40 năm nhìn lại những ngày mất Sài Gòn (Kết.2)


Posted on April 30, 2015 by editor

Những cố gắng cuối cùng để thoát khỏi Sài Gòn. Nguồn: Hugh van Es/REUTERS

Những cố gắng cuối cùng để thoát khỏi Sài Gòn. Nguồn: Hugh van Es/REUTERS

Nguyễn Văn Lục

Viet Cong Flag Flies over Ho Chi Minh City

Theo lời phóng viên Leon Daniel, UPI, có mặt tại chỗ tại Sài Gòn khi những người cộng sản đầu tiên vào thành phố trên những chiếc xe tăng do Nga chế tạo. Họ trước tiên đến đường Tự Do, nơi mà trước đây là nổi tiếng ăn chơi của người Mỹ với hàng loạt các quán bar, nay vắng ngắt, cửa đóng im ỉm. Sau đó họ tiến vế phía Dinh Độc Lập, nơi mà ông Dương Văn Minh cùng với nhân viên chính phủ đang kiên nhẫn đứng đợi họ. Những người lính Việt Cộng xem ra kỷ luật trong khi chiến thắng cũng như khi chiến trận.

Phần đông người dân Sài Gòn mở hé cửa nhìn ngắm những chiếc xe tăng chạy qua một cách im lặng. Chỉ một vài người vỗ tay, hoan hô. Nhưng phần đông chỉ đứng nhìn và trông đợi một tương lai không mấy sáng sủa gì về những người chủ mới tới.

Chỉ còn vài người Hoa Kỳ còn sót lại, chắc là ký giả Mỹ. Phần ông đại sứ Martin đã rời tòa đại sứ trên một chiếc trực thăng sớm hôm nay.

Ông có thể được coi như người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam

Trên tờ Le Devoir ở Montreal, “Tous les américains ont quitté”.

Tờ Le Devoir, hiện nay vẫn còn xuất bản mỗi ngày, đã chạy tít “La Chute de Sai Gon est Imminente”.

Theo tin AFP, 81 trực thăng của Mỹ đã vận chuyển được 6400 người ra các Hàng không Mẫu hạm và tầu chở trực thăng của Mỹ. Cuộc vận chuyển khổng lồ này chỉ kéo dài trong thời gian 13 tiếng đồng hồ và chấm dứt 25 năm người Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Nhiều tiếng súng bắn lên các trực thăng này khi họ bay qua những đám quân nhân uất hận vì bị kẹt ở lại.

Đại sứ Graham Martin đã rời tòa đại sứ tại Sài Gòn vào khoảng nửa đêm với những chiếc trực thăng chót.

The Ottawa Journal. Wednesday, April 30, page 21: No Viet Flowers as Marines leave

Nhà báo Peter Arnett, người từng nhận được giải thưởng Pullitzer Prize, ông còn ở lại Sài Gòn khi những người lính Thủy quân lục chiến cuối cùng rời Việt Nam. Ông còn nhớ lại, cách đây 10 năm, ông là những người lính trong đơn vị Thủy quân lục chiến lần đầu tiên tại bãi biển Đà Nẵng. Ở nơi đây, ông được đón tiếp bằng những vòng hoa do các thiếu nữ xinh đẹp ở Đà Nẵng choàng vào cổ.

Một thập niên đã đi qua.

Và hôm thứ ba này, tôi được chứng kiến những thủy quân lục chiến lên máy bay. Họ trông cũng vẫn vậy, trông vẫn vóc dáng khỏe mạnh, trẻ đẹp. Cũng vẫn những bộ quân phục là ủi thẳng thướt như lần đấn đây.

Nhưng thái độ của người Việt Nam thì có khác.

Sau đó đã có khoảng 20 chục ngàn sĩ quan Việt Nam được gửi sang Mỹ để được huấn luyện đánh giặc theo kiểu Mỹ.

Một lối đánh giặc chủ yếu dựa vào bom và trọng pháo và sẽ chỉ hữ hiệu bao lâu mà vẫn có đủ máy bay, bom đạn trọng pháo.

Binh đội VNCH đã học được thói quen đánh giặc (luxury of the US way). Không có những thứ ấy, họ trở thành bất khiển dụng.

Để có thể thắng trận và chiến thắng cộng sản ở Việt Nam, phải có một cách đánh trận theo kiều Việt Nam.

Phải chăng đây chỉ là những lời khuyên, hay nhắn nhủ quá muộn màng!

Và may mắn ra, chính quyền đệ nhất cộng hòa nghĩ ngay tới chuyện đấu thầu cho khai thác dầu hỏa ngay tứ năm 1955-1956 thì đến 1973 có thể ngoài khơi Vũng Tàu đã có dầu hỏa phun lên. Lúc ấy ta có cần chi đến tiền của Mỹ và ta sẽ đánh trận theo kiểu Mỹ.

