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị lại chờ vào ông Nguyễn Tấn Dũng, tất cả vẫn đang chờ nhau trong khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ đang chờ kết quả chuyến đi của ông Phạm Bình Minh Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao, còn ông Phạm Bình Minh chắc chắn phải chờ ông John Kerry là ngoại trưởng Mỹ. Nhưng chuyến đi sắp tới của ông Phạm Bình Minh cũng không suôn sẻ lắm vì ông Phạm Bình Minh lại còn phải chờ Bộ Chính trị, còn cho đến giờ Bộ Chính trị Việt Namlại đang chờ những động thái của phía Mỹ.

Trong khi đó về phía Mỹ, Tổng thống Obama lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ đã đưa ra lời tuyên bố cứng rắn với TrungQuốc về chuyện khả năng Mỹ có thể đưa binh lực tới khu vực Biển Đông để giải quyết những xung đột vũ trang có thể phát sinh tại khu vực và cũng là để bảo đảm cho những lợi ích của người Mỹ về vấn đề tự do hàng hải, an ninh hàng hải ở khu vực Biển Đông. Đó là một động thái khá kiên quyết về phía Mỹ theo một lối mở mà như tư lệnh của quân đội Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương – ông Locklear – đã tuyên bố, đã bắn tiếng trên Reuters là phía Mỹ có thể xây dựng một đối tác chiến lược với phía Việt Nam. Mà trở thành đối tác chiến lược thì anh có thể hình dung nó cần thiết với Việt Nam thế nào rồi, bởi vì trước đây ông Trương Tấn Sang chưa thể hy vọng việc trở thành một đối tác chiến lược mà chỉ là đối tác toàn diện mà thôi. Đối tác chiến lược ở đây phải nói tới là chiến lược về an ninh và về quốc phòng, đó chính là điều mà người Việt Nam cần nhất hiện nay, hơn cả Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái bình dương (TTP). Chỉ có đối tác chiến lược đầy đủ với Hoa kỳ mới có thể tạo ra một hàng rào chắn, một lá chắn đủ mạnh, đủ xung lực, đủ hỏa lực để ngăn chặn hạm đội Nam Hải của Trung Quốc. Các động thái gây hấn của Trung Quốc là không chỉ ở Biển Đông mà còn ở biên giới phía Bắc, đó là điều cực kỳ quan trọng đối với Việt Nam. Nếu như Việt Nam không thể đạt được điều đó thì có thể nói là không có một điều gì, không có một con người nào, không có tài sản của một quan chức nào ở Việt Nam có thể an toàn.

TQT: Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt Nam hiện nay dường như có những mâu thuẫn trống đánh xuôi kèn thổi ngược: ông Nguyễn Tấn Dũng chờ Bộ Chính trị, Bộ Chính trị lại chờ ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế thì phải chăng có một sự chờ một điều gì khác nữa, đó là chờ vào phương Bắc ?

PCD : (cười) … Điều đó tôi chưa nói ra. Đó chính là một sự chờ đợi ngấm ngầm. Nhưng có điều là tôi thực sự không biết chắc là ai đang chờ đợi “phương Bắc”, và nếu có những người chờ phương Bắc thì họ đang chờ đợi điều gì?Có lẽ nào họ chờ đợi một sự bạo động mới như ở Đồng Nai, Bình dương hay một số nơi nào đó khác chăng? Đó chính là một ẩn số, một câu hỏi rất khúc mắc mà người dân Việt Nam đang rất muốn biết,nhưng cho tới nay chưa ai giải thích rõ ràng rằng lực lượng nào đủ mạnh, tôi xin nhấn mạnh là “đủ mạnh”, đứng sau lưng giật dây bạo động ở Bình Dương và ĐồngNai.

