QLVNCH: Chuyện Tù Cải Tạo: MỘT CHUYẾN VƯỢT TRẠI :CON ĐƯỜNG VÔ ĐỊNH – MẶC NHÂN THẾ

c43d8-ce1baa3ite1baa1o

https://www.facebook.com/son.cao.10/posts/826501094100181

Son Cao

Cựu Đại Uý ĐĐT/ĐĐ4/TĐ274 ĐP/Bình Thuận
Con đường đi tù Cải tạo của QDCC miền Nam là một con đường dài lê thê nhục nhã, đau khổ, ly tán, tử sinh . Người tù trở về sau 3 năm, 5 năm, 10 năm hay hơn thế, ai cũng cảm nhận mình, gia đình và người thân đã thật sự mất mát .

Một sự mất mát thật đau đớn, tủi hận mà cuộc đời còn lại nầy không thể nào hàng gắn được . Họ về lại với xã hội bên ngoài như thấy cả Thế giới đã thật sự đổi thay . Như một giấc mơ dài với nhiều mộng dữ mà khi tỉnh giấc, đã thấy mình thật sự mất hết . Bao vạn tù nhân Chế độ cũ là chừng ấy nhân chứng sống kể tội ác Cộng sản VN . Những người đã qua bên này bờ Ðại dương hoặc còn ở lại trên Quê hương đã viết lên rất nhiều về những chốn lao tù của Cộng sản dưới bịp danh là “Trại Cải Tạo “ . Mỗi nơi mỗi khác, mỗi địa phương hùng cứ theo một luật lệ, theo một “Chế độ” riêng . Nhưng tựu trung chỉ có một “ chính sách “ là gột rửa tư tưởng “phản động” để khổ sai, đầy ải, trả thù tù nhân . Ðiểm đặc biệt nhất, đối với tù chính trị, tù ý thức hệ (chế độ cũ ) đã đi Cải tạo, ta còn gọi là “ Người tù không án “ . Ðã không xét xử, không án tích, có nghĩa thật giản dị là không biết ngày về . Những ngày mai mịt mùng vô định lúc nào cũng ám ảnh, đè nặng lên tâm tư người tù cải tạo .
Con đường chúng tôi đi ngày nọ cũng thế . Chúng tôi thật sự hụt hẩng trong những ngày tháng đầu của một người mới bước chân đi tù . Họ đưa chúng tôi vào vùng rừng núi thâm u, lam sơn chướng khí và cũng là hang ổ của muỗi sốt rét rừng có tên là Kà Tót . Hơn cả ngàn tù, hàng binh, đa số là những Sĩ quan của Bình Thuận, chỉ sống vào một nguồn nước chính là con suối chảy về từ thượng nguồn của hướng Lâm Ðồng và các vùng Cao nguyên xa xôi . Con suối trong vắt và lạnh này cùng khí trời, cây rừng quanh năm che phủ là cội nguồn của mọi bệnh tật, đặc biệt là truyền bệnh sốt rét rừng, kiết lỵ, tiêu chảy . Những chứng bệnh đã giết chết nhiều Sĩ quan đang bị đầy ải . Khi chúng tôi vào Trại thì đã có nhiều anh en ngã bệnh nằm liệt giường . Giường đây là những chiếc phản tre ọp ẹp cất dài từng dãy như Lán trại, không vách, mùng mền thì chỉ do tù nhân mang theo . Hầu như họ chẳng cấp gì cho tù nhân những thứ cần thiết tối thiểu cho một người tù . Hàng ngày chỉ có hai bữa ăn, mỗi người hơn một chén cơm lùa với canh rau rừng nêm muối . Buổi chiều mới đến, lán trại vẫn chưa có, anh em chúng tôi mỗi người một cây tre kê cao, dựa vai vào nhau để ngủ cho khỏi té . Vậy mà mọi người vẫn ngủ được tới sáng, nghĩ thật lạ kỳ . Trong cuộc sống quá tối tăm như thân phận mình, anh em ai cũng cố gắng chịu đựng .
Những năm tháng dài tù tội, người Lính VNCH đã chịu đựng mọi sự đói khát, khổ đau, nhục hình với thân xác và tư tưởng . Những sự chịu đựng trên ý nghĩ của mọi người . Những ngày nối tiếp, anh em chúng tôi phải đi vào rừng kiếm vật liệu, một số lo dựng lán trại, một số phải lo cho anh em bất hạnh đã qua đời . Con đường đi cuối cùng của bạn mình chỉ có tấm Poncho liệm thân xác và 7 thanh tre cùng với dây rừng để cột cuốn lại . Một cây tre xỏ ngang, hai người bạn khiêng đi lắc lẻo, gập ghềnh đường núi
… Rừng Kà Tót lúc nào cũng u ám một màu xám xịt, những chiếc lá úa nhẹ rơi theo từng cơn gió, như vẳng lên một điệu chiêu hồn cho người Lính bạc phận . Các anh đã ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, chỉ mới hơn 30 và tuổi Lính chưa tròn . Theo sau năm bảy chiến hữu cuối đầu lặng lẽ bước đưa tiễn người bạn bất hạnh của mình . Nghĩa trang chỉ là một triền núi, dốc đá vô danh hay là một mảnh rừng lặng thầm không xa lắm nơi chúng tôi đang ở . Bạn hãy yên nghỉ nơi này . Tiễn bạn đi không có Mộ chí, Lễ nghi Quân cách, cũng chẳng có Lá Quốc kỳ màu vàng thiêng liêng để phủ lên nắm mồ cho một chiến hữu vừa nằm xuống . Chẳng có vợ con, người thân để chít vành khăn tang với những tiếng khóc cuối cùng cho bạn . Rồi cũng không có được bát cơm đầy với ba nén hương cúng bạn một lần đi về với lòng đất … Chỉ có chúng tôi, đứng nghiêm chào bạn với những tiếng thì thầm vĩnh biệt .. Anh hãy hiểu cho chúng tôi – những chiến hữu chỉ còn chút tình này . Ðời người lính tù mạt vận, sau cùng là thế đó . Một cõi đi về thật sự không đúng nghĩa, không đúng Danh dự và Ân sủng cho những người đã dành trọn đời trai cho Tổ quốc . Trên khắp đất nước này, bao ngàn chiến hữu đã đau đớn, tủi nhục và cô quạnh nằm xuống trong lao tù CS, cũng chỉ thế thôi ..