Rất tiếc là mọi sự ở đời đã không xảy ra như vậy!

30-4 -1975 | Cheers, fears, suicide in Saigon

(VIETNAM-25, 2/3) A 30 April 1975 photo shows Duong Van Minh (C, looking down), the last president of US-back Saigon regime, and his entourage leaving the presidential palace in Saigon 30 April 1975 after announcing on radio his cabinet’s surrender following his capture by North Vietnamese communist troops. Letting bygones be bygones, the United States and Vietnam have taken modest steps toward a rapprochement a quarter century after the chaotic US departure from Saigon. AFP PHOTO (Photo credit should read -/AFP/Getty Images)

Saigon (AP) Một sô chừng một chục chiếc xe tăng, xe kéo theo pháo cũng như xe tải làm tại Trung Quốc ngụy trang các lá cây đang chạy trên đại lộ Thống Nhất để tiến vào Dinh Tổng thống vào lúc buổi chiều nay.

Một số người miền Nam vỗ tay khi đàn xe đi qua vẫy cờ màu xanh và đỏ của họ với một ngôi sao vàng ở giữa rồi họ dừng xe ngay giữa đại lộ rộng thênh thang.

Trong khi đó, trước tiền đình Quốc Hội, một viên trung tá cảnh sát bước đến sát một bức tượng trên đài kỷ niệm, ông dơ tay chào nghiêm và tự nổ súng vào đầu.

Ông chết sau ít lâu khi được chở vào nhà thương.

Người ta cũng nghe thấy tiếng súng nổ ở gần tòa nhà quốc hội. Một người lính Bắc Việt đứng canh gác trước tiền đình tòa nhà trong bộ quân phục mầu Olive với đôi dép cao su đen.

Họ bắn qua lại bằng vài phát súng khi có những cánh tay dơ ra ở một chỗ nào đó gần đấy. Một vài người đi xe gắn máy chạy xe qua đó với vẻ sợ hãi xem ai đang bắn. Một lúc sau thì mọi chuyện trở lại yên tĩnh.

Trong khi Tổng thống Dương Văn Minh còn đang đọc diễn văn đầu hàng trên đài truyền hình và cộng quân đang tiến vào thành phố, người dân miền Nam cả binh sĩ cũng như thường dân còn chen chúc nhau trên mấy chiếc tầu chạy ven biển còn neo dọc theo bờ sông Sài Gòn. Giờ phút chót, họ vẫn hy vọng họ có thể đi thoát.

Nhưng họ đã phải rời tầu khi thấy một đoàn xe díp chở bộ đội dọc theo bờ sông rồi một phản ứng rất đột ngột, họ vẫy cờ cộng sản và hoan hô.

Mộ số dân chúng đứng trước cửa nhà và quan sát đám việt cộng và lính Bắc Việt đi qua. Lúc đầu, họ rụt rè không có phản ứng gì..

Sau đó thì có người bắt đẩu hoan hô khi thấy có nhiều đám bộ đội khác tiến vào thành phố.

Kỳ Nhân, một nhiếp ảnh viên người Việt từng làm việc cho hãng The Associated Press trong ba năm đi cùng với một người Việt cộng vốn là bạn và hai lính cộng sản từ miền Bắc vào nói với phóng viên hãng thông tấn AP rằng,

“Tôi bảo đảm an ninh cho mọi người ở đây. Tôi từng theo Cách Mạng từ 10 năm nay. Công việc của tôi là liên lạc với báo chí thế giới và thông báo lại cho việt cộng tin tức.Tôi bảo đảm an ninh cho mọi người ở đây.”

George Esper, Văn phòng trưởng hãng thông tấn AP, đã tiếp họ nước Coca-Cola và một ít bánh ngọt còn lại.

Một trung sĩ Việt cộng tên là Binh Huan Lam, 25 tuổi, anh nói anh dến đây từ Hà Nội và đã đi lính được 10 năm. Tôi đã không cưới vợ bởi vì không cần thiết trong thời chiến tranh.

Nhiều người dân thành phố Sài Gòn đi bộ hoặc đi xe đạp trong thành phố. Lính miền Bắc tỏ ra tò mò khi quan sát sinh hoạt thành phố còn người dân cũng tò mò không ít nhìn ngắm cách ăn mặc của bộ đội miền Bắc.

Nhưng đã có rất nhiều người khác thì quyết định ở trong nhà. Một phụ nữ 26 tuổi nói: Họ xem ra tử tế, nhưng vẫn phải chờ xem.

