QLVNCH: (Những Trận Đánh) Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến và Tết Mậu Thân 1968 (Mau Than massacre Lunar New Year)


Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến và Tết Mậu Thân 1968

MX Đỗ Phú Ngọc

Lời người viết:
Là sĩ quan cấp nhỏ trong Chiến đoàn nên tầm nhìn của tôi chỉ ở góc độ hẹp, so với tầm vóc cũng như khu vực trách nhiệm của Chiến đoàn. Hơn hai mươi năm, trí nhớ bị xoi mòn nên các con số về thời điểm xin mạn phép không ghi vì không nhớ chính xác. Riêng các sự kiện thì chắc chắn chỉ có thiếu chứ không thể sai sự thật. Một sự thật đầy anh dũng và kiêu hùng nhưng cuối cùng phải chịu sự bán đứng của Đồng minh vì những lợi ích to lớn hơn của họ.

Inline image 2Image result for Tieu doan 1 Thủy Quân Lục Chiến photoImage result for Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến và Tết Mậu Thân 1968

Inline image 1

Những chiếc phi cơ quân sự khổng lồ C.13O chở chúng tôi đáp xuống phi trường Phù Cát, Bình Định vào một ngày đầy mưa phùn gió bấc của vùng 2 Chiến thuật. Tất cả quân nhân đều mang ba lô, súng đạn gọn gàng, nhanh như sóc chui ra khỏi lòng phi cơ dưới tiếng gầm thét của động cơ rồi chạy về hướng đoàn quân xa đang chờ.

Sau khi phân chia xe cho từng đơn vị, đoàn quân xa chở Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến được quân cảnh 2O2 hướng dẫn rời phi trường Phù Cát tiến ra quốc lộ 1, hướng về phía Bắc đến Phù Cũ, đèo Nhông rồi dừng lại ở Dương Liễu để thay thế cho Chiến đoàn B Thủy Quân Lục Chiến về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân.

Tôi thuộc thành phần truyền tin tăng phái cho Chiến đoàn nên luôn luôn được mang theo một số xe Jeep có gắn máy truyền tin. Do vậy mà tôi được ngồi luôn trên xe chạy từ lòng phi cơ xuống phi đạo rồi tháp tùng đoàn công voa đi luôn.

Do tình hình đòi hỏi, Quân đoàn 2 được Bộ Tổng Tham Mưu cho một Chiến đoàn Thủy Quân Lục Chiến tăng phái để đập tan những đơn vị Việt cộng đang áp lực nặng trên lãnh thổ Quân khu 2. Vớ được lực lượng Tổng trừ bị, vị tư lệnh nào cũng xử dụng cho đáng đồng tiền bát gạo vì đây là lực lượng tinh nhuệ, hỏa lực mạnh, di động nhanh, Việt cộng nghe tiếng là né tránh hay chém vè. Và điểm quan trọng là không phải lo bổ sung quân số, đào tạo hay điều trị thương binh.

Quả thật vùng Đầm Trà Ổ là vùng chằng ăn trăn quấn của tỉnh Bình Định, là giao lộ huyết mạch để Việt cộng xâm nhập, tiếp tế giữa cao nguyên và đồng bằng. Chúng còn gây gián đoạn lưu thông của quốc lộ 1. Địa hình ở đây khá thuận lợi cho hoạt động du kích: núi, đầm, dừa và có nhiều gia đình thoát ly theo Việt cộng.

Những ngày trước Tết, gió bấc với từng cơn mưa không lớn nhưng dai dẳng, đường sá lầy lội. Chiến đoàn vẫn thường xuyên mở những cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn với mục đích tạo sự bất ổn thường xuyên cho Việt cộng. Dù chúng cố né nhưng cũng chẳng làm sao tránh được những cuộc tao ngộ chiến. Trong một cuộc hành quân lục soát vùng Miếu Ông, cú “hồi mã thương” ngoạn mục của Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến đã chạm một đơn vị Việt cộng. Sau một hồi giao tranh, chúng mở đường máu chạy để lại vài tử thi và một số vũ khí không quá 1O khẩu, nhưng đặc biệt có 1 khẩu M.18 là họ hàng với AR.15 và XM.16 nhưng nó thuộc đời sau, đã được biến cải tối tân hơn, báng xếp ngắn gọn chỉ có quân đội Mỹ mới có. Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam lúc này đang xài XM.16.