Anh về trong cõi vô minh đó
Áo trận, giày sô súng gãy ngang
Chiến trường chưa trọn đời trai đó
Giờ vương tù ngục bỏ thân tàn ..
“..Cái tức tưởi và đau đớn nhất của QLVNCH nói chung và Quân Dân Bình Thuận nói riêng, là họ không đánh được trận đánh cuối cùng với giặc Bắc mà phải buông súng qua lệnh đầu hàng nhục nhã của cá nhân TT hai ngày Dương Văn Minh và bè nhóm . Ðau đớn hơn nữa là họ không chết tại những chiến trường kinh khiếp nhất, vào Tết Mậu Thân 1968, tại Campuchia 1970, Hạ Lào 1971, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và những ngày tháng 4/1975 . Mà bị giặc phỉnh gạt lọt vào rọ, để chịu chết tức tưởi oan khiên trong tù ngục vì sự trả thù đê tiện và dã man của rợ Hồ .. ( Ðặc san Ân tình 3 – Mường Giang ) Xin được thắp một nén hương lòng với tất cả sự ngưỡng kính và trân trọng của chúng tôi : Những người Lính già Bình Thuận, may mắn còn sống sót . Thành kính Vinh Danh tất cả những nam nữ Anh hùng của vùng Biển mặn, đã hy sinh trong cuộc chiến, tại sa trường cũng như khắp các Trại tù man rợ của Cộng sản VN sau ngày 1-5-1975 . (Thân phận Người Lính VNCH – Mường Giang ) “.
Ở trại Kà Tót được một tháng, sau đó họ chuyển chúng tôi về Tổng Trại 8 – Sông Mao . Nơi đây họ tập trung nhiều Sĩ quan từ các Tỉnh vùng cao như Lâm Ðồng, Ðà Lạt, Tuyên Ðức, Ninh Thuận, Bình Tuy .. Từ Kà Tót về Sông Mao hay những trại sau này, chỉ là hình thức chuyển đổi Trại tù, phân loại tù nhân, thân phận người Lính tù cũng chẳng biến chuyển đổi thay, nghĩa là vẫn chịu sự trả thù sắt máu, đày ải khổ sai của CSVN . Cơ sở Trại tù nầy trước là doanh trại cũ của Trung đoàn 44/SÐ23/BB/VNCH . Bọn họ chia Trại tù thành nhiều khu riêng biệt . Cấp bậc khác nhau cũng ở khu riêng . Sông Mao ngày trước cũng là nơi có hậu cứ của SÐ5BB/VNCH là Thị Trấn đông vui của BBT, cạnh QL1 đi Nha Trang .
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Ðốt tiền mua vội một ngày vui – (Thơ Nguyễn Bắc Sơn )
Cũng giống như giũa chợ đời – phiên chợ của người tù cải tạo vàng thao lẫn lộn như một bức tranh tối sáng mập mờ không lằn biên cùng những bẫy ngầm giăng mắt ghê ghớm của CS, thật khó, quá khó cho sự nhận định của mình . Vậy mà nhiều lần chúng tôi đã lầm người, ra tới ngoài nhà tù lớn của Quê hương hoặc qua tới bên này bờ Ðại dương chúng tôi mới biết mặt thật của vài người bạn tù của mình . Theo với hoàn cảnh, nhất là cuộc “đổi đời “ kinh khiếp sau tháng tư đen 75 hoặc là đang ở trên “ thiên đàng của một nước tự do “, một số người có biến chuyển tánh tình, lòng dạ có khác với ngày trước .. Tôi vẫn còn nhớ có một anh bạn tù đồng cấp, chung tổ, chung khối ở Trại tù Sông Mao, hình như trước 75 anh này là Xã trưởng của một Xã ở BBT . Ðến giờ “liên hệ bản thân” kể lại “tội ác” của mình đối với “cách mạng và nhân dân” . Anh ấy đứng lên khóc ròng, khóc lâu ra phết ra chìu thật xúc động, nói mình “đã đắc tội với Bác và Ðảng, với nhân dân giờ thật sự ăn năn, xin CM khoan hồng” Chúng tôi nghĩ anh ấy cảm xúc thật, chứ không phải đang diễn kịch … Một SQ của QL/VNCH đã từng quỳ dưới ngọn đuốc hồng của Vũ Ðình Trường Diên Hồng (Thủ Ðức) tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, mang trên đầu chiếc mũ với dòng chữ “Trách Nhiệm, Danh Dự, Tổ Quốc”, giờ sao anh ấy lại làm thế . Cho dù anh ấy muốn có được ngày về sớm hơn, chúng tôi nghĩ hành động này chẳng có tác dụng mà ngược lại chỉ tạo cho kẻ thù đánh giá thêm về tư cách của SQ chế độ cũ . Gần 3 năm chúng tôi phải sống gần anh ấy, vẫn theo sát tình hình anh ấy, để xem có phải anh ấy muốn “lấy vải thưa để che mắt Thánh” không, có manh nha chút ý tưởng gì muốn đào thoát không . Nhiều lần chúng tôi thường châm chọc, mỉa mai nhưng anh ấy vẫn nghiêm túc “một Dạ hai thưa, Thưa anh Cán bộ .. một Bác hai Bác – con đường Bác đi không phải là con đường bi đát mà là đúng, đường lối CM là chân chính . Phải chi “Bác” còn sống mình đâu phải học tập thế nầy …” Ôi trời, chúng tôi đã thật sự thất vọng về một chiến hữu – về một người bạn tù đồng cảnh ngộ nhưng đã không chung lòng .
Những ngày dài ở trại tù Sông Mao vẫn không cuốn trôi ký ức về những ngày tháng cũ . Chúng tôi vẫn sống miên man với hào khí về một cuộc chiến chưa tàn, vẫn nghĩ mình trên đường hành quân lùng giặc … Vẫn mơ thấy mình cũng còn với áo trận, giày sô, nón sắt..khi đi khiêng vĩ sắt từ Phi trường Sông Mao về làm Hội trường để “học” “có học mới có về” .
Vài anh bạn ngây thơ kháo nhau . Hầu như một số lớn anh em vẫn “ước mơ” được sớm học tập, nghe đâu tới 10 bài, mỗi bài phải thảo luận cả tuần . Anh em nghĩ, có học con đường về mới le lói . Chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm vẫn luôn là vị cứu tinh, là niềm hy vọng còn sống trong cõi chết . . Nắm bắt được con bài tẩy của người tù, bon Cán bộ thỉnh thoảng tung những tin “thuận lợi” để làm động cơ vắt xác người tù trong lao động .