Nhận xét được coi là khuôn vàng thước ngọc. Phải chờ xem

Một thương gia Pháp có được một khung hình quý giá của gia đình Tổng thống Nixon vói chữ viết, To Ambassador and Mrs. Graham Martin with appreciation for their service to the nation. Khung ảnh này chắc do mấy tên thổ phỉ nhặt được trong tòa đại sứ Mỹ, thấy vô dụng nên quẳng đi. Ông người Pháp thì lại nhìn khác. Đây là một bức hình với chữ ký tặng thật có ý nghĩa.

Người thương gia Pháp nói, “Tôi quen biết ông đại sứ tôi sẽ tìm trả lại cho ông bức hình này.”

Trước tòa đại sứ Mỹ phóng viên Peter Arnett nhìn tòa nhà 6 tầng và thấy rằng tòa nhà tuy rộng, nhưng không thích hợp cho hàng ngàn người dân miền Nam kéo vào xin di tản.

Nay thì nhiều người vào hôi của, họ lấy đi tất cả những gì có thề lấy. Nói chung, mặt dân chúng biểu lộ nhiều lo âu hơn là sung sướng.

Resignation, relief greet end of war của các nước láng giềng

Bài bình luận của phóng viên hãng AP-Reuters:

Nói chung nhiều quốc gia phản ứng về sự đầu hàng của chính quyền Nam –Việt Nam bằng sự chịu đựng và thở dài cho chuyện chẳng đặng đừng.

Thủ tướng Thái Lan nói cơn hấp hối kéo dài của miền Nam đã đến hồi chung cục. Đó là ý kiến của bộ trưởng bộ Ngoại giao. Phần thủ tướng Thái Kikrit Pramoj chính phủ của ông sẵn sàng nhìn nhận chính quyền mới.

Bộ trưởng ngoại giao Phi Luật Tân Carlos Romulo chấp nhận cuộc đầu hàng, nhờ đó nhiều sinh mạng đã được cứu vớt.

Ngoại trưởng Indonesia Adam Malik thì nói chính phủ ông không thấy khó khăn gì chẤp nhận chính quyền mới bất kể họ là ai.

Ông tiên đoán rằng chính phủ Malaysia sẽ mời chính quyền mới ở Việt Nam tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vào 13, 15 tại Kual Lampur.

Tại Đài Loan, phát ngôn viên chính phủ cho rằng việc thành lập một chính phủ lưu vong tại Đài Loan của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là một hy vọng mỏng manh.

Chính phủ Úc Đại Lợi trước đây trong 11 năm đã gửi quân chiến đấu sang Việt Nam và 500 binh sĩ Úc đã chết tại Việt Nam. Úc đại lợi sẵn sàng viện trợ cho cả hai bên, miền Bắc cũng như miền Nam.

Phần Bộ trưởng bộ ngoại giao Kim Dong-jo của chính phủ Đại Hàn cho rằng Bài học cộng sản ở Việt Nam cho thấy các quốc gia phải mạnh và phải tự cứu lấy mình. Ông Kim nói thêm, “Chúng ta có thể nhìn thấy ở Cao Mên cũng như tại Sài Gòn, họ đã không đủ sức mạnh nên cũng không thể thương thuyết, không thể hòa giải mà chỉ có đẩu hàng.”

Chính phủ Do Thái đặt câu hỏi là chính quyền Mỹ học được bài học gì trong những sai lầm ở Việt Nam? Và có thể làm suy yếu Israel?

Chính quyền Nhật qua bộ trưởng Bộ ngoại giao Miyazawa cho rằng chính quyền Sài Gòn quyết định đầu hàng là một quyết định khôn ngoan. Và chính phủ đang nghĩ tới nhìn nhận chính quyền mới.

Saigon devient Ho Chi Minh. Le transfert se fait dans l’enthousiasme

Lâu lắm mới có một bản tin bằng tiếng Pháp. Mấy anh Tây viết thì cứ cho là 3 phần trúng, bảy phần trật. Viết sạo là nghề của các ký giả Pháp. Chúng ta cùng nhau đọc bản tin này do ký giả Pháp viết cho AP, AFP và Reuters nhé.

Hầu như không có một sự chống đối nào khi mà các quân đội cách mạng tiến vào Sài Gòn, theo đó chấm dứt một cách đột ngột sau một thế kỷ có mặt của người Âu Châu tại Việt Nam.

Giữa những tiếng hoan hô và vỗ tay của đám đông, các lực lượng vũ trang đã phân tán đi khắp mọi đường phố ở Sài Gòn và họ kéo cờ chinh phủ lâm thời cách mạng miền Nam ở ngay nóc dinh Độc Lập mà trước đó vài giờ, ông tổng thồng Dương Văn Minh đã đọc thông cáo đầu hàng vô điều kiện của quân đội miền Nam.

