Lê Hữu – Ngày Tự Sướng


Thứ Năm, ngày 30 tháng 4 năm 2015

“Ngày xưa tôi khóc trong niềm vui chiến thắng,

ngày nay tôi khóc trong nỗi đau thời cuộc.”

(“Nghệ sĩ ưu tú” Kim Chi)

Hoan hô “Bên thắng cuộc” ngày 30/4/1975 (lật đổ chính quyền VNCH)

“Về ngày 30 tháng Tư, tôi chỉ biết diễn tả cảm giác duy nhất của tôi ngày hôm đó, là họ (công an trại tù Phong Quang, Lào Cai) cho tôi xem một tờ báo có đăng một tấm ảnh rất lớn, chụp cầu Tràng Tiền, trên cầu có chiếc xe Jeep còn mang cờ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và trên xe có mấy anh Việt Cộng đội mũ tai bèo, xe cắm cái cờ mà họ gọi là cờ giải phóng. Tôi cảm thấy đau nhói trong lòng và có cảm giác như nhìn thấy vợ mình đang nằm trong tay một người đàn ông khác.”

Người thốt ra những lời trên là ông Nguyễn Hữu Luyện, cựu sĩ quan Biệt Kích Dù QL/VNCH, trong cuộc phỏng vấn của đài Little Saigon Radio vào tháng Tư năm 2001, 26 năm sau ngày 30/4/1975.

Trong số những cách diễn tả cảm xúc về ngày 30 tháng Tư mà tôi nghe được, đọc được, đến nay tôi vẫn chịu cách diễn tả trên nhất.

“Cảm giác như nhìn thấy vợ mình đang nằm trong tay một người đàn ông khác” là cảm giác thật đau đớn trước một thực tế phũ phàng đập vào mắt mình, mà đành “bó tay” vì bất lực. Tôi cho là không có cách ví von, diễn tả nào “thật” hơn và đúng hơn thế. Còn nỗi đau nào hơn trông thấy người vợ yêu quý của mình bị cưỡng đoạt, vùi dập trong tay gã đàn ông xa lạ. Những ai chưa có vợ ngày ấy có thể hình dung người mình yêu nằm gọn trong vòng tay của tình địch. Giá mà kẻ tình địch ấy bảnh trai hơn, văn minh lịch sự hơn mình thì cái đau ấy còn ít, đằng này thì… “tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”.

Phải thương nước thương nòi ghê lắm, phải đau và hận ghê lắm mới diễn tả được nên lời cảm xúc như thế. Cách ví von ấy rất tượng hình, và tôi tin rằng không ít người có cùng một cảm giác như ông Luyện vào cái ngày thương tâm ấy. Riêng tôi, mãi đến nay cứ mỗi lần hồi tưởng lại cái “biến cố” đó là mỗi lần “đau nhói” trong lồng ngực đến mấy giây vì cảm giác ấy.

Ông Luyện nói thêm, “Sự đau đớn đã làm tôi khóc nhiều ngày, mắt tôi sưng lên. Trong tù rất đói, mà những ngày đó tôi không ăn được nữa.” Đúng vậy, làm sao ăn nổi, làm sao nuốt cho trôi nỗi đau và hận ấy.

Tôi vẫn chuộng những cách ví von tượng hình như thế, chẳng hạn như cách nói “như đàn kiến loi ngoi bò trong lòng chảo nóng” để diễn tả cảnh hoảng loạn của người dân Saigon đang nháo nhào, cuống cuồng tìm đường thoát thân trong những cố gắng tuyệt vọng vào những ngày cuối tháng Tư ấy. Tôi cũng là một chú kiến nhỏ trong lòng chảo tháng Tư ấy, cũng nháo nhào tìm một lối thoát và sau cùng tuyệt vọng, đành chờ bức màn đen của số phận phủ chụp xuống đời mình.

Cái lòng chảo khổng lồ ấy là số phận của cả một dân tộc.

Triệu người vui, triệu người buồn

Ông Nguyễn Hữu Luyện nằm bẹp trong một trại tù ở ngoài Bắc (ông bị bắt năm 1966), chỉ xem ảnh trong một tờ báo thôi mà đã “cảm thấy đau nhói trong lòng” như thế, tôi và những bạn bè tôi còn “đau” đến mức nào khi trông thấy tận mắt những chiếc xe tăng của lính Bắc Việt chạy ngờ ngờ giữa lòng thành phố. Không chỉ đau vì người mình yêu bị cưỡng đoạt, tôi còn đau cái đau khác khi trông thấy những khuôn mặt rạng rỡ của từng đoàn người đổ ra ngoài đường phố hoan hô “bên thắng cuộc” trong lúc tôi và các đồng đội cúi gầm mặt lầm lũi đi vào các trại tù cải tạo.