Nếu theo cách tuyên truyền giải thích của một số cơ quan nhà nước về ba “đối tượng” mà người ta cho rằng có sự giật dây của Việt Tân và cung cấp tiền bạc của Việt tân để tạo ra cuộc xuống đường của hàng chục ngàn công nhân ở Bình Dươngvà Đồng Nai, thì điều đó quá nguy hiểm đối với nhà nước. Bởi vì chỉ có ba con người mà có thể tạo ra một cuộc bạo động lớn như vậy thì với ba chục hoặc ba trăm người của Việt Tân từ hải ngoại mà về Việt Nam thì sẽ như thế nào? Lý lẽ đó không thuyết phục và dư luận hiện nay vẫn còn đang rất hoài nghi rằng có một lực lượng nào đủ lớn, đủ sâu để có thể chi phối một việc như vậy. Người ta cũng nghi ngờ rằng việc đó có bàn tay của tình báo Hoa Nam Trung Quốc đã tạo ra những cơn kích động sâu rộng có thể gây ra những mầm mống nội loạn ở Việt Nam. Và nếu mầm mống nội loạn ấy đủ lớn thì chúng ta biết điều gì sẽ xảy ra, đó là lúc mà thể chế chính trị Việt Nam phân hóa sâu sắc và có thể tan rã bởi những động thái giật dây của tình báo phương Bắc.Lúc đó người phương Bắc sẽ tràn vào phương Nam theo những kịch bản đã từng xảy ra không biết bao nhiêu lần trong lịch sử.

TQT: Quay trở lại vấn đề Hội nghị Shangri-la, ông đánh giá thế nào về những khác biệt trong hội nghị này? Quốc tế thì rất quan tâm, rất lo ngại cho Việt Nam, ví dụ như thủ tướng Nhật, nhưng Việt Nam thì lủng củng với nhau như vậy thì liệu chúng ta giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào?

PCD: Tôi không ngạc nhiên về thái độ lủng củng hay là bất nhất, chần chừ của phía Việt Nam, vì điều đó diễn ra từ lâu rồi, đặc biệt là trong mối quan hệ “anh em môi răng” với phương Bắc. Nhưng điều quá khó khăn với họ là thế này: hiện nay phương Bắc không còn là gây hấn thuần túy mà đã là một mối họa xâm lăng, giàn khoan 981 là một trong những bước đi đầu tiên của Trung Quốc để tạo ra một nền tảng trong chiến lược gây hấn khiêu khích và xâm lấn dài hạn đối với Việt Nam trong tương lai không xa. Mối họa đã rất cận kề.

Người ta cũng đã thấy là người Mỹ đưa tay ra. Người Mỹ đưa tay ra vì lợi ích của họ ở khu vực Biển Đông, đó là giao thương hàng hải và tất cả những gì mà họ coi là mặt quân sự có thể chi phối được khu vực, không chỉ là khu vực Nam Á mà cả Đông Á nữa. Trong lúc đó Việt Namcần phải tận dụng cơ hội này, khi mà ông Locklear Tư lệnh quân đội Mỹ ở khu vực châu Á – Thái bình Dương ra tuyên bố về khả năng Mỹ và Việt Nam có thể có quan hệ đối tác chiến lược. Tôi cho rằng nhà nước Việt Nam phải bắt nhịp ngay cái tần số và cơ hội đó. Nhưng Hội nghị Shangri-la đã chứng tỏ bản lĩnh quá yếu kém của phía Việt Nam. Hoàn toàn không đạt yêu cầu khi đưa một ông bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra để chỉ nói những câu văn vẻ không có nghĩa gì hết, gây phản cảm rất lớn trong dư luận, cho thấy một vị thế quá yếu kém của Việt Nam trên chính trường quốc tế. Điều đó gây ra hậu quả là quốc tế họ coi thường Việt Nam, họ đánh giá Việt Nam là chỉ có lời nói mà không có hành động, mà nếu như chỉ có lời nói mà không có hành động thì khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc thì quân đội ViệtNam sẽ đánh nhau như thế nào đây với một vị đại tướng nói không nên lời? Đó là điều quá rõ.

Trong khi đó, phía Mỹ đã chủ động đưa ra đề xuất thành lập một khối đồng minh quân sự Đông Á bao gồm người Mỹ, người Nhật Bản, người Philippines và tất nhiên cả Việt Nam. Tôi cho đây là một cơ hội cuối cùng của Việt Nam. Nếu nhà nước Việt nam không biết tận dụng cơ hội này thì không biết đến bao giờ người Mỹ mới đưa ra cơ hội lần thứ hai, và chắc chắn là trong năm nay sẽ chưa có một hiệp định TTP nào cả, cũng không có vũ khí sát thương nào hết, và sẽ không có bất kỳ một ân hạn nào đối với Việt nam trong việc giải quyết những lợi ích giữa hai quốc gia Mỹ – Việt.