Chiến lợi phẩm được mang về Bộ Chỉ huy Chiến đoàn, tôi nhìn thấy và nói với Thiếu tá Nguyễn Thế Lương, Tham Mưu trưởng Chiến đoàn:

– Đơn vị Việt cộng mà chúng ta chạm ngày hôm qua chắc là thành phần quan trọng của Việt cộng. Vì theo kinh nghiệm là ít khi cấp nhỏ được giữ khẩu súng tối tân như loại này mà phải nộp lên cấp trên.

Vị Tham mưu trưởng gật đầu và nói:

– Có thể đây là thành phần hộ tống cho Tỉnh ủy hay Tư lệnh (Việt cộng) gì đây, chờ điều tra thêm.

Việc để lực lượng Tổng trừ bị là nhiệm vụ đóng đồn giữ đất thật là uổng phí, nhưng chắc Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 đã tính kỹ việc này, đâu dễ gì họ bỏ lỡ cơ hội mà không xử dụng cho hết hiệu năng của Chiến đoàn. Nhờ liên tục hành quân, lúc phía Đông, khi phía Tây, nào “hồi mã thương”, nào “diều hâu”…nên sự hoạt động của Cộng quân ở đây bị tê liệt. Bằng cớ là sáng mồng một Tết Mậu Thân chúng tôi còn ung dung xách xe Jeep xuống Bồng Sơn ăn sáng, vài anh em khác lên Đèo Nhông thăm bạn bè.

Chiến đoàn Thủy Quân Lục Chiến dù hành quân ở đâu vẫn phải liên lạc định kỳ đầu giờ với Bộ Tư lệnh Sư đoàn ở Sài Gòn qua hệ thống vô tuyến âm thoại AN/GRC 1O6. Trên đường đi ăn sáng về, qua hệ thống AN/VRC 46 (AN/PCR 25 gắn trên xe Jeep), nhân viên âm thoại báo:

– Thẩm quyền về gấp chuẩn bị zulu, cải cách (z/c di chuyển).

Về đến Bộ chỉ huy, tôi vội chạy đến hầm đặt xe gắn máy AN/GRC 1O6 để liên lạc với Sài Gòn. Tôi được hậu cứ cho biết là Việt cộng tấn công ở nhiều nơi như Bộ Tổng Tham mưu, tòa Đại sứ Mỹ, Thủ Đức … Qua hệ thống siêu tần số của Sư đoàn 22 dặn Chiến đoàn sẵn sàng di chuyển nửa giờ sau khi có lệnh. Tin tức Việt cộng tấn công ở vùng 2 được tới tấp thông báo về Chiến đoàn. Nhưng đặc biệt khu vực trách nhiệm của Mũ Xanh thì rất yên tỉnh, chứng tỏ Việt cộng muốn né tránh. Trong thời gian hoạt động ở đây, Chiến đoàn đã móc nối được một hồi chánh viên, người này thường cung cấp những tin tức rất chính xác, trong đó có tin là Việt cộng đang chuẩn bị một cuộc tấn công quy mô nhưng không rõ thời điểm và địa điểm.

Công điện đầu tiên nhận được là Chiến đoàn đến giải tỏa áp lực địch ở thị xã Qui Nhơn. Kế đến là lệnh lên Đà Lạt giải tỏa áp lực địch ở phi trường Liên Khương. Chiến đoàn được không vận bằng C.13O và Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến của Thiếu tá Phạm Văn Chung được bốc đợt đầu. Khi đến không phận Đà Lạt, qua hệ thống liên lạc của Không quân và sự quan sát từ trên không, chứng tỏ hỏa lực địch khá mạnh nên không đáp xuống được. Bộ Tổng Tham Mưu quyết định đưa Chiến đoàn A về Sài Gòn.