Một thời gian sau, bọn Chỉ Huy Trại, cho chúng tôi được thăm nuôi . Trước đó thì bọn họ cho tù nhân được viết thư về thăm nhà và dặn dò những quy định về thăm nuôi . Thư phải để ngỏ, không được dán lại để họ còn kiểm duyệt . Cán bộ dạy phải viết thư động viên gia đình chấp hành tốt luật pháp XHCN, sốt sắng tham gia đi “vùng Kinh Tế Mới” để gia tăng sản xuất, thân nhân Cải tạo mới chóng về ? và đặc biệt phải “nói tốt” về đời sống trong nầy … Trong ngày thăm nuôi, chúng tôi thấy nước mắt nhiều hơn nụ cười, những khuôn mặt u sầu buồn tủi nhiều hơn những ánh mắt cười vui . Cán bộ VC lảng vảng quanh khu vực thăm nuôi của tù Cải tạo với đôi mắt nghiêm nghị dò xét nghe ngóng những câu chuyện của tù nhân và gia đình như một hình thức do thám, kẻ dữ lúc nào cũng lo xa .
Thậm chí họ còn mị dân đến mức trơ trẻn ngay những ngày thăm nuôi, những xe đổ những đống cá tươi như cá nục, cá bạc má của vùng biển mặn ngay giũa cổng trại tù cho thân nhân người tù nhìn thấy . Một tên Cán bộ răng hô mã tấu với chiếc nón cối đội lệch vênh vang giọng đặc sệt miền Bắc nói với số thân nhân đang thăm tù cải tạo : “Ðấy, bà con thấy đó, chúng tôi nuôi họ đầy đủ với cá thịt tươi, ăn uống sung túc thế ấy .. Sở dĩ họ ốm yếu xanh zờn thế kia, tại vì họ mãi no học tập để chóng về, vả lại họ còn nhớ nhung các người nữa chứ ly…” Ánh mắt những người tù mang vẻ căm hận cúi nhìn xuống đất .. Họ đầy ải , bỏ đói người tù đến trơ xương, xanh xao vàng vỏ, lại phải làm lao động cật lực . Cơm đong lường mỗi chén buổi trưa, hột nào rơi vãi ra ngoài thì cũng nhìn hau háu, tiếc rẻ . Họ đã biến người tù vì miếng ăn đã đánh đổi nhân cách đến nỗi vì đói thèm quá mà ăn cắp của nhau .
Ngày Lễ, Tết làm một con bò “bồi dưỡng” cho cả Trại với hơn ngàn người, mỗi người được vài miếng thịt nhấm nháp . Da bò thì mang đi chôn, nửa đêm vài ba anh em đào lên thui nướng rồi làm món ăn cho có chất thịt . Vậy mà họ không biết ngượng mồm, lại còn khoát lác, giả trá, phủ sáng cho chế độ . Những thân nhân người tù quá biết rõ cái trò ngụy tạo, giả nhân giả nghĩa của CS, những đôi mắt ướm lệ, vô cảm, lặng lờ quay nhìn nơi khác . Những trò hề cải lương đến nực cười như thế vậy mà họ vẫn đạo diễn nên tuồng . Trường thiên bi hài kịch trên sân khấu của bọn cầm quyền Bắc Bộ Phủ là những bài học “sáng mắt, sáng lòng” vô giá cho Dân tộc VN .
Ngày tháng cứ đòng đưa theo sự chờ đợi mỏi mòn của người tù cải tạo, chẳng ai biết được ngày về của mình . Tin tức từ thế giới bên ngoài thỉnh thoảng được “chui” và trại, vui có, buồn có, không thể tưởng tượng vẫn có …
Ban ngày đi lao động nhọc mệt, tối đến họp hành ở Tổ, Khối . Bọn họ bắt phải tập hát những bài ca CS mang âm hưởng cuồng nộ, căm thù, sắt máu luôn ca tụng “Bác” và”Ðảng” . Anh em vừa vỗ tay vừa hát nghêu ngao mà tâm tư mỗi người mỗi để ở phương nào . Việc gì điều gì cũng phải hòa mình với tập thể, không ai được quyền đứng riêng rẽ một mình . Chủ nghĩa cá nhân không có mặt ở đây . Mình phải vì mọi người . Cán bộ quản giáo phán thế với giọng sắc lẻm . Hợp hành ở Tổ để bàn thảo về bài học chúng tôi cũng “hăng say” thảo luận phát biểu “ca tụng” chế độ . Có người thật lòng, cũng có người cố đóng kịch để che dấu những bất mãn hoặc mưu tính chuyện về sau . Rồi đến những ngày Lễ Tết lại thi đua giữa các Khối viết báo tường “Mừng Ðảng, Mừng Xuân” “Ðảng “ phải đứng trước Tạo hóa . “Ðảng thay cho Trời, “Bác” thế cho Phật . Thảo nào tượng Bác cũng được những kẻ “bưng bô” lăn vô Chùa ngồi ngang hàng với Phật với Bồ Tát . Khi Thiện nam Tín nữ đi Lễ Chùa, họ niệm hương, lạy Phật và cầu nguyện, không thấy ai “dám” nhìn ngay Bác mà vái lạy . Chắc họ cũng sợ, nếu niệm hương cho Bác, Bác “độ” thật cho thì đời thêm khốn nạn . CSVN cũng đã từng cao ngạo “Ðảng là siêu việt” (hay siêu bip) chỉ có Ðảng mới dẫn dắt Dân tộc đến Quang vinh (hay xuống vũng sình ? ) “Ðảng là đỉnh cao trí tuệ của loài người” . Eo ôi, cả loài người trên quả đất này nếu không có Ðảng CSVN chắc giờ này vẫn bưng cái bát bằng đất sét để ăn cơm, còn chạy xe đạp thồ 3-4 cái lu trên đường phố ? Ðảng ta kinh thật . Anh thợ nào “bưng bô” cho “Bác và Ðảng” vẽ nên câu này thật ”chất lượng” thật trúng ý Ðảng .