TQT: Việt Nam chủ yếu là mua vũ khí của Nga để phòng thủ đất nước. Việt Nam có hai đồng minh chiến lược không lồ là ông Trung Quốc và ông Nga, nhưng vừa rồi khi mà xảy ra vấn đề Biển Đông thì ông Putin lại đứng bên ông chủ tịch Tập Cận Bình. Vậy nhà báo PHẠM CHÍ DŨNG bình luận thế nào về cái ông đồng minh chiến lược Nga ?

PCD: Tôi cho rằng ít nhất về vũ khí và khí tài quân sự Việt Namnhập từ Nga thì chất lượng của vũ khí và khí tài quân sự đó đã không còn bảo đảm nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Thực tế thì Việt Nam nhập khẩu đến 90% vũ khí và khí tài quân sự từ Nga.Chẳng hạn đó là các hệ xe tăng họ T, trước đây là T-34, rồi đến T-54, T-55, sau này là T-72 đến T-90, cũng như một số máy bay SU hay là MIC, hay là tên lửa…,nhưng tất cả những vũ khí như vậy về chất lượng không thể bằng Trung Quốcđược. Trong khi đó người Trung Quốcnhập khẩu những vũ khí tối tân hơn hẳn từ Nga, họ có những tàu ngầm rất lớn mà chất lượng quân sự cao hơn hẳn những gì mà Nga bán cho Việt Nam. Như vậy hình ảnh mà Pu-tin đứng cạnh Tập Cận Bình với một hợp đồng khí đốt lên tới hơn 400 tỷ USD trong dài hạn cho thấy chắc chắn là giữa người Nga là ông Putin đã có một thỏa thuận, và thực sự họ là một đồng minh trên một mặt trận đối trọng với người Mỹ. Việt Nam chỉ là một mắt xích nhỏ trong tất cả những mối quan hệ này thôi.

Theo tính toán của Bắc Kinh và Moscow thì sự kết hợp của hai lực lượng này có thể trở thành một siêu cường, và Bắc Kinh đặc biệt mong muốn điều đó, vì Bắc Kinh cho tới giờ chỉ có thể coi là một cường quốc chứ chưa thể gọi là một siêu cường. Nhưng một cường quốc như Trung Quốcvẫn còn khá nhiều vấn đề bổ khuyết, nhất là vấn đề kinh tế và nội chính, nên ông Tập Cận Bình và bộ sậu của ông ta chắc chắn là muốn có một quan hệ sâu sắc hơn với Moscow, bất chấp cuộc chiến từng xảy ra giữa hai quốc gia vào những năm 1960.

TQT: Nhìn lại vấn đề Việt Nam trong vòng cả tháng qua,điều gì ông cảm thấy lo lắng nhất và điều gì ông thấy tin tưởng và lạc quan nhất ?

PCD: Điều lo lắng nhất cũng trở nên bình thường nhất, vì tôi không ngạc nhiên về những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Sự lo lắng nhất đến từ những yếu kém của nhà nước Việt Nam mà chúng ta vẫn thường gọi là thái độ nhu nhược. Bất kỳ khi nào trong lịch sử ViệtNam diễn ra hiểm họa ngoại xâm thì gần như đều xảy ra những dao động trong nội bộ Việt Nam. Lần này mới chỉ một giàn khoan 981 mà dường như mọi chuyện đã rối tung lên, thì nếu như có thêm vài cáigiàn khoan nữa hoặc có thêm một ít động thái quân sự xâm lược khiêu khích và gia tăng vũ trang từ phía Trung Quốc thì không hiểu mọi chuyện sẽ thế nào? Đó là điều đáng lo lắng nhất, nhưng theo tôi cũng trở nên bình thường vì chúng ta hoàn toàn không ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra từ trước đến nay trong nội bộ Việt Nam.