Lúc này Chiến đoàn B Thủy Quân Lục Chiến đã được không vận từ Cai Lậy về Bộ Tổng Tham Mưu bằng Chinook rồi. Thế là mộng du lịch Đà Lạt không tốn tiền của tôi đã mất. Thú thật tôi chưa biết gì về xứ hoa anh đào này cả.

Chiến đoàn đột ngột rời vùng 2 Chiến thuật, bỏ lại đằng sau bao cái nhìn trìu mến, luyến tiếc của bà con dọc 2 bên quốc lộ 1 mà mấy tháng nay 2 Chiến đoàn đã thay nhau bảo vệ cho họ được an cư lạc nghiệp và có dịp cho họ hiểu rõ hơn về người lính Mũ Xanh. Lên máy bay, anh em tựa lưng vào ba lô đánh một giấc để lấy sức chuẩn bị cho trận chiến cam go ở trước mặt. Vài anh em khá vui nhộn lấy bài ra binh xập xám ăn thuốc lá.

Máy bay giảm cao độ từ từ và lượn vòng quanh Thủ đô chờ lệnh đáp. Chúng tôi nhìn qua cửa kính thấy nhiều đám lửa lớn, đó là những vùng đang có giao tranh. Cạnh Bộ Tổng Tham Mưu, tiếng súng giao tranh nghe khá rõ, mà ở đó Chiến đoàn B của Trung tá Soạn đang từng bước đẩy lui Việt cộng. Nghe tiếng rít của bánh phi cơ cọ xát lên phi đạo, chúng tôi biết mình đã đáp an toàn trước hỏa lực phòng không của địch, giờ chỉ còn sợ pháo kích. Máy bay dừng hẳn, cửa mở anh em vội thoát nhanh ra khỏi lòng phi cơ, trực chỉ lại đoàn xe phóng lên rồi hô bác tài dọt để tránh bị pháo.

Chiến đoàn được lệnh về giải tỏa áp lực cho quận Thủ Đức. Sau mấy ngày ngắn ngủi, Chiến đoàn đã đẩy được Cộng quân ra xa thị trấn. Do nhu cầu bức bách của cố đô Huế, nơi mà Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 của Tướng Trưởng bị vây hãm đến độ Đại tá Phú, Tư lệnh phó phải hối thúc Tướng Trưởng xin thêm lực lượng giải vây, nếu không ông sẽ tự sát chứ không chịu để Việt cộng bắt lần thứ 2 và ông còn thòng thêm câu là nếu ông tự sát, xin Thiếu tướng đi cùng. Mặc dù ở Quân đoàn 1 đã có một Chiến đoàn Dù, nhưng sau bao ngày quần thảo với một lực lượng đông gấp 4 lần, họ không sao tránh khỏi tổn thất.

Bộ chỉ huy Chiến đoàn và Tiểu đoàn trưởng được mời về Bộ tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến để họp hành quân. Nội dung buổi họp là Chiến đoàn A sẽ ra Huế hành quân, chuẩn bị quần áo chống lạnh, các nhu cầu cần thiết như vũ khí, đạn dược, điện trì trong thời gian 15 ngày sơ khởi, sẽ tái tiếp tế tại Quân đoàn 1.

Về tình hình địch thì còn rất nặng, Huế bị chiếm gần hết bởi nhiều Trung đoàn Bắc Việt và du kích địa phương. Chiến đoàn Dù đã quá mệt mỏi sau bao ngày tham chiến, quân số hiện chỉ còn tương đương cỡ 1 Tiểu đoàn.