Trong nhóm anh em trong Tổ, có những mẫu chuyện vui vui về mỗi người, giờ Nghĩ như kỷ niệm trong tù . Như BS. C. Dáng cao lều khều, hay thường nằm sấp “đánh rấm” mỗi lần 5-7 phát, ai cũng phát cười . Anh Ð/úy L, người gốc Quảng, anh em hay gọi là anh “Ba ngưu” lúc nào cũng cười cười, bình bình an an, chẳng lúc nào mích lòng anh em . Anh ấy lúc nào cũng thường trêu chọc tôi :”Trồng cây trở gốc lên trời, Cô chị qua đời thì tới cô em “
Ðại úy T . có tật ngủ ngáy như sấm sét, kể chuyên tiếu lâm làm anh em cười bò lăn, nhưng ca thì thật hay . Anh là ca sĩ của khối PT . Anh lại là người có lòng, gan dạ tinh thần chống Cộng cao, tin cậy để kết bạn vượt thoát . Nhưng rất tiếc anh có dáng mập, thấp người hơi chậm chạp, không nhanh nhẹn trên đường thoát tù . Do vậy thời gian sau biết chúng tôi sắp sửa “lên đường” anh có ngỏ ý với tôi được đi cùng . Tôi thật ứa nước mắt với người anh thân thiết nầy, nhưng biết làm sao hơn . Vì mạng sống của cả Nhóm con đường sanh tử phải đi, cũng không thể bỏ anh lại dọc đường, thà rằng cùng chết chung với một Lý tưởng . Do vậy tôi phải lần lựa với anh là chưa đến lúc . Về sau này một thời gian cũng lâu, sau khi chúng tôi đã vượt thoát, tôi có dò hỏi tin tức về anh cũng như về bè bạn còn lại trong tù . Anh có đào thoát cùng với vài người bạn và có lấy được súng địch, nhưng chuyến đi bị thất bại nặng nề . Tất cả đều bị bắt lại và bị bọn CB Trại tra tấn thật dã man, biệt giam cấm cố . Về sau nầy Anh cũng được thả về, anh cùng gia đình được định cư ở Hoa Kỳ qua chương trình HO thật muộn màng .
Sang năm 1976, lương thực dự trữ cho tù càng vơi dần ( hay bọn họ có ý đồ gì khác) nên bọn Trại chỉ cho tù nhân 1 bữa cơm, bữa còn lại là bột mì luộc thành miếng tròn . Thay vì cho ăn bo bo họ xay thành bột mì . Ða số anh em không muốn ăn ngay bữa vì sợ tối sẽ đói, không ngủ được, nên để dành đến tối . Anh em phải cố gắng trồng thêm rau xanh, nhất là rau muống để “cải thiện” cho bữa ăn được no hơn . Do vậy phải thay nhau thức canh lấy nước tưới rau, nước quá yếu có lúc phải chờ tới 1-2 giờ sáng .
Gần cuối năm, bọn họ lại phân loại và chuyển chúng tôi về Trại Tà Dôn, về vùng đất mới chưa ai đặt chân khai phá để trồng tỉa, họ đưa bọn tù chúng tôi vào như những người lính tiên phong đi trước gở mìn . Họ bảo anh em phải làm cật lực để vụ mùa tới có lúa mà ăn . Bây giờ họ lại bắt tù làm để tự nuôi sống mình . Vùng đất mới nầy có quá nhiều con Ðỉa, bước chân xuống nước là kể như tự nguyện hiến chút màu . Cả ngày quần quật, có lúc phải thế Trâu kéo cày, thử hỏi vừa đổ mồ hôi vừa mất máu với cả một bầy đỉa nhung nhúc bám đầy chân tay . Ðến nỗi chiều đi về tắm, đỉa vẫn còn bâu trên người .
Khoảng gần giữa năm 1977, bọn họ lại chuyển chúng tôi về Trại Giếng Triềng (Hàm Trí) nằm phía trong Ấp Nora về phía Tây QL1 . Cuộc sống mỗi ngày một thêm bi quan, họ chuyển trại thường xuyên, hắt tung người tù lên và đá xuống như trái banh lăn trên sân cỏ .Ðã hai năm rồi, con đường về họ chỉ nhỏ giọt cho những cấp thấp mà họ cho rằng ít “tội ác”, “cải tạo tốt” hoặc thành phần có thân nhân “cách mạng” . Nào ai biết thước đo nào, đó chỉ là một cách nói trong muôn trùng sự lừa bịp dối trá của người CS . Thật ra, chúng tôi ai cũng hiểu, mỗi người ai cũng đã có một bản án định sẵn .
Trại tù Hàm Trí, họ bố trí cẩn mật với nhiều lớp kẽm gai kiên cố, đây là nơi giam giừ từ cấp Ðại úy trở lên, thành phần mà bọn chúng cho là ác ôn có nợ máu nhiều với “CM” và nhân dân nên chúng canh giữ với nhiều vọng gác với bộ đội trang bị đầy đủ . Họ làm một cổng chính, anh em đi làm về thì họ khóa cổng như một bức màn sắt thả xuống . Ban Chỉ Huy Trại ở doanh trại cách xa với những khu của chúng tôi . Về Trại này, một thời gian ngắn sau một Toán đầu tiên đã vượt Trại mang đến sự vui mừng và hả hê cho mọi người . Một luồng sinh khí mới đã bắt đầu . Toán này gồm Ð/úy NVB . ÐP . TH.N và một anh người Thượng (Thông Minh Cê ) Những người anh em mà chúng tôi biết rất khẳng khái và nhiệt huyết chống Cộng . Các anh ấy đã thoát khỏi bóng đêm nghiệt ngã của Trại tù CS, thà chấp nhận cái chết trong Tự do, bằng mọi giá phải thoát khỏi gông cùm CS . Các anh đã can đảm ra đi dưới nòng súng kẻ địch, chúng tôi đã giữ mãi trong lòng niềm cảm kích và thán phục . Cầu nguyện ơn trên cho các anh được bình an, sống đời Tự do, tròn vẹn mọi ước nguyện . Sau lần ấy, mà Cộng Sản gọi là “sự cố phản động”, cả Trại bị lên lớp liên miên, chúng thường xuyên kiểm tra quần áo, lương thực và những “lương thực dự trữ” để khám phá ciệc trốn Trại . Thêm một thời gian nữa, lại thêm một hai anh em thoát khỏi Trại . Trong số này có Ð/úy H (ND) lần này hình như có sự tiếp tay của thân nhân, chuẩn bị khá chu đáo, ra khỏi vòng rào thì có xe máy đưa đi luôn . Về sau nghe gia đình anh ấy lên thăm có nói là anh ấy đã đến Mỹ . Ở Trại tù, một tý tin đồn lành dữ gì, cũng được loan truyền khá nhanh . Tin gì vui thì mọi người hòa chung niềm vui chung và ngược lại . Trong suốt thời gian ở Trại chúng tôi luôn nghe ngóng dò la từ thân nhân về số phận Toán vượt Trại đầu tiên anh NVB .