Còn điều đáng lạc quan nhất thì thế này, chính ra tôi đã nêu ra với anh TRẦN QUANG THÀNH trong vài bài phỏng vấn trước rằng người Việt Nam chúng ta phải cám ơn Trung Quốc vì họ đã tạo ra sự kiện giàn khoan 981, nhưng họ đã không tính toán kỹ, họ không nghĩ rằng giàn khoan 981 mà đứng phía sau là toàn bộ Bắc Kinh đã tạo ra một sự kích động lớn như thế, làm cho những người theo chủ thuyết ngả sang phương Tây đã dứt khoát, quyết đoán hơn, và dường như đang có một làn sóng chạy về phương Tây vì đó là lối thoát duy nhất. Đó chính là tín hiệu lạc quan nhất, và tôi cho là đó cũng là lối thoát của dân tộc Việt Nam, vì cho tới nay chúng ta cần phải xác định rằng ai là bạn và ai không phải là bạn – là kẻ thù.

Từ trước tới giờ Trung Quốc được coi là đối tác chiến lược lớn nhất của Việt Nam trong số hàng chục đối tác chiến lược mà Việt Nam đã thiết lập, nhiều đến mức mà người ta cho rằng Việt Nam đã bị lạm phát đối tác chiến lược. Vài năm trước khi xảy ra làn sóng đối tác chiến lược của Việt Nam với các nước, đã có nhiều ý kiến nêu rằng quá nhiều đối tác chiến lược thì khi xảy ra tình trạng khó khăn với Việt Namthì như bị gây áp lực quân sự, chẳng hạn từ Trung Quốc, thì các đối tác chiến lược khác sẽ không có trách nhiệm gì cả, họ xem đó là vấn đề riêng tư của Việt Nammà thôi, tức sẽ không có một nguồn lực tập trung để giải quyết vấn đề Việt Nam khi mà nguồn lực đó bị dàn trải quá nhiều. Bây giờ hiện thực đó đang xảy ra sờ sờ trước mắt khi mà Trung Quốc gây ra áp lực với Việt Nam, bởi trong những ngày đầu tiên Việt Nam hầu như không được sự lên tiếng ủng hộ nào từ cộng đồng quốc tế. Họ thờ ơ, thậm chí trên kênh CNN toàn là những người đại diện ngoại giao của Trung Quốc phát biểu chứ không phải là đại diện ngoại giao của Việt Nam. Mãi sau này đại diện ngoại giao của Việt Nam mới có cơ hội trên CNN, nhưng đã quá muộn.

Đã đến lúc cần phải xem lại ai là thù, ai là bạn. Và thay vì xác định Mỹ là kẻ thù số một theo truyền thống trước đây của lịch sử chính trị Việt Nam thì hãy nên xem lại rằng kẻ thù đó còn ở quá xa, và từ 40 năm qua kẻ thù số một đó chưa từng làm cái gì xấu xa đối với Việt Nam. Ngược lại trong mười năm qua Việt Nam được lợi quá nhiều về kinh tế khi xuất siêu 15-16 tỷ USD vào thị trường Mỹ, trong khi nhập siêu 23-24 tỷ USD từ thị trường Trung Quốc. Vậy thì bất lợi nằm ở đâu, lợi ích nằm ở chỗ nào? Ai xâm lược Việt Nam, ai không xâm lược Việt Nam? Ai chìa tay ra đối với Việt Nam? Phải xem lại điều đó để thấy rằng Hoa Kỳ và phương Tây là lối thoát không chỉ với giới chính khách Việt Nam mà còn đối với cả dân tộc Việt Nam trong tương lai.

TQT: Xin cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng về cuộc hội luận hôm nay.

Bài phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành gửi tới trang Ba Sàm

===================================

http://tiengnoidanchu.wordpress.com/2014/05/29/viet-nam-can-ba-con-xa-hay-lang-gieng-gan/

VIỆT NAM CẦN ‘BÀ CON XA’ HAY ‘LÁNG GIỀNG GẦN’?

TS Phạm Chí Dũng, theo BBC

Không phải ngẫu nhiên và cũng chưa có gì chứng tỏ thiện ý khi An Ninh Thủ Đô vừa có bài “Các nghị sĩ hối thúc chính quyền Mỹ cứng rắn trước hành động nguy hiểm của Trung Quốc”.