Thiếu tá Hoàng Tích Thông lại dẫn Chiến đoàn ra giải tỏa cố đô yêu dấu bằng vận tải cơ C.13O. Cùng tham chiến lần này có Tiểu đoàn 4 của Thiếu tá Đỗ Đình Vượng, Tiểu đoàn 5 của Thiếu tá Phạm Nhã, Tiểu đoàn 1 của Thiếu tá Phan Văn Thắng, một Pháo đội (tôi quên tên) cùng nhiều thành phần tăng phái như Quân y, Truyền tin, Yểm trợ Thủy Bộ…

Đáp xuống phi trường Phú Bài dưới cái lạnh của miền Trung, phi đạo lổ chỗ hố pháo kích. Họp vội vàng với Chiến đoàn Dù để biết tình hình, câu đầu tiên là họ báo động coi chừng pháo, phải trang bị áo giáp và nón sắt. Nhìn lên bản đồ hành quân thấy ước hiệu màu đỏ nhiều, vây quanh cả Huế. Đường bộ vào Huế không xử dụng được, các Tiểu đoàn phải di chuyển bằng đường thủy đến Bao Vinh. Bộ chỉ huy Chiến đoàn và Pháo binh sẽ được trực thăng vận. Có 2 chiếc trực thăng H.34 để bốc Bộ chỉ huy Chiến đoàn thì một chiếc bị trúng đạn địch, không thể xử dụng được nữa. Hai khẩu pháo, chỉ câu được có một vào vùng hành quân.

Vào họp hành quân tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, Chiến đoàn nhận vùng trách nhiệm như nhận một mớ bòng bong. Rối như tơ vò không biết cách nào mà gỡ trong khi hỏa lực yểm trợ chưa có đủ. Vài khu vực đã được Nhảy Dù giải tỏa, giao lại cho địa phương nay lại rơi vào tay Việt cộng.

Bộ chỉ huy Chiến đoàn di chuyển lên đặt tại Đại đội 1 Quân cụ, dụng ý của Tướng Trưởng là muốn tăng cường an ninh chi Đại đội này vì tại đây có tồn trữ một số lớn XM.16 mới nhận, đang chờ thủ tục cấp phát cho các Trung đoàn. Cũng may là Cộng quân không biết việc này chứ nếu biết thì bằng mọi giá chúng sẽ cướp cho được.

Chiến đoàn được chia thành 3 mũi tiến quân:

– Tiểu đoàn 5 tiến về hướng cửa Nhà Đồ

– Tiểu đoàn 4 tiến theo hướng Bắc cửa Tây

– Tiểu đoàn 1 tiến về hướng Cột cờ.

Lần đầu tiên, một chiến thuật mới được xử dụng tác chiến trong thành phố, vừa đánh vừa tìm tòi học hỏi và rút kinh nghiệm và cũng là lần đầu tiên người lính Mũ Xanh phải đón tiếp nhiều pháo, cối và hỏa tiễn 122 ly. Về sau Chiến đoàn được sự tiếp tay của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và Đại đội Hắc Báo của Sư đoàn 1 Bộ binh ở cửa Đông Bắc.

Người lính Mũ Xanh trang bị nón sắt và áo giáp 1OO% nên tổn thất vì mảnh pháo được giảm thiểu và cũng là dấu hiệu để Cộng quân bỏ chạy khi thấy áo giáp và nón sắt.

Sau khi nhận vùng trách nhiệm, cũng cố vị trí chiến đấu, liên lạc với dân chúng để biết thêm địch tình và nhờ dân chúng chỉ điểm các lối tắt, ngõ hẽm để dễ bề xử dụng vũ khí cá nhân. Hạn chế hỏa lực pháo để tránh thiệt hại nhà cửa dân chúng. Cái khó cho việc hành quân ở đây là thành quách kiên cố, hào sâu, ao sen dọc theo các thành là chướng ngại lớn cho việc tiến quân. Các cánh quân tiến chiếm từng căn nhà, từng gốc cây, từng con đường. Đánh ngày thấy khó khăn, ta chuyển qua đột kích đêm.

Đặc biệt cuộc hành quân này khoảng cách giữa ta và địch rất gần và rất nhiều đơn vị nên hầu như tất cả liên lạc vô tuyến âm thoại của cả 2 bên đều bị chận nghe và có thể giải đoán được. Thấy tình thế này, tôi đề nghị lên vị Tham mưu trưởng Chiến đoàn là an ninh truyền tin không ổn, nên hạn chế vô tuyến và tận dụng hữu tuyến. ở cấp nhỏ Trung đội và Đại đội phải di động nhiều nên không thể xử dụng điện thoại thì phải dùng ám danh đàm thoại, cấm dùng bạch văn liên lạc.