Tin tức về sự sụp đổ Sài Gòn, được đổi tên là Hồ Chí Minh đã làm cho hàng ngàn người dân trên các đường phố Hà Nội khóc vì sung sướng. Thành phố này nay trở thành phố ‘La ville la plus heureuse et la plus bruyante du monde’ (thành phố hạnh phúc nhất và náo nhiệt nhất trên thế giới) theo các phóng viên báo chí.

Ở Bắc Kinh, các nhà ngoại giao đã nhảy mùa và hát giữa những tiếng pháo nổ.

Ở Washington, cũng là một điều khuây khỏa mặc dầu có đượm nét cay đắng.

Kết cục là c’est terminé!

Sai gon nay mang một bộ mặt bình thường. Những ngưởi bộ hành lễ phép chào các ông bộ đội vả dơ tay cười bắt tay họ,

Những chiến xa rồi những binh lính trang bị súng ống, lựu đạn vào thành phố. Các chiến xa này được chế tạo tại Liên Xô mà một trong những chiến xa ấy đã cán sụp một cánh cửa sắt của dinh Độc Lập..

Trong thành phố, có cái không khí của ngày lễ hội. Dân chúng xúm quanh các anh bộ đội mới từ trên rửng trở về để hỏi thăm với sự tò mò thích thú. Amen

Tin từ Wagshington, Georges Deschodt, “Hoa Kỳ ngăn chặn mọi giao thiệp thương mại với Việt Nam và được coi như một nước thù nghịch.”

Hoa Kỳ đã phản ứng ngay tức khắc khi được tin miền Nam bị sụp đổ vào tay cộng sản. Một biện pháp có hiệu lực ngay là bất cứ quốc gia nào rơi vào một chính quyền được coi là thù nghịch với với nước Mỹ, phong tỏa tất cả mọi giao dịch thương mại và tài chánh.

Sẽ không có một chuyến hàng hóa được vận chuyển đến miền Nam, không có chuyễn vốn đến xứ này, căt mọi quỹ mà trước đây VNCH đã ký kết, không có việc nhập cảng bất cứ thứ gì từ xứ này.

Nói chung là phong tỏa và cấm vận, xiết chặt và cô lập hóa Việt Nam với thế giới bên ngoải.

Việc phong tỏa này không ảnh hưởng gì đến kinh tế Hoa Kỳ. Hoa Kỳ hầu như không nhập cảng gì từ Sài Gòn và nếu có xuất cảng thì qua trung gian viện trợ kinh tế mà nay không có lý do gì tồn tại nữa.

Sẽ gây nhiều trở ngại cho những người Việt Nam có tiền ở nhà băng Hoa Kỳ. Các compte nhà băng này đều bị phoa tỏa.

Đặc biệt là Washington cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ đã hoàn toàn yên lặng về sự đầu hàng này. Kissinger cũng sẽ làm như vậy và không tuyên bố gì cả.

Thắng trận xong, Bắc Việt Nam hầu như bị cô lập với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt với Hoa Kỳ. Chỉ trừ vài nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Việc Định cư người Việt di tản sang Hoa Kỳ

Phần đông người Việt khi được định cư ở Hoa Kỳ hay các nước Tây Phương thì coi như việc đương nhiên và trong lối phát biểu đượm nét tự hào vượt khuôn khổ. Thử hỏi xem đã có bao nhiêu người Việt di tản được định cư ở Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Mã Lai và Nam Dương? Cuối cùng chỉ có 4 nước sau đây là đón nhận rộng lượng nhất. Đó là Mỹ, Canada, Úc Đại Lợi, và Pháp(**).

Việc quyết định số lượng người Việt được tỵ nạn sang Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn trở ngại.

Để tiếp đón người tỵ nạn sang Mỹ, Florida và Arkansas cần 80.000 nhân viên đủ loại. Chi phí tính vào khoảng 327 triệu đôla. Chi phí này đã bị quốc hội từ chối.

TT Ford tức giận về sự phủ quyết này và tuyên bố, theo Associated Press, “not worthy of a people which has lived by the philosophy symbolized in the Statue of Liberty.”

Theo phát ngôn viên chính phủ, ông Robert Anderson cho hay cho đến thứ Tư này đã có khoảng 80.000 người di tản đến được nước Mỹ. Sẽ còn ít nhất vài chục ngàn nữa. Đã có 40 chiếc tầu chiến của Hoa Kỳ tham dự cuộc di tản người này.

Hiện nay còn 60.000 được tạm thời di trú ở Fort Chaffee, Ark., Eglin air force base, Fla., Camp Pendleton, California.