Trang báo thường chiếm một vị trí xứng đáng trong danh mục bán chỉ định của báo đảng và luôn công kích phong trào dân chủ nhân quyền trong nước cùng “sự can thiệp thô bạo và trắng trợn của Mỹ vào Việt Nam” gần đây đã bộc lộ nỗi âu lo lẫn sốt ruột không thể che giấu: hơn bao giờ hết, giới lãnh đạo Việt Nam lại cần đến “bà con xa” hơn là “láng giềng gần”.

Lo âu và rối loạn

Công tâm mà xét, phép thử Bắc Kinh mang tên giàn khoan Haiyang Shiyou 981 ở biển Đông chỉ trong hai tuần lễ đã mang lại một hiệu nghiệm chưa từng có: toàn bộ đời sống chính trị và cả tâm thế xã hội Việt Nam bị rối loạn.

“Kỳ án” biểu tình bạo loạn ở Bình Dương có lẽ đã làm cho phần lớn giới chính khách Hà Nội, vốn còn so đo tính toán trong trò chơi đu dây giữa Bắc Kinh và Washington, phải giật mình.

Lần đầu tiên từ sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 đến nay, những người làm công tác tình báo của Việt Nam chắc hẳn phải quá nặng lòng với câu hỏi: làm thế nào và sẽ ra sao khi những dấu hiệu của lực lượng “thân Trung” đã và sẽ nổi lên quyết liệt đến mức sống mái trên mảnh đất thường được xem là “ao làng” của Bắc Kinh?

Phép thử Bắc Kinh cũng đã chứng tỏ được xung lực ứng nghiệm của nó: ngay khi nội trị Việt Nam rối loạn, lời cầu cứu của Hà Nội đã không còn được cộng đồng quốc tế đáp từ như trước đây.

Nếu quả đúng với thâm ý của Trung Nam Hải và đòn nhúng tay hiểm ác của họ, cuộc bạo loạn đốt phá lan rộng dữ dội ở Bình Dương và hàng loạt cái chết của công nhân Trung Quốc ở Hà Tĩnh đã làm cho hình ảnh một Việt Nam “ổn định chính trị và xã hội” trở nên phai tàn rất nhanh trong cảm nhận của thế giới.

Hệ quả kéo theo không tránh khỏi là làn sóng đầu tư nước ngoài vào quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể lên đến 20% này đang có nguy cơ bị chựng lại.

Cùng lúc, làn sóng thoái vốn của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan và vài nước khác lại có chiều hướng xung kích.

Rồi như một hiệu lệnh đồng loạt, nhiều dấu hiệu cho thấy quân đội Trung Quốc đang thầm lặng di chuyển áp sát biên giới phía Bắc. Vài ngày gần đây đã thổi nhẹ loạt đồn đoán về một cuộc chiến tranh có thể nổ ra vào bất cứ thời điểm nào…

Cầu cứu

Phản ứng của phương Tây ra sao? Vào đúng thời điểm kỷ niệm bốn chục năm quan hệ Việt – Pháp, giới ngoại giao Paris vẫn giữ đúng chuẩn mực văn hóa, và vấn đề mà họ có vẻ quan tâm nhất cũng chính là chủ đề “xây dựng văn hóa” mà Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam miên man bàn thảo trong hội nghị trung ương 9, cho dù ngay cạnh hội nghị này là mối hiểm họa bất cần văn minh của người anh em “núi liền núi, sông liền sông”.

Trong khi đó, với tính khí lạnh lẽo sương mù vốn có, người Anh càng khó mặn mà với một khu vực mà họ chẳng có ích lợi gì ngoài cú vồ hụt Nam Kỳ vào năm 1946.

Chưa có bất cứ tín hiệu cứu sinh nào từ Tây Âu, Hà Nội chỉ còn trông chờ vào chính sách “xoay trục” sang châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

Thế nhưng điều lạ lùng là sau thành công kéo tỷ lệ thất nghiệp từ 9,9% năm 2009 xuống chỉ còn 6,3% vào đầu năm nay, chính quyền Obama lại dường như chọn hướng tiếp tục phát huy thắng lợi này, cũng là để tạo dựng uy tín cho ứng cử viên đảng Dân chủ trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng vài năm tới, thay vì dành mối chú tâm cho một địa chỉ vẫn bị đánh giá “độ tin cậy giữa hai quốc gia là rất thấp”.