Lần đầu tiên tôi dám mạnh miệng hứa với các Tiểu đoàn là quý vị cần bao nhiêu dây dã chiến WD1 truyền tin, tôi thỏa mãn đủ. Sở dĩ tôi dám nói như vậy là vì tôi đã thấy kho của Đại đội Quân cụ này tồn trữ nhiều cuộn MX 3O6 lắm. Lúc này thì tất cả cho chiến trường, mà lại chiến trường của Thủy Quân Lục Chiến nữa nên muốn xin gì là có ngay. Và tôi cũng không quên thòng thêm một câu nữa là tôi chỉ yểm trợ các Tiểu đoàn về vật liệu chứ về nhân lực đi thiết trí thì không có, vì sợ các ổng giở nguyên tắc. Cấp trên yểm trợ cấp dưới rồi bắt chúng tôi đi kéo dây từ Chiến đoàn xuống các Tiểu đoàn. Cũng bởi nguyên tắc này mà tôi đã yêu cầu Sư đoàn 1 thiết trí lại đường dây từ Bộ tư lệnh Sư đoàn xuống Đại đội Quân cụ. Tội nghiệp 2 nhân viên truyền tin Sư đoàn 1 đã bị trúng hỏa tiển 122 ly của Việt cộng, tử thương trong lúc đi sửa chữa.

Sau này, nhiều lần tôi yêu cầu xin sửa chữa lại đường dây, nhưng họ bảo là không còn người. Tôi nghĩ đây là lợi ích thiết thực cho Chiến đoàn nên tôi đề nghị Tham mưu trưởng là chúng tôi sẽ đi sửa và tăng cường gấp 3 số đường dây đang cần để phòng khi pháo kích làm hư 1 cũng còn 2 mà hư 2 cũng còn 1 (vì không sợ thiếu dây). Loại dây quấn trong cuộn MX3O6 này dễ thiết trí, không phải đi bộ, Mỹ chế ra để trải bằng máy bay. Thiếu tá Lương nghe vậy đồng ý, tôi trình thêm là tôi phải đi với vài anh em vì sợ họ lạnh cẳng rồi về nói không thể đi được… Thường trong nhà binh, những việc làm táo bạo nếu êm xuôi thì chẳng ai khen, mà lỡ lãnh đủ thì về còn bị khiển trách là không xin lệnh, không hỏi ý kiến, việc của nhân viên đâu phải của Sĩ quan…

Được Tham mưu trưởng đồng ý, tôi lấy nhiều cuộn MX.3O6 bỏ lên xe Jeep mở mui phía sau ra cho các đầu dây cột tại Bộ Chỉ huy Chiến đoàn. Xe phom phom chạy về Mang Cá, một tài xế cùng 2 quân nhân súng đạn sẵn sàng, ngồi quay mặt ra 2 bên đường. Đến cửa Hòa bình thì bị một loạt AK nổ vang trên đầu, tôi bảo tài xế chạy nhanh và anh em bắn trả.

Mấy cuộn dây cứ đều đều nhả ra trên đường, thoát nạn nhưng trong bụng lo lúc đi trở về. Đến một đoạn đường vắng thì cũng vừa lúc hết một lần cuộn dây. Tôi cho dừng xe, xuống bố trí và một người lại nối 3 đôi dây khác, xong lên xe chạy tiếp.

Đến Bộ tư lệnh Sư đoàn 1, anh em ở đây rất mừng vì thấy chúng tôi gồng mình đi giúp họ. Sau khi gắn vào điện thoại, tôi gọi về Chiến đoàn và không quên báo với vị Tham mưu trưởng là đã hoàn tất công tác thiết trí dây, nhưng còn công tác vô cùng nguy hiểm khác là đi về lại Chiến đoàn. Ông hỏi lại:

– Anh muốn nói gì tôi chưa hiểu ?.