Mọi người thân cũng như anh em trong nầy chẳng ai biết tin tức gì về Toán anh ấy . Mãi tới bây giờ đã hơn 30 năm qua, tình cờ đọc qua cuốn Ðặc san Ân tình 3 do Mường Giang chủ Biên và qua bài viết của anh, tôi mới biết Toán của Anh NVB đã thật sự hy sinh, có thể trong những thời gian đầu vượt thoát . Một niềm đau chung cho người Lính VNCH . Sách sử sẽ ghi công các Anh, những người Lính bất khuất và dũng lược, quyết không khuất phục trước bạo quyền CSBV . Xin góp lời cầu nguyện muộn màng cho những ban thân cùng chí hướng đã lưu danh với màu cờ, sắc áo . Xin chia xẻ niềm đau vô bờ cùng người thân và gia đình những chiến hữu dũng liệt .
Từ khi về Trại tù Sông Mao chúng tôi đã nuôi dưỡng ý chí vượt thoát . Ý định nhen nhúm ngày một lớn dần, chúng tôi cố tìm sự liên kết cùng vài anh em đồng chí hướng . Ðiều này thật không dễ dàng như chúng tôi đã phân giải ở phần trên của bài viết .Con đường ra đi là một con đường dài gần như vô định, chung quanh mình là biết bao nguy hiểm, gian nan, thử thách khôn lường, cái chết cận kề gang tấc . Nói như Duy tâm là hên xui may rủi . Cái rủi ro và thất bại sẽ lên đến hơn 8 phần 10 vì mình thiếu quá nhiều yếu tố thuận lợi như thời cơ, lương thực, địa hình, thuốc men, quần áo, vũ khí tự vệbạc, giấy tờ v. v.. Và một điều khá quan trọng là phải thông hiểu dân tình bên ngoài chung quanh Trại cùng dân cư địa phương trên đường đi …
Sau cùng chúng tôi cũng liên kết được vài ba anh em hứa sẽ hợp tác khi thời cơ đến . Lật bật tháng ngày lại qua, thêm một mùa xuân nữa lại đến, cái Tết năm 1978 đã đến với những người Lính cùng thân phận tù đầy . Chúng tôi chợt nghĩ, có lẽ đây là cái Tết cuối cùng trong Trại tù nầy . Rồi những mùa Xuân tới sẽ như thế nào, có thể mình sẽ không còn trên cõi đời này, hoặc giả mình sẽ lại vào tù ngục khác của CS . Những hình ảnh của ngày mai sẽ bồng bềnh và chợt mất . Chúng tôi đã quyết định, chẳng cần nghĩ về ngày mai bấp bênh cho nhụt tâm trí . Canh bạc phé đã xong lá thứ năm, gần như đã đặt trọn vốn còn lại là sinh mạng của mình, chỉ cần lật con bài tẩy là biết kết quả ..
MỘT CHUYẾN VƯỢT THOÁT – CON ÐƯỜNG VÔ ÐỊNH
Một ngày vào khoảng trung tuần tháng 3/78, bọn Trại cắt cử một Toán khoảng 20 người đi lấy tre trong 4 ngày ở một cánh rừng cách Trại khoảng dưới 10km . Trong Toán này có tôi (ĐU Th) nhưng lại lạc bầy với vài anh em đã liên kết . Vùng này cách xóm chừng chục nhà dân ở rải rác khoảng hơn cây số . Ngày đầu đi lấy tre, tôi đã gặp lại người HSQ cũ, trước ở trong Ban Tiếp Liệu của Ðơn vị . Anh ở xóm nhà dân gần vị trí chúng tôi . Anh em gặp nhau thật mừng, tôi hẹn gặp anh ở rừng tre, nơi không có bộ đội canh gác . Tôi yêu cầu anh ấy giúp cho ít lương thực vì cuộc sống ở đây thiếu thốn quá . Anh ấy đồng ý và chỉ nhà, hẹn đêm sau tôi sẽ ra lấy . Ðêm ấy tôi suy nghĩ miên man và cho rằng đây là thời cơ tốt nhất để vượt thoát . Vì rằng chúng tôi đã ở ngoài sự canh phòng nghiêm ngặt trong Trại . Ngày thứ hai tôi đã liên kết được với 3 anh em, Ð/úy M (KQ), V.( VBÐL), NG, ÐÐT (Phan Lý Chàm ) Sau khi nói rõ kế hoạch và quyết định vượt thoát vào đêm mai (18/3/78) khi trăng vừa lên . Khoảng 9 giờ đêm, đêm nay tôi sẽ bò ra Ấp lấy lương thực, cả ba anh em đều đồng ý với tôi . Một chuyến vượt thoát đã được hoạch định . Tôi phải ra Ấp đêm nay để lấy lương thực, một bài toán thật không dễ dàng . Ðêm đầu tiên tôi đã điều nghiên về các Tổ gác của bọn bộ đội . Không biết đêm nay bọn ấy có đổi hướng hay không . Nếu việc làm của tôi bị thất bại, cùng lắm là tôi sẽ khai vì đói quá nên ra xóm xin đồ ăn, tuyệt đối là tôi sẽ không khai về kế hoạch thoát Trại cùng các bạn mình cho dầu có bị tra tấn .Tôi tính như thế, nhưng nếu vậy thì dự tính của mình cùng các bạn sẽ gãy đổ hoàn toàn, sẽ đánh mất đi thời cơ bằng vàng . Một cơ hội thật quý báu đang trong tầm tay, bằng mọi giá chúng tôi phải thực hiện một cuộc vượt thoát trước mũi kẻ thù . Do vậy với mọi nghị lực và ý chí tôi quyết phải chu toàn nhiệm vụ của mình trong đêm nay .