Thực tế, chỉ vài tiếng nói của vài nghị sĩ Mỹ không đủ làm cho gió lặng trên biển Đông bạc sóng bởi vòi rồng Trung quốc. Thậm chí đến lúc này, một nghị sĩ Mỹ còn nói thẳng: “Việt Nam không hẳn là bạn của Hoa Kỳ”.

Có lẽ nhiều năm sau, câu nói đó sẽ đi vào lịch sử, nếu so đo với chính sách “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và gần 10 “đối tác chiến lược toàn diện” trên danh mục của Hà Nội tới nay, trong đó Bắc Kinh luôn tiến chiếm vị trí số 1.

Tình thế nan nguy chưa từng có như thế chắc chắn đã khiến cho đảng cầm quyền, chính phủ và quốc hội Việt Nam không còn thể thờ ơ với vận mệnh dân tộc và sinh mạng chính trị của họ.

Như một hiệu lệnh đồng loạt, trong khi Quốc hội khai mạc kỳ họp giữa năm bằng một tuyên bố có từ “Trung Quốc” và do đó khác về bản chất với cả hai bài diễn văn khơi mào và kết thúc hội nghị trương ương 9 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ít ngày trước đó, Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hiệp quốc cũng bắt đầu ban bố một tuyên cáo về “Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng hòa bình”.

Nhưng đáng kể nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chính khách cao cấp tỏ ra có tiếng nói “thoát Trung” mạnh mẽ nhất trong hàng ngũ lãnh đạo đảng cho đến giờ.

Nhân chuyến dự Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á ở Philippines, Thủ tướng Dũng đã có vẻ khiến Bắc Kinh phải đôi chút lo ngại về một liên minh quân sự giữa hai quốc gia – nạn nhân của chính sách bành trướng biển khơi và “vùng chủ quyền lãnh thổ di động”.

Dường như là lần đầu tiên, ông Dũng tuyên bố công khai ở nước ngoài về “mối đe dọa của Trung Quốc”.

Nhưng có một chi tiết rất đáng chú ý: nước ngoài đó lại là Philippines – quốc gia vừa đạt được hiệp ước tương trợ quốc phòng với Mỹ trong chuyến công du Manila của ông Barak Obama cuối tháng 4/2014.

Điều an ủi có lẽ là duy nhất cho sự thất vọng của Hà Nội là dù sao cú ra tay đầy tính toán của Trung Quốc tại Biển Đông cũng bắt buộc những người bảo thủ ở Việt Nam phải nhìn lại một quy luật kinh điển: trong hai cái xấu, hãy lựa chọn cái nào đỡ xấu hơn.

‘Độ tin cậy rất thấp’

Vốn thường bị lên án là ‘sen đầm quốc tế” cùng chính sách “diễn biến hòa bình”, nhưng ít nhất người Mỹ đã chưa từng biểu lộ ý chí xâm lăng bằng mọi giá như Trung Quốc tại ít nhất khu vực biển Đông.

Thậm chí ngược lại, Mỹ và phương Tây lại đang có trong tay cái bánh mà Việt Nam quá thèm muốn để xử lý khủng hoảng kinh tế – xã hội: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) – điều mà Trung Quốc không hề có; hoặc chỉ là cán cân xuất siêu của Đại Hán vào Việt Nam tăng chẵn 100 lần trong hơn 10 năm qua.

Tâm lý người Việt “ngả vào vòng tay phương Tây” cũng bởi thế đang có chiều hướng đột biến so với mối nghi kỵ đậm chất “thù địch” như trước đây.

Rất nhiều khả năng là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và một phần lớn còn lại, nếu không muốn nói là tất cả, giới lãnh đạo Hà Nội đang rất mong đợi giữa họ với Washington sẽ thiết lập được một bản hiệp ước quân sự nào đó, nhằm ngay lập tức tạo thành “lá chắn biển Đông” trước cơn thủy triều đỏ rực thèm khát của Bắc Kinh.