Những người di tản đầu tiên đã tới Camp Pendleton là 2315 người

Trước khi viết phần này, xin được trích dẫn một đoạn văn được ghi khắc trên Bức tượng Nữ Thần Tự Do ở Nữu Ước:

Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breahte free,
The Wretched refuse of your teeming shore,
Send these, the homeless, tempest-tossed to me…

Emma Lazarus, The New Colossus, inscribed on the Statue of Liberty

Tinh thần của Bức tượng Tự Do thì đã nêu rõ như thế. Nhưng trong dư luận người Mỹ thì đã có sự chia rẽ và bất đồng về việc thu nhận người Việt vào Nước Mỹ.

Thomas Campbell, 24 tuổi, Louisville cho rằng làm thế nào nước Mỹ có thể thu nhận hàng loạt những người Việt Nam tỵ nạn trong khi chính nước Mỹ đang có trở ngại trong vấn đề thất nghiệp? Chúng ta chắc sẽ lại trở thành một thứ melting pot?

Phần John Faltin ở New York thì nói rằng, “It seems we’ve got enough refugees here as it is.”

Glen Owen, Lansing, Mich thì nói, “I’d burn a cross in their front yard if they moved next door to me.”

Bà Rose Gutenkust, New Jersey nói, “Tỉ lệ thất nghiệp ở đây là trên 10% và hầu như đi đến chỗ phá sản. Nếu chính chúng ta không có công việc làm, thì làm thế nào giúp họ được? Người của chúng ta có quyền có công ăn việc làm trước nhất.”

Về phần Quốc Hội Hoa Kỳ, sau khi Tổng thống Ford yêu cầu khẩn cấp giúp đỡ khoảng 150.000 người tỵ nạn Đông Dương đã nhận được sự đồng ý của Hạ Viện Hoa Kỳ. Không có con số rõ ràng về việc chuẩn chi này nhưng Tổng thống Ford cần khoảng 507 triệu đô la.

A cold life in Tent 57 for Vietnamese refugee

Câu chuyện sau đây là của cô Trần Mộng Tú viết từ Camp Pendleton, California do AP tường thuật lại.

Trần Mộng Tú là cô gái với thân hình nhỏ bé, mắt sáng vốn là thư ký cho văn phòng The Associated Press ở Sài Gòn cho đến ngày 22 tháng tư khi cô và bố mẹ được đưa ra khỏi Việt Nam.

Đây là câu chuyện của cô ở Camp Pendleton, lều 57.

“Ban đêm chúng tôi chợt tỉnh dậy, vì trời lạnh quá lạnh không ngủ được. Cái giá lạnh từ những sườn đồi, vì đây không phải là ở thành phố.

Chúng tôi xếp hàng, nói chuyện để chờ hàng nửa giờ để đến lượt lãnh phần ăn trong doanh trại. Có người nói ước gì được ăn ở trong một nhà hàng ở Sài Gòn.

Chúng tôi thường nói về những người thân thuộc còn kẹt lại Sài Gòn, nói về các gia đình. Chúng tôi hỏi thăm người khác về những người họ hàng. Các gia đình Việt Nam thì thường có mối liên hệ gần gũi như thế.

Ở đây tôi sống chung với bố mẹ tôi, chị và chồng con của họ với 5 đứa trẻ, với các chị dâu các ông chồng của họ và 4 đứa nhỏ. Tất cả chui rúc trong 4 căn nhà và một cửa tiệm bán cà phê.

Cô cho biết những người lính Mỹ thì cực kỳ tử tế. Đồ ăn thì OK. Có một ông hạ sĩ người Mỹ còn muốn mời mấy cô về nhà dùng cơm. Họ cũng mang đến cho các cô các đôi bít tất.

Ở nơi đây, đôi lúc cô nhớ nhà, nhưng làm sao về lại Sài Gòn được và cô có thêm vài người bạn mới!

Người tị nạn ở Camp Pendelton, không phải lều 67. Nguồn: DCVOnline tổng hợp.Người tị nạn ở Camp Pendleton, không ở lều 57. Nguồn: DCVOnline tổng hợp.

Đọc bài của cô, đúng là cung cách tiểu thư con nhà.

WJS | 40 Years After the War, Saigon

Đôi dòng cuối cùng sau khi viết “40 năm nhìn lại những ngày mất Sài Gòn”

Sau khi viết xong bài viết này, vào một đêm tỉnh dậy lúc 2 giờ sáng. Tôi dở ra đọc lại, tự nhiên nước mắt tuôn trào…

Biết bao nhiêu sự kiện diễn ra lần lượt trong đầu óc tôi như một cuốn film quay chậm.