 
Một trong số “triệu người vui” – Một trong số “triệu người buồn” 

Những tấm ảnh này có thể “gây sốc” (nói như trong nước) cho không ít người, thế nhưng chúng không biết nói dối và là những “ảnh tư liệu” cho thấy hai mặt khá phũ phàng của cuộc sống mà lắm khi chúng ta chỉ nhắm vào một mặt và quên đi hay cố tình quên đi cái mặt kia, cũng như không muốn nghe những sự thật khó nghe.

Người khác có thể nói “chỉ một số nào đó thôi”, hoặc số người này bị ép uổng sao đó, thế nhưng nói gì thì nói, những vẻ mặt tươi vui rạng rỡ, những tiếng reo hò phấn khởi hồ hởi của đám đông “cứ bên nào thắng là ta hoan hô”, đặc biệt là những “em gái hậu phương” áo dài trắng ấy cũng đủ làm tan nát lòng những người lính xấu số trong cuộc “đổi đời” nghiệt ngã ấy.

Thực tình thì thời nào cũng có, ít hay nhiều, những kẻ “ăn theo”, những kẻ “đón gió trở cờ” và “gió chiều nào theo chiều ấy” để dễ dàng quăng đi không chút tiếc thương lá cờ vàng của hồn thiêng sông núi, của máu thắm biết bao người đã đổ ra cho họ có được cuộc sống tự do no ấm, và chụp vội lấy lá cờ xa lạ của “bên thắng cuộc” mà phất lia phất lịa, để tỏ ra có tinh thần “giác ngộ cách mạng” sớm hơn ai hết.

Có điều, người dân miền Nam còn ngây thơ, dễ tin chứ người cộng sản thì không ngây thơ, cho nên các diễn viên phụ “chạy cờ” này khi xong việc bèn được mời đi chỗ khác chơi cho rộng chỗ, còn đứng xớ rớ có khi lại bị hốt đi cải tạo vì tội “cướp công cách mạng”. Đến cả thành phần thứ ba, thứ tư gì đó cũng được cho “tan hàng, cố gắng”, và các tờ báo “đối lập” như tạp chí Đối Diện (Đứng Dậy, Đồng Dao), nhật báo Tin Sáng đều lần lượt được cám ơn và cho nghỉ hưu non với lý do đã “hoàn thành tốt nhiệm vụ” (mặc dù ai cũng biết là truyền thông báo chí luôn đồng hành với mọi sinh hoạt của người dân chứ làm gì có chuyện… đã hoàn tất nhiệm vụ).

Biến cố 30 tháng Tư là biến cố “kẻ khóc, người cười” của dân tộc Việt. “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn,” câu nói ký tên ông cựu Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt cũng khá phổ biến không thua gì câu nói “Đừng tin những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cái ý của ông Kiệt không có gì mới, nếu có “mới” chỉ là mới được nghe lần đầu từ một quan chức chính quyền CSVN.

Nhiều người chê trách ông Kiệt là chỉ nói được câu ấy sau khi đã về vườn, chẳng còn quyền bính gì trong tay. Điều này có thể hiểu được, lúc còn tại chức dẫu có muốn nói cũng chẳng dại gì nói để còn ngồi yên vị được trên chiếc ghế Thủ Tướng. Tuy rằng có muộn màng nhưng “có còn hơn không”, nói được như thế cũng là giỏi rồi.

Có điều ông Kiệt chỉ nói chung chung thế thôi, thực tế thì có nhiều trường hợp vui buồn khá “phức tạp” mà ông khó lường trước được, gọi là “khi buồn, khi vui” hoặc “trước buồn, sau vui” hoặc “trước vui, sau buồn”, chứ không hẳn chỉ là vui hoặc buồn. Chẳng hạn có người chưa kịp vui thì đã buồn, hoặc thoạt đầu đứng về phía “triệu người vui”, đến khi tỉnh người ra, thấy mọi việc không như mình tưởng thì lại buồn tê tái và nhập vào “triệu người buồn”. Ngược lại, có nhiều người thoạt đầu đứng về phía “triệu người buồn”, buồn đến độ phải bỏ nước ra đi, đến lúc quay về lại thì vui quá là vui, bèn chạy tọt sang phía “triệu người vui” (như là các “Việt kiều yêu nước” xênh xang áo gấm về làng, hoặc các ca sĩ “miền Nam ruột thịt” dắt díu nhau về quê hát véo von và cảm động đến rơi nước mắt khi được nhà nước chiếu cố cho tổ chức những đêm liveshow “hoành tráng” đánh dấu sự nghiệp hát hỏng một đời). Số người “buồn đổi ra vui”, “hết khóc lại cười” ấy cho thấy chẳng có “lập trường” rõ rệt chi cả về việc biểu tỏ trạng thái tình cảm của mình, vì vậy cũng khó mà xếp vào cột nào trong hai cột “triệu người vui” và “triệu người buồn” của ông Võ Văn Kiệt.