Buổi chiều qua đi chầm chậm thật nặng nề, đêm lãng đãng buông xuống thật mơ hồ, thật yên tĩnh . Sau một ngày lấy tre nhọc mệt, anh em ai cũng ngủ thật sớm . Tiếng chó sủa văng vẳng đâu đây nơi đầu xóm . Tôi không dám chờ trăng non lên vì ánh trăng là người bạn đường không mấy tốt cho công việc của mình . Lần vào đêm tối tôi ra khỏi vị trí của mình, tìm một góc khuất tôi quan sát mọi vật chung quanh . Sau đó tôi lẩn mình theo các lùm cây, nhắm hướng ngọn dèn dầu leo lét nơi căn nhà đầu xóm . Tôi đã tránh được chốt gác của bọn bộ đội, định hướng rõ ràng vị trí cho đường về . Cũng thật may, tôi đã đến đúng nhà người bạn và anh ấy đang ngồi bên ngọn đèn dầu để chờ . Anh em không thể nói chuyện nhiều vì thời gian quá cấp bách, tôi hỏi sơ về địa hình và dân tình, tôi đã có một số yếu tố thật cần thiết . Anh ấy cho tôi một số thực phẩm chỉ đủ dùng 3-4 ngày cho bốn người . Tôi lại biến mình vào đêm tối trước khi trăng non vừa lên . Tôi về lại vị trí của mình thật an toàn và lo chôn giấu số kương thực thật kín đáo .
Ngày hôm sau, vào buổi trưa nghỉ ngơi, bốn anh em chúng tôi lại họp mặt thêm một lần chót để cùng nhau thống nhất ý kiến cho cuộc vượt thoát đêm nay . Cuộc hội ý đã diễn ra thật kín đáo và êm thắmem ai cũng đồng ý với quyết định chung . Buổi chiều đi làm, bọn bộ đội đồng ý cho chúng tôi mua một số khoai mì để luộc thêm “bồi dưỡng” chiều nay . Trong khi ăn uống anh Ð/úy M. Suýt làm tôi muốn đứng tim . Anh ta ăn mặt thật “kẻng”, mang giày làm ra vẻ như sắp đi đâu đấy . Anh Toán trưởng già người Huế nhìn anh ta lom lom ra chiều nghĩ ngợi, vài anh em cũng đưa mắt nhìn anh ta . Tôi thật lúng túng, một trò đùa thật tai hại trong giờ phút nầy, vì chỉ còn vài tiếng đồng hồ phù du nữa, vận mạng chúng tôi sẽ được quyết định trong canh bạc cuối cùng nầy . Trong khoảnh khắc tôi nhanh tay kéo nhẹ anh M và vài người bạn chung đường lấy tiền mang đến anh Toán trưởng nhờ anh ấy nói với Cán bộ mua ít đồ ăn và thuốc hút để dung vì còn một ngày nữa là đã về rồi . Trò đánh trống lảng nầy tương đối kết quả, kéo tầm suy nghĩ của anh Toán trưởng về hướng tin tưởng chúng tôi, bọn nầy đã gởi tiền mua đồ thì có dở trò gì nào . Tôi thật hú vía . Bữa khoai mì luộc chiều nay đã cho chúng tôi có thêm một ngày lương thực đi đường …
Thời gian cứ chầm chậm trôi qua, bóng tối như chùng xuống cái lán trống mà Toán chúng tôi đang nghỉ . Thời gian như nặng nề như thôi thúc, như réo gọi chúng tôi . Ðến giờ G ( khoảng 9 giờ đêm) khi trăng non mới lên, điểm hẹn là một góc con suối khô, cách chổ chúng tôi nằm chừng 50 m . Tôi cố thật bình thản và trầm tĩnh chấp tay cầu nguyện trong đêm :”Kính nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng con sớm thoát khỏi vòng tù ngục CS . Nam Mô Ðại Từ Ðại Bi …” Còn khoảng nửa tiếng nữa là đến giờ ra đi tôi bước đến chỗ anh bạn than Ð/úy PVT để từ giã anh ấy . Chúng tôi đã siết chặt tay nhau .” Tao đi đây, mong cầu cho mày ở lại bình an” Anh cảm động nhìn tôi : “Tao mong mày cũng vậy” ..
Ánh trăng non le lói từ từ lên khỏi đầu ngọn tre . Ðêm thật yên tĩnh nghe rõ những tiếng ngáy đều đều của những anh em trong Toán . Mong cho giấc ngủ các anh thật yên bình, các anh đâu có biết giờ này chúng tôi đang đánh đu với sanh mạng của mình . Ðang trong canh bạc cá cược về số phận con người . Nói thực tế hơn chúng tôi đang đùa với định mệnh ..