Tôi thuật lại vụ ở cửa Hòa Bình và xin yểm trợ cho chúng tôi đi về, nếu không tôi ở lại đây. Ông nói:

– Tôi sẽ clear chỗ đó cho anh, chúc anh may mắn.

Trên đường về, lúc gần đến cửa Hòa Bình, tôi thấy có bóng người bèn bảo tài xế chậm lại để quan sát. Một quân nhân ngồi sau nói:

– Phe ta, nón sắt áo giáp mà ông thầy.

Đến nơi tôi gặp một sĩ quan Trung đội trưởng cho biết là mới đánh đuổi được lũ chuột, giết được 2 tên, lấy 1 AK, ta 1 bị thương vừa mới tản thương xong. Quả thật, nếu không xin clear, toán tụi tôi lãnh đủ.

Thiết lập hệ thống liên lạc hữu tuyến: chúng tôi thì kéo dây lên Sư đoàn 1, các Tiểu đoàn kéo dây lên Bộ chỉ huy Chiến đoàn. Chuyện sai nguyên tắc, đúng ra cấp cao hơn yểm trợ cấp thấp. Tôi lấy mấy cái máy AN/PRC 25 ra dò tìm đài Việt cộng. Tìm được tần số nào, tôi ghi vào sổ với cả danh hiệu đài rồi gắn loa mở hết volume để theo dỏi. Vị Chiến đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng của tôi cũng thích trò này lắm. Đây là lần đầu tôi biết được các chữ mà bọn Việt cộng dùng để liên lạc vô tuyến âm thoại. Có một điện văn ngắn và tôi bắt được:

– Thắng, đây Năm gọi. Thắng, đây Năm gọi . Năm, đây Thắng nghe. Năm, đây Thắng nghe, yêu cầu gởi thỏ trắng gấp” (lặp lại 3 lần).

Chúng tôi đoán là chúng gọi xin pháo hoặc cối gì đó, liền báo về Sư đoàn 1. Quả nhiên mấy phút sau Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 lãnh mấy quả 122 ly. Chiến đoàn đề nghị hạ lá cờ Chuẩn tướng xuống để Việt cộng không còn điểm chuẩn để điều chỉnh pháo. Pháo đội Thủy Quân Lục Chiến phản pháo làm câm mồm mấy dàn 122 ly của địch.

Thế là tự nhiên chúng tôi nhận thêm một nhiệm vụ nữa: chận bắt các công điện của địch, đó là nhiệm vụ của phòng 7 Bộ Tổng tham mưu. Mãi về sau này Sư đoàn mới có Biệt đội kỹ thuật và đã khám phá được nhiều mật điện quan trọng trong cuộc chiến 1972.

Các cánh quân của Chiến đoàn tiến thật chậm, vì Việt cộng đã có đủ thì giờ tổ chức, cũng cố các công sự phòng thủ. Ta thì hạn chế phi pháo vì sợ thiệt hại nhà cửa dân chúng. Ít có đụng độ lớn vì Việt cộng ở thế bị cô lập nên chỉ đánh cầm chân rồi mở đường máu chạy từ từ. Chúng còn vướng gánh nặng là mấy ngàn người gồm quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt khi chúng chiếm được thành phố này.

Ngày nào chiến sĩ Cọp Biển cũng phải dùng poncho gói xác giặc gửi về Trung đội Chung sự Sư đoàn 1 chôn cất vì sợ bịnh dịch. Có ngày Ban 4 Chiến đoàn phải cấp cả trăm chiếc poncho để gói xác giặc. Chiến lợi phẩm được nộp lên Chiến đoàn tới tấp, trong đó có những cây phòng không còn dính sợi xích lòng thòng mà các đơn vị báo là phải chặt chân một tử thi Việt cộng mới lấy được súng.