Những tâm trạng buồn, phẫn uất, chán nản như ngày nào sau 30 tháng Tư còn đọng lại.

Trách nhiệm về ai? Dĩ nhiên là người Mỹ từ trong cái Situational Room của Tổng thống Ford và các chính khách Mỹ như tiến sĩ Kissinger, v.v.

Nhưng người Việt Nam, chúng ta cũng chia sẻ cái phần trách nhiệm ấy. Trách nhiệm làm mất miền Nam là tướng lãnh, lãnh đạo cấp cao. Còn nhớ ông Nguyễn Cao Kỳ khi đến Hoa Kỳ vào đêm thứ hai, được hãng thông tấn Associated Press phỏng vấn tại camp Pendleton, California, ông đã tuyên bố một câu xanh rờn khi bước ra khỏi phi cơ:

“I will try and be a leader for them.”

Tôi không biết phải nói thế nào nữa!

Trong khi đó nhà chức trách Mỹ ngay khi ông còn ở đảo Guam đã lo sợ cho an ninh bẩn thân của ông Kỳ vì ông đã bỏ trốn đi.

Nhưng kể từ đó đến nay, sau 40 năm. Tôi cũng nhận thấy một cách chua chát có một hội chứng sau chiến tranh. Đó là trận chiến ký ức (Memory battlefield) giữa kẻ thua, người thắng.

Năm nay kỷ niệm 40 năm miền Nam bị mất vào tay cộng sản. Cuộc chiến tranh với xác người chết không còn nữa. Di hại của người những người bị chết từ hai phía, những người bị thương tật cho đến nay vẫn chưa có một thống kê đầy đủ và rõ ràng.

Sự hàn gắn những vết thương chiến tranh hầu như không đáng kể gì!

Người chết trên chiến trường và ở các trại tù cải tạo nay vẫn chưa tìm ra dấu tích mồ mả. Chết chưa có chỗ về, thiếu hương khói.

Người bị phế tật, nhất là thương phế binh VNCH hầu như bị bỏ rơi cho số phận của họ. Họ đã chết dần chết mòn mà ngày nay số còn lại chỉ còn là một dúm người như vật phế thải.

Sự bất nhân của kẻ cầm quyền là sự mất ý thức về lòng nhân bản (Nếu cho là người cộng sản có ý thức nhân bản).

Thật vậy, nếu trước đây có hội chứng hậu thuộc địa sau gần 100 năm người Pháp cai trị thì cũng có một hội chứng hậu 1975. Hội chứng ấy là những chấn thương tinh thần mà cả hai bên nhiều khi không chịu nhìn nhận.

Nó được hun đúc biến thành một thứ huyền thoại của kẻ thắng trận đồng thời cũng có một thứ huyền thoại của kẻ thua trận.

Đó là một cuộc chiến dai dẳng với ký ức đã bị bôi son, trát phấn làm chất liệu. Càng gần đến ngày 30 tháng Tư trận chiến ký ức nhìn lại càng trở nên sôi động từ trong ra đến ngoài nước.

Đủ các loại bài viết, các loại tài liệu mật, các bài phỏng vấn từ nhiều phía, các nhân chứng còn sống sót từ phía người Mỹ, người cộng sản, cựu tướng lãnh miền Nam, những người làm báo cho cộng sản, những người cầm bút từ hải ngoại, v.v. Tất cả như chờ đợi trong dịp này thôi, để được bày tỏ, nói lên bằng nhiều tâm trạng khác nhau.

Thà rằng nói thật, thà rằng đau xót nhìn nhận trách nhiệm và lỗi lầm. Không. Hầu như đã không ai muốn làm điều đó cả.

Nói chung thì đã có một hiện tượng phổ biến về huyền thoại của kẻ thắng trận và một huyền thoại của kẻ thua trận.

Phía người chiến thắng

Tôi nhớ lại khi De Gaulle đi bộ trên đại lộ Champs-Élysées vào tháng 8-1944 với hàng triệu dân chúng đón tiếpp ông.

Điều đó rõ ràng là một sự thật! Một chiến thắng cảm nhận được trên các khuôn mặt của hàng triệu dân chúng Paris với những màn ôm hôn những chiến sĩ trẻ với những vòng hoa, với những nụ cười rạng rỡ, với nước mắt mắt mừng mừng, tủi tủi.

Đó là ý nghĩa trọn vẹn của chiến thắng của ngày Giải Phóng Paris. Tôi đã nhận ra được thứ nhân cách chững chạc, phong cách của kẻ anh hùng đó nơi một De Gaulle khi vào Paris.

Tôi đã không nhận ra bất cứ điều gì như thế nơi dân chúng miền Nam.