Ðã đến giờ quyết định, anh em chúng tôi đã cùng gặp nhau tại điểm hẹn, điều thật mừng là không anh nào đổi ý . May mà điểm hẹn gặp của chúng tôi cách xa Toán Gác của Bộ đội . Chúng tôi chạy men theo con suối khô ngược về hướng Ðông khoảng vài trăm thước sau đó tẻ ngang qua khoảng đồng trống như hình chữ L . Nhắm khoảng cách hơi xa với vị trí anh em đang ở, chúng tôi lại chạy thẳng về hướng Tây, trước sau như hình chữ U . Lúc nầy có nhiều tiếng cho sủa và có vài tiếng sung bắn từ vị trí bọn Bộ đội canh gác toán chúng tôi . Chắc hẳn là bọn chúng đã phát giác việc chúng tôi vượt thoát . Chúng tôi nghe những tiếng chân chạy hơi xa và có thêm vài tiếng súng có thể bọn chúng đang rượt theo chúng tôi, nhưng không định rõ chúng tôi đang chạy về hướng nào …
Chúng tôi cố gắng chạy thục mạng nhưng cố tránh những khoảng trống . Chúng tôi chạy nhanh trong đêm tối theo hướng Tây, anh em trong nhóm ai cũng thấm mệt.nên vừa đi vừa chạy . Khoảng gần 11 giờ đêm chúng tôi gặp những tảng đá lớn, dọc theo là con suối, nghe tiếng nước chảy róc rách . Anh em chúng tôi tìm một chỗ khuất với những lùm cây để ngồi nghỉ . Chúng tôi đã chạy gần 2 tiếng có thể trên dưới 15 cây số cách Toán công tác chúng tôi, như vậy cũng khá xa . Ngồi nghỉ một lúc, chúng tôi nghe như có tiếng thú rừng uống nước theo suối và có ánh đèn rọi gần đâu đây . Thì ra là những người thợ săn đang rình những con thú rừng . Những người thợ săn này có thể là VC hoặc một bè với VC, đằng nào cũng bất lợi cho chúng tôi . Ðiều may mắn là họ không phát giác được chúng tôi . Chúng tôi cùng bấm nhau nhanh chóng thoát ra khỏi vùng nầy . Lẫn vào bong đêm, chúng tôi bẻ lệch về hướng Tây Nam, vùng Tam Giác Sắt và xuôi lần về hướng Nam . Vừa đi vừa chạy, tránh xa những vùng nghi ngờ có dân và những chòi có ánh đèn . Gần như suốt đêm hành trình, chúng tôi muốn thoát càng xa càng tốt vị trí cũ . Trời đã tờ mờ sang, an hem ai cũng mệt đừ . Ðến một điểm cao, rừng cũng hơi thưa, ở đây có thể quan sát mọi hướng . Kiếm một lùm rậm, an hem chia nhau một người gác, số còn lại ngủ để lấy sức và cứ tiếp tục thay thế người gác . Ðến quá xế trưa an hem đều thức, buổi ăn đầu tiên là khoai mì luộc mang theo, nước thì chỉ còn thật mỏng manh . Khổ nỗi ăn khoai mì luộc mằn mặn, cái khát càng đến nhanh hơn . Chúng tôi tiết kiệm nước tối đa, chỉ nhấp cho thấm giọng khi khát . Vào tháng ba này trời khô hạn các con suối nhỏ chúng tôi gặp được trên đường đều khô ráo . Chợt chúng tôi nhìn xuống phía xa bên dưới có hai bong người đang cỡi ngựa mang súng dài lủng lẳng bên mình nhìn dáo dác như tìm kiếm ai đó . Chúng tôi đã chợt hiểu, việc đào thoát của chúng tôi đã được báo động cho các địa phương, hình như là lực lượng Biên phòng VC cỡi ngựa tìm chúng tôi . chúng tôi nằm bất động nhưng vẫn theo dõi hai bong người đằng xa . Ðiều thật may là sau một hồi tìm kiếm, hai người kia cỡi ngựa quay lại không đi thêm nữa . Bóng hai người ấy càng lúc càng xa dần rồi mất hút, chúng tôi vội vã rời chỗ nghỉ, vừa đi nhanh vừa bàn tính . An hem cố đi them vài tiếng nữa, khoảng mười cây số xuôi lần về hướng Tây Nam để tìm nguồn nước . Chiều xuống chậm, khoảng không gian trên đường đi thật vắng vẻ, yên lặng . Thỉnh thoảng vài đàn chim rừng ríu rít như đang réo gọi nhau về tổ .
Qua cánh rừng thưa rồi đến khu rừng dầy và những con suối nhỏ vắt ngang bước chân, vẫn hoàn toàn không có bóng người và chẳng có dấu hiệu gì có nước uống . An hem cùng quyết tâm, không được thất vọng và nản chí . Phải cố tìm ra con đường sống trong những vùng đất chết . Cơn khát khô cháy cả họng an hem chỉ sau một ngày ăn khoai mì luộc mang theo, ai nấy đều thấy váng vất . Ðêm xuống dần, trời thật tối, nhờ những ánh sao đêm chúng tôi vẫn thấy lờ mờ phía trước và mọi vật chung quanh . Ðoạn đường đi qua chúng tôi thỉnh thoảng vẫn thấy những con thú rừng chạy vụt qua như thỏ, chồn, nhím hoặc vài con nai ngơ ngác nhìn chúng tôi rồi vụt chạy đi . Chúng tôi đổi hướng đi, vẫn đi tới trước nhưng bẻ dần xuống hướng Ðông – hướng biển, chúng tôi nghĩ là gần nhà dân sẽ có nước uống . Ði khoảng 2 tiếng chúng tôi thấy những mầu xanh của lá tươi, hình như rẫy, vườn thì phải . Cố nhìn trong khoảng thật xa hình như có mái nhà và bong ngọn đèn thật nhỏ như đầu điếu thuốc . Anh em ai cũng mừng, có dấu hiệu của sự hồi sinh . Như con bệnh sắp chết được vị danh y tận tình cứu chữa, người bệnh được tĩnh táo dần . Nhắm hướng vùng lá xanh như rẫy, chúng tôi thận trọng tiến tới với khoảng cách như đi hành quân, ngại địch bắn tỉa . Chúng tôi âm thầm bò vào khu rẫy để quan sát, không có bóng người . Bò them một lúc nữa thì chúng tôi gặp một ao nước không rộng lắm, trên có cây lá, hình như là rau muống nước . Ao nầy có thể là ao đào chứa nước để làm rẫy, vườn . Không ai bảo ai, cả bốn cái đầu đều chúi xuống dòng nước mát lạnh, tha ho6À uống và tắm thỏa thê . Lúc đi mỗi người đều mang theo đồ đựng nước nên nước được lấy đầy đủ . Cách ao nước không xa, chúng tôi thấy một cái chòi như là nơi nghỉ tạm trong ngày của dân làm rẫy . Chúng tôi cùng nhau dăn dò, tuyệt đối không để lại dấu vết gì ở nơi nầy . Nếu gặp người hiền, nếu họ biết có thể nhắm mắt làm ngơ . Kẻ dữ , họ sẽ phăng ra dấu tích trình báo truy tầm bọn tôi thật nguy hiểm vô cùng . Vào căn chòi, chúng tôi thấy nồi cơm nguội còn lại không nhiều, nồi nhỏ đựng ít cá kho, vài trái dưa leo, vài cũ khoai lang luộc nằm lăn lóc bên cạnh . An hem ai cũng đói quá, cái đói cũng đôi khi đánh mất cái khôn . Nếu chúng tôi ăn hết những thứ nầy thì sáng ra vào rẫy, họ sẽ biết ngay . Ðối với chúng tôi bây giờ những thứ nầy là cao lương mỹ vị, là bát phở tái nạm gầu nóng sốt .