 
 Diễu hành, diễu binh sáng ngày 30/4/2015 tại Saigon – Ảnh được ghi chú: Khối nữ cảnh sát giao thông đi qua khu vực Nhà Thờ Đức Bà

Đọc bản tin về những màn biểu dương lực lượng rất “khí thế” này, tôi bỗng nhớ đến ngày 30 tháng Tư của 40 năm về trước. Đâu đâu cũng trông thấy cờ xí ngờm ngợp, những biểu ngữ đỏ chói giăng đầy đường phố, đâu đâu cũng nghe thấy vang lên những bài hát “cách mạng” nhịp quân hành rầm rập, trong lúc loa phóng thanh liên tục mở hết cỡ phát đi những khẩu hiệu ròn rã. Nào là “Chiến công vĩ đại”, “Cuộc kháng chiến thần thánh”, “Chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch muôn năm!”, nào là “Đỉnh cao chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc”, “Đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ nhất thế giới là Pháp và Mỹ”, nào là  “Vinh quang này thuộc về…, vinh quang kia thuộc về…”, kể ra không hết.

Có vẻ như tên gọi “Ngày Quốc Hận” được hầu hết người Việt “bên thua cuộc” tán đồng để gọi ngày 30 tháng Tư, và cũng khó mà tìm được tên gọi nào tốt hơn; tuy nhiên, nếu cần phải tìm một cái tên gọi cũng ngắn gọn như thế cho “bên thắng cuộc”, là cái bên lúc nào cũng vênh mặt lên với vẻ dương dương tự đắc mà bà Dương Thu Hương gọi là “chiến thắng vênh vênh váo váo”, tôi nghĩ chắc cũng không khó lắm. Ở trong nước có một cái “từ” khá phổ biến, và thiết nghĩ ta có thể dùng cái từ khá thích hợp ấy để đặt tên cho ngày 30 tháng Tư của “bên thắng cuộc”: Ngày Tự Sướng.

Lê Hữu

(29/4/2015)

* Nguồn ảnh: Internet

Advertisements

4 comments on “Lê Hữu – Ngày Tự Sướng

  1. Khong khi 30/4 tai sg cung binh thuong, moi nguoi lang le trong nha, tren duong pho. Khong co khong khi cua ngay gi quan trong voi moi nguoi dan. Bau troi u am nhu 40 nam ve truoc. Hinh anh nguoi dan chao don bo doi ben duong 30/4/75 chi la mien cuong va de nen noi so hai ma thoi

    Like

  2. Chỉ có bọn Cộng Sản Miền Bắc nó ăn mừng ngày 30/4 chứ đối với người dân Miền Nam Việt Nam thì đây là một ngày mất nước .
    Sau ngày 30/4 thì dân Miền Nam bị đày đi vùng kinh tế mới .Thành phố Sài Gòn bị bọn lãnh đạo Miền Bắc nó vơ vét ,chúng nó chiếm lấy những căn biệt thự lớn nhất ,đẹp nhất và sau này chúng hóa giá cho nhau theo giá ”nhà nước”.Một kiểu ăn cướp công khai …
    Chẳng có người dân Miền Nam nào đi ăn mừng cái ngày mất nước này cả .

    Like

  3. Ý thức của một ông già.
    Tôi xin nói về một ông già, BA TÔI .
    Năm 1964, tôi tình nguyện vào khóa 19 Thủ-Đức. Ba tôi biết chuyện, ông chỉ cười. Ông sinh sống trong một làng quê tương đối hẻo lánh. Trong giai đoạn đầu của khóa học, ông có vào Thủ-Đức thăm và cho tôi nột ít tiền. Ông có nói : Những tay bộ đội có hỏi là
    tại sao tao cho mày “đăng lính”? Tao bảo rằng tại mày đi học ở ngoải nên vào lính theo ngoải ( tôi học ở SaiGon ).Khi mản khóa, tôi về một TT HL, ba tôi tới thăm và cho tôi biết: Mấy tay bộ đội bảo tao qua thăm mày và nên khuyên mày về quê theo bộ đội, họ sẽ
    cho mày vào tổ HL chứ không cho “hành quân ” đâu, nhưng mày đừng có về. Tôi mới hỏi lại : Nếu con không về tụi nó làm khó ba thì sao ? Ba tôi nói : Về đó tụi nó hỏi thì tao sẽ trả lời là : tôi đã khuyên mà nó không nghe, tôi TỪ nó rồi, mấy chú gặp nó ở đâu, mấy chú cứ làm gì nó thì cứ làm.
    Qua câu chuyện, tôi thấy ba tôi, một ông già có tầm nhìn rất sáng suốt, hơn hẳn những ông tiến sỉ cứ mải mê CHUI ĐẦU.
    ôNG ĐÃ đi rồi, tôi thương và nhớ ông vô cùng.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s