Có một vòng hoa nào không? Một thôi cũng được. Có tiếng hoan hô nào không? Có các thiếu nữ ăn mặc đẹp đẽ tươi cười hớn hở ra ôm các anh chiến sĩ ‘giải phóng’ không? Một cô thôi. Ai tiêu biểu cho cuộc chiến giải phóng đó? Lê Duẩn hay Nguyễn Hữu Thọ?

Và dĩ nhiên cái không khí sung sướng đến hoan lạc của người dân Paris trên đại lộ Champs-E1ysées ngày nào thì không phải là không khí của đường Tự Do của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngược lại, đó là thứ không khí của sự lo sợ, đau buồn và tủi nhục. Ngay giữa trung tâm thành phố, xác của Trung tá cảnh sát Nguyễn Văn Long còn nằm đó. Ít ngày sau, đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện bị đem ra trước công chúng xử bắn.

Đô thành Sài Gòn – 30 tháng 4 : Cảnh sát Trung tá Nguyễn Văn Long tuẫn tiết trước tượng đài Thủy quân lục chiến (khuôn viên Công trường Lam Sơn. Nguồn: OntheNetĐô thành Sài Gòn – 30 tháng 4: Cảnh sát Trung tá Nguyễn Văn Long tuẫn tiết trước tượng đài Thủy quân lục chiến (khuôn viên Công trường Lam Sơn. Nguồn: OntheNet

Và nói cho thật chính xác là có một không khí của sự tủi nhục và sự cao ngạo!

Sự thật rõ ràng là như thế!

Chỉ nhìn cái quang cảnh khi những chiếc xe tăng đầu tiên vào Dinh Độc Lập người hiểu chuyện sẽ phải tự hỏi tại sao người dân Sài Gòn thờ ơ đến sợ hãi, nghi ngờ những kẻ chiến thắng? Hàng triệu người đã sợ hãi trốn chạy làm sao có cảnh vui mừng được!

Làm thế nào để chúng ta học được bài học lịch sử này mới là điều quan trọng.

Trên thế giới ngày nay, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã chấm dứt. Vậy thì cách hành xử, thái độ của những người từng coi nhau như kẻ thù, họ đã có thái độ như thế nào? Có những sự việc thuộc lịch sử của nhà viết sử, có những sự việc của người làm chính trị từ nhiều phía, có những việc thuộc quá khứ mà các thế hệ sau không có trách nhiệm và cũng có những việc thuộc hiện tại mà người ngày hôm nay phải chọn lựa, phải làm. Chọn lựa nào là thích hợp? Người Đức, người Pháp từng là kẻ thù của nhau, nay họ cùng nhau kỷ niệm thì họ đã chọn một thái độ nào?

Khi bức tường Bá Linh sụp đổ thì người Đức thuộc Tây Bá Linh đã hành xử ra sao?

Câu hỏi ấy, tôi đặt ra cho những kẻ tạm gọi là thắng cuộc! Bởi vì họ là kẻ trách nhiệm toàn thể cái hậu quả sau ngày 30 tháng Tư!

Sau 30 tháng Tư, mặc dù có thể có hằng triệu người muốn chạy trốn khỏi cộng sản. Nhưng chỉ có chưa đầy 200.000 có được cái may mắn ấy. Còn lại phải chịu chung số phận của cả miền Nam!

Nếu trước 1975, người dân miền Nam chỉ sợ cộng sản thì sau 1975, người dân miền Nam ngoài nỗi sợ còn thêm thù hận và sự khinh miệt người cộng sản.

Trước chỉ có 200.000 người trốn chạy khỏi cộng sản thì sau 1975, con số ấy tăng lên gần 2 triệu người.

Nhìn những cảnh tượng người dân Syria hôm nay bằng bất cứ giá nào chạy trốn ra khỏi đất nước của họ, chạy sang Thổ Nhĩ Kỳ rồi vượt biển họ đã chết đuối trên biển Địa Trung Hải thì có khác gì các thuyền nhân người Việt vào cuối thập niên 1970?

Phía người thua cuộc

Nhiều người bên phía kẻ thua cuộc, nay là dịp may cuối cùng muốn chứng tỏ một điều gì đó với một quá khứ quay quắt chưa hòa giải được, cũng chưa tìm ra một giải pháp gì.

Người ta cũng cố gắng giữ lại những hoài niệm đẹp oai hùng của cả một thời và cảm thấy bị xúc phạm nếu ai nói sự thật về họ. Nhưng ít ra họ vẫn nhận ra sự hữu ích của mình, hữu ích theo nghĩa họ còn sống, họ có mặt; họ muốn làm nhân chứng của ký ức, của lịch sử theo nghĩa còn có tôi đây, tôi có mặt trong giai đoạn ấy.