Bất chấp những nguy hiểm tiềm ẩn vì không tránh được cái đói đang thôi thúc, chúng tôi vồ lấy thức ăn, khi đã ăn uống xong, chúng tôi ngụy trang đồ đạc vung vãi như có thú hoang đến ăn và phá phách . Sau khi lấy thêm nước, một số rau chúng tôi vội vã băng mình trong đêm tối Chúng tôi lại đổi hướng lên về phía trên của những cánh rừng . Miệt mài vừa đi vừa chạy trong đêm cố tránh xa vùng rẫy vừa rồi, mặc dù nơi ấy đã cứu chúng tôi .. Trời gần tờ mờ sáng, an hem ai nấy đều mệt nhoài, chúng tôi kiếm nơi kín đáo ngủ nghỉ, đặt người gác cảnh giác . Như vậy sau một đêm một ngày ra đi, chúng tôi đi cũng xa lắm, càng đi càng hướng về phía Ðông Nam (vùng Bình Tuy – Rừng Lá – Long Khánh) . khoảng cách chúng tôi đi, có thể song song với QL1 vào Sài Gòn cách chừng 15 đến 20 cây số .
Những ngày còn trong Trại tù an hem thường bàn tán những tin tức về những cánh quân ta bên ngoài như Phục Quốc Quân còn tiếp tục chiến đấu chống VC . Trên đường đi chúng tôi vẫn để ý tìm, nếu gặp chúng tôi sẵn sàng nhập cuộc, nhưng không thấy .Lúc đầu an hem có bàn tính sẽ lên hướng Tây Bắc vùng Lâm Ðồng, vượt biên giới qua Lào . Từ Lào sẽ vượt tiếp đường rừng đến biên giới Thái . Suy tính đoạn đường cho cuộc hành trình quá dài, có thể mất đến hai tháng đi bộ, trong khi chúng tôi không có những phương tiện khả dĩ như lương thực, nước uống, thuốc men, quần áo, địa bàn, bản đồ, không vũ khí để chống lại với Thú rừng, cướp bóc, kẻ thù và đặc biệt không ai biết nói tiếng Lào, Thái …Chúng tôi cũng không đồng ý với một chuyến đi quá nhiều phiêu lưu, khó có phần trăm nào thành công .
Do vậy, chúng tôi chấp nhận phương án hiện hữu là phải thoát ra khỏi Trại tù tìm kiếm quân bạn, nếu bất khả thi, trà trộn về các Ðô thị lớn tìm cách vượt biên . Trên đường đi thỉnh thoảng chúng tôi gặp dân đi làm, có khi vài chiếc xe bò kéo gỗ . Những lúc gặp thế nầy, chúng tôi thường né không cho họ thấy . Ðã qua ngày thứ sáu, nhẩm tính lại chúng tôi đã đi khá xa, ngót nghét cả trăm cây số . Nếu cắt ra QL1 có thể gặp vùng Rừng Lá (gần Long Khánh) . An hem bàn tính nếu kéo dài đi them nữa sẽ vô ích và bất lợi, thôi thì dung phương thức chót là phân tán và trà trộn về Ðô thị rồi tìm cách vượt biên . Do vậy chúng tôi chia làm hai nhóm mỗi nhóm 2 người tự phân tán chia nhau tìm đường sống . Tôi đi với NG còn M đi với V .
Anh em bắt tay nhau một lần nữa, Nhóm của M và V đi trước chúng tôi một tiếng, sau đó đến chúng tôi . Chúng tôi chon giấu và khỏa lấp mọi thứ như xếp lại một trang sách của cuộc hành trình cam khổ . Chúng tôi đi tay không cắt thẳng ra hướng Ðông ra QL1, cả hai giả dạng như người đi làm rẫy xa ra đường . Ði được vài tiếng, chúng tôi thấy dân lác đác đi làm nương rẫy, hai an hem chúng tôi vẫn bình thản nói cười, bàn chyện rẫy nương, thỉnh thoảng đưa tay chào họ và cũng được đáp trả . Hơn một tiếng sau chúng tôi đã thấy QL1, nhà cửa thưa thớt dọc hai vệ đường, dân qua lại cũng không nhiều và cũng chẳng ai để ý đến chúng tôi . Cũng may chúng tôi có cái áo khoát che được cái áo tù cải tạo bên trong nên chẳng ai nhận ra khi chúng tôi trà trộn vào dân chúng . Ra đến ngoài đường chúng tôi thấy có quán cà phê gần đường, lèo tèo dăm cái bàn xiêu vẹo . Tôi nháy mắt hỏi NG còn tiền không, anh gật đầu, chúng tôi cùng vào quán và tìm một góc khuất để ngồi nhìn ra đường . Trong quán chỉ có vài ông già ngồi phì phèo thuốc vấn . Chúng tôi gọi vài điếu Nông Nghiệp và 2 ly cà phê đen nhỏ, làm bộ ba hoa chuyện đồng án . Gần cả tuần nay giờ lại hít hơi thuốc, chiêu một ngụm cà phê nóng, dù không đậm đà lắm, nhưng đối với tôi là những giây phút khó quên . Mấy ông già ngồi ngoài thỉnh thoảng cũng góp chuyện với chúng tôi và cùng cười vui vẽ . Tiện thể tôi kiếm cách hỏi khéo về tình hình vùng nầy, xe cộ về Sài Gòn và về Miền Trung . Một lúc tôi hỏi nhỏ với NG. “Mầy tính thế nào ? mình đang ở cách Long Khánh không xa, hơn 15 cây số, chỉ nên về Sài Gòn là lối duy nhất . “ NG áo nảo lắc đầu, Tao chẳng có ai trong đó làm sao sống “ Tôi cố thuyết phục NG nhưng anh ta vẫn khăng khăng nhất quyết về lại PT, trốn ở trên nương nhờ gia đình tiếp tế . Tôi thấy cách nầy không ổn, trước sau gì cũng sẽ bị bắt lại, chừng ấy sẽ khốn khổ hơn, phân giải thế nào anh ta vẫn không nghe sau cùng chúng tôi đành chia tay . Tôi bắt xe đi về Sài Gòn, trên đường đi cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng rồi cũng đến đích …
( Trích Hồi Ký ..)
Hoa Kỳ Tháng 2-2011

Advertisements

One comment on “QLVNCH: Chuyện Tù Cải Tạo: MỘT CHUYẾN VƯỢT TRẠI :CON ĐƯỜNG VÔ ĐỊNH – MẶC NHÂN THẾ

  1. Các anh quá hay và thật là can đảm , cuối cùng đã tránh xa được hang ổ nguy hiểm.
    Tôi cũng nằm trong đại học CT hơn 5 năm rưởi thì được trả tự do.
    Mừng cho bọn mình, mừng cho các anh.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s