Trên đường tiến quân của Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến, có một quyết định táo bạo và dũng cảm của một anh binh nhất đã làm cho quân thù nể mặt: Thường vào lúc chập choạng tối, tôi cho anh em đi gài mìn bẫy chung quanh vị trí đóng quân. Chờ đồng đội đi tắm khá lâu, Binh nhất Hoàng nói với Binh nhất Tân đang gác:

– Tao đi gài lựu đạn, chờ thằng Nam lâu quá.

Hoàng xách mấy quả lựu đạn với những cuộn dây kẽm nhỏ, kim găm (loại nhỏ nhưng có độ bền chắc để Việt cộng khó phát hiện). Anh đi ra gần chỗ Cộng quân trú tìm một vị trí thuận lợi, gài được 2 trái trong tầm quan sát được của Binh nhất Tân. Anh tiến qua một vị trí khác, trong lúc đang gài quả thứ 3 thì bỗng từ trong bụi lao ra 2 tên Việt cộng, chúng ôm chặt lấy Hoàng đồng thời giữ quả lựu đạn đang ở trên tay Hoàng . Binh nhất Tân trông thấy định giương súng phơ cả 3, nhưng lại phải hạ xuống vì sợ làm chết bạn mình. Anh báo động cho các bạn tìm cách cứu Hoàng. Trong lúc đó Hoàng bị 2 tên kè bên hông đẩy anh đi về vị trí của chúng, anh vờ như chịu đi nhưng cố tạt lại gần sợi dây kẽm mà anh đã gài lựu đạn. Nhìn thấy sợi dây nằm trong tầm chân, anh chịu 2 cánh tay lên vai 2 tên Việt cộng rồi tung người lên đá vào sợi dây kẽm. Đùng một tiếng, cả 3 đều ngã xuống. Trung đội liền rãi đạn, và cối 6O ly về hướng đó, anh em Cọp biển xung phong lên thì thấy Hoàng bị thương nặng. Anh chỉ còn thoi thóp thở nhưng vẫn cố hỏi:

– Hai con chuột đó chết chưa? tao cưa với tụi nó chứ đâu để nó bắt.

Mắt anh từ từ nhắm lại sau khi nói thêm.

– Tao mệt và khát nước quá.

Nam nhìn bạn rơi nước mắt và nói:

– Chúc mày yên nghỉ ở thế giới không có chiến tranh.

Cuộc chiến cứ thế mà tiếp diễn, ngày nào cũng có chết, có bị thương, rồi cũng có chiến lợi phẩm mang về. Đến ngày thứ 25 thì lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được kéo lên cột cờ ở thành nội, các mục tiêu đã được thanh toán. Hai mươi lăm ngày các chiến sĩ Cọp biển chỉ biết có súng đạn, gạo sấy, thịt hộp. Phân nửa giai đoạn đầu, anh em không dùng động từ tắm, vì 2 lẽ: hơi sợ lạnh và ngại khi phải mặc cả áo giáp lẫn nón sắt để tắm. Nói thế chứ không phải ở dơ đâu, chỉ giặt khăn lau mình thôi.

Sau 25 ngày phải đối đầu với Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến, cộng quân một phần chết, bị thương, đám tàn quân còn lại chạy về hướng Kim Long. Nhưng Chiến đoàn không tha, làm thêm một cuộc hành quân trực thăng vận, thần tốc nhảy lên đầu địch ở Tây Bắc Huế với hy vọng giải cứu được một số quân cán chính của ta bị bắt đem đi. Nhưng không còn kịp nữa, chúng đã thủ tiêu và chôn tập thể mà mãi sau này mới phát giác ra. ôi ! đó là bạo lực cách mạng của Cộng sản Việt Nam.

Sau hơn một tháng chiếm đóng, bọn Việt cộng đã bị Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến và các đơn vị bạn đẩy lui vào rừng. Tôi không ghi lại con số Việt cộng bị hạ, số vũ khí bị tịch thu vì sợ không được chính xác. Nhưng có một sự thật hùng hồn nhất là sự xuất đầu lộ diện của bọn du kích địa phương, bọn nằm vùng ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản, sau một thời gian ngắn múa may quay cuồng đã phải cuốn gói chạy theo Cộng sản vào rừng, để lại cho quân dân miền Nam một cố đô đổ nát tang thương. Ôi giải phóng cái kiểu gì mà “phỏng giái” quá !