Philippines lại chính là một bài học quá cận kề đối với Việt Nam. Chỉ ba năm trước, vùng lãnh hải của quốc gia nhỏ bé này còn liên tục bị Trung Quốc đe dọa xâm lấn và chiếm đảo.

Thế nhưng cùng với mối quan hệ khắng khít với Washington và hạm đội 7, lần đầu tiên người Phi đã dám kiện gã khổng lồ Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Cũng cho đến nay, hải quân Trung Quốc hoàn toàn chưa dám động binh – hành động chẳng tương xứng chút nào với tuyên bố “nhổ nước bọt” của họ trước đây.

Bài học quốc tế đã sẵn có và kinh nghiệm cũng không thiếu. Nhưng câu hỏi hóc búa đối với Hà Nội là làm thế nào họ chinh phục được “bà con xa” vào lúc này, khi “độ tin cậy giữa hai quốc gia là rất thấp”?

Không chỉ “thấp” về mối quan hệ “đối tác toàn diện” mà chưa hề mang hơi hướng “chiến lược” nào, những gì mà một chính quyền thường hứa hẹn “luôn quan tâm và bảo đảm các quyền con người” lại chẳng thể cảm hóa được Quốc hội và do đó là chính phủ Mỹ.

Ngược hẳn với tuyên bố “Việt Nam đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị về nhân quyền của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc” của một trong những nhân vật được coi là ứng viên cho chức vụ thủ tướng Việt Nam trong tương lai không xa – Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh, giới chính khách Liên minh châu Âu lại mát mẻ rằng có đến 85% khuyến nghị của các quốc gia đã chưa hề được Hà Nội đụng chạm đến.

Lời trần tình chua cay này được nêu ra trong một cuộc hội thảo về Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam diễn ra mới đây tại Hà Nội.

Bà con xa?

Minh chứng hùng hồn và gần gũi nhất cho chủ đề nhân quyền Việt Nam lại vừa xảy đến vào ngày Chủ nhật 18/5/2014, khi cuộc biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc can thiệp vào biển Đông của người dân Hà Nội, Sài Gòn và Vinh đã bị chính quyền các nơi đàn áp thô bạo.

Các hãng tin quốc tế lập tức loan tin “Bắt bớ diễn ra khắp nơi, những người biểu thị lòng yêu nước bị đánh đập dã man…”

Rất tương đồng với ý nghĩa của gần hai chục cuộc đàn áp biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc từ giữa năm 2011 đến nay, cuộc đàn áp gần nhất ở Việt Nam đã bộc lộ một sai lầm chính trị đủ lớn của chính quyền: không còn phân biệt nổi đâu là biểu tình quá khích và đâu là biểu tình ôn hòa.

Một sai lầm bị đại đa số nhân dân cho là vong quốc và sẽ góp thêm lòng nhiệt tình vào tình thế mất nước.

Chính sai lầm mang tính hệ thống trên đang và sẽ dồn đẩy giới cầm quyền Việt Nam vào ngõ cụt: Làm thế nào để nếu chiến tranh Trung – Việt nổ ra, mà tương lai này trở nên khá dễ đoán trong 2-3 năm tới, chính quyền Việt Nam có thể ít nhất huy động được dân chúng xuống đường biểu thị “chính nghĩa”, trước khi nói đến một cuộc tổng động viên nào đó, mà không bị người dân quay lưng bởi quá khứ trấn áp biểu tình không khoan nhượng?

Làm thế nào để Hà Nội vớt vát chút niềm tin quốc tế trong bối cảnh họa xâm lăng đang cận kề và mối họa mất nước hoàn toàn không xa xôi?

Và thực tế hơn rất nhiều lần là làm thế nào để Việt Nam có được “lá chắn biển Đông”, nếu chính quyền bảo thủ của quốc gia này vẫn không thể chấp nhận những khái niệm cơ bản nhất về giá trị nhân quyền, như một bài học rất giá trị khác – Miến Điện – đã tích lũy từ ba năm qua và thật ứng với câu tục ngữ Việt Nam “Bà con xa hơn láng giềng gần”?

_______

Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s