Sau khi giải tỏa được cố đô Huế, Đại tướng Cao Văn Viên đã bay ra thăm Chiến đoàn. Ông thăm hỏi, khích lệ binh sĩ và chỉ thị cho vị Chiến đoàn trưởng giải quyết cho số anh em ở các tỉnh gần đây được về thăm và biết tin tức gia đình. Lúc tôi ra trình diện và bắt tay Đại tướng, nghe tôi nói giọng Quảng Nam ông hỏi:

– Cậu ở đâu, đã biết tin tức gia đình chưa?.

Với chiến tích lẫy lừng này ông đã chỉ thị Tướng Trưởng xét ân thưởng cho anh em. Sau đó công điện của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 chấp thuận trên nguyên tắc là cho thăng cấp đặc cách mặt trận những quân nhân đã tham chiến mà cấp bậc đang mang đủ 6 tháng thâm niên. Ban 1 Chiến đoàn lập hồ sơ gửi lên Bộ Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến thì bị Đại tá Lân Tham Mưu trưởng Lữ đoàn bác hết, chỉ có vị Chiến đoàn trưởng là được mang Trung tá thôi. Riêng tôi được cái phép về Hội An thăm gia đình.

Hai mươi năm sau trận Mậu Thân, trong một trại tù cải tạo vào dịp Tết, nhân lúc trà dư tửu hậu (rượu đế nấu bằng củ khoai mì) một anh bạn nhìn thấy vết thẹo trên tay tên cán bộ Việt cộng bèn khơi chuyện hỏi:

– Chắc khi xưa anh Tư chiến đấu tốt lắm hay sao mà bị thương nhiều vậy?.

Như trúng huyệt, tên cán bộ người Bình Định thao thao bất tuyệt kể về quá khứ chiến đấu của y:

– Số của tau sao gặp toàn lính thủy đánh bộ không à ! Vết thương này bị tụi nó đánh ở Tam quan nề. Vết này bị tụi nó bắn ở Miếu Ông. Lần này tưởng chết rồi, tau làm cần vụ cho Bí thư tỉnh đi điều nghiên để chuẩn bị cho Tổng công kích Mậu Thân. Đợi chúng nó vừa càn qua tụi này mới đi, ai dè nó quay trở lại, tau phải bắn cố mạng cầm chưn cho mấy ổng chạy. Tau bị thương phải bỏ cây súng Mỹ báng ngắn lại, uổng ghê ! Cũng vì trận này (hay nhờ?) mà tau không dự Tổng công kích được vì phải nằm trạm xá…

Cuộc chiến chấm dứt đã 21 năm, trong tức tưởi của bao người lính Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà ít có người Mỹ biết đến một cách trung thực vì số phóng viên nhà báo cũng như giới truyền thông Mỹ lúc ấy có phần thành kiến và nặng về kinh doanh, khoái những tin tức, hình ảnh giật gân để khuynh đảo chính trường Mỹ bằng cách tiếp tay với bọn phản chiến, đưa lên báo chí, Tivi một vài hình ảnh thê lương của cuộc chiến để làm nản lòng dân Mỹ. Và làm lu mờ sự chiến đấu anh dũng của người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Thử hỏi người bạn Mỹ, nếu quân ta không can đảm, không anh hùng thì làm sao lấy lại cố đô Huế, Kon Tum, An Lộc, Cổ thành Quảng Trị… Không can đảm, không anh hùng làm sao có bao vị Tướng, Tá đã tuẩn tiết, chưa kể hàng trăm hàng ngàn chiến sĩ vô danh đã sống chết với quân thù vào lúc có lịnh đầu hàng ?

MX Đỗ Phú Ngọc

 http://tqlcvn.org/chiensu/cs-cda-tran-mauthan.htm

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s