Bằng bất cứ giá nào, họ không muốn kẻ thắng trận chà đạp trên lòng tự trọng, trên danh dự của một người lính ngoài mặt trận.

Và hơn thế nữa họ muốn đồng hóa thảm cảnh năm 1975 cũng chính là họ với tư cách là nạn nhân của cộng sản. Thảm cảnh ấy chính là đời họ, số phận khắc nghiệt đã phủ lên cuộc đời họ sau 1975. Họ bị tù đầy, mất nhà, mất cửa, mất vợ, mất con và mặc dù đã sang đây trên dưới 30 chục năm, họ vẫn gọi cái ngày 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận. Một cụm từ đóng kín bất di dịch và khó để chấp nhận bất cứ danh xưng nào khác.

Cái quá khứ ấy với nhiều đau thương lẫn tủi nhục làm sao bắt họ quên được?

Về phía người Mỹ, những người trong cuộc, họ thường không có thói quen thù hận người cộng sản nên họ tránh được những thiên khiến. Họ cố gắng dùng cái lăng kính con người nhân bản, nhìn cuộc chiến ấy và chỉ thấy ở đó một thảm kịch con người mà họ đã góp phần. Họ nhìn nhận cái miền Nam sau 21 năm dưới con mắt chia sẻ và hiểu biết hơn là lúc họ còn đang tác nghiệp ở đây trước năm 1975.

Tiêu biểu nơi người Mỹ là họ chia xẻ số phận người miền Nam của họ và cảm thấy như một kẻ bội phản. Sau dây là lời trần tình của Frank Sepp, một nhân viên cao cấp CIA được trích lại trong sách của ông.

“But that last day, there were no euphemisme for what we’d done. We’d betrayed the Vietnamese who’d depended on us, and those of us who’d worked most closely with them -the young CIA and State Department officers from the trenches- now had blood on our hands, for it was we who in our daily contacts had convinced them to trust us’.(17)

Chúng ta tự hỏi, có bao giờ một cách chính thức, người cộng sản miền Bắc nhìn nhận những việc họ đã làm tan hoang miền Nam không? Không, chưa bao giờ. Chẳng những thế, họ còn làm ngược lại.

Kể từ sau 30 tháng Tư cuộc sống của con người miền Nam không còn như trước nữa. Họ mất tất cả những cái họ có. Người cộng sản gọi ngày này là Ngày Giải Phóng, Người Quốc Gia gọi nó là Ngày Quốc Hận. Giữa hai cụm từ này là tội ác chống lại con người (crimes contre l’humanité) nhân danh hai chữ Giải Phóng.

Tôi đã đọc bài báo: “Không có ngược đãi sau 30 tháng tư”, trao đổi với BBC ngày 18 tháng Tư 2015 của ông phó giáo sư Vũ Quang Hiền, từ Đại học quốc gia Hà Nội. Ông dám nói như thế này:

“Sau chiến tranh chấm dứt ngày 30 tháng Tư, 1975, ở Việt Nam không có sự ngược đãi đối với mọi người, trong đó với các lực lượng cựu quân, cán chính của chính quyền Sài Gòn.”

Ông nói tiếp:

“Tức là tuyên truyền vu cáo về miền Bắc xâm lược miền Nam và dẫn đến sự tàn sát đẫm máu thì rõ ràng là điều đó không có ở miền Nam.”

Đang cầm ly cà phê trên tay, nghe những lời tuyên bố trên của tên Phó Giáo sư, tôi chỉ muốn cầm ly cà phê hắt vào mặt tên Vũ Quang Hiền này.

Các bài viết mang tính huyênh hoang, chạy tội, dối trá, tuyên truyền bịp bợm đến ngớ ngẩn không thiếu. Họ càng nói càng mất thế giá. Họ càng tìm cách trình diễn, càng trở nên lố bịch!

Hà Nội nhân dịp này đang nỗ lực tổ chức hội thảo, rồi tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, rồi cho dân nghỉ lễ, rồi có pháo bông để dân nghèo cũng có cơ hội nhìn pháo bông mà quên đi cái thân phận họ. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ có duyệt binh có cả 6000 binh lính tham dự để diễn lại cái cảnh xâm chiếm miền Nam năm 1975! Chắc là cũng tốn kém bạc tỉ?

40 năm nhìn lại, chỉ mong rằng sau này, người ta biết coi là một bài học đau thương của cả một dân tộc.

Tiếc thương. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hạnh.Tiếc thương. Ảnh: Nguyễn Ngọc Hạnh.

© 2015 DCVOnline

(17) Frank Snepp, Irreparable Harm, trang XVII

DCVOnline | (*) Quốc hội không có thẩm quyền bầu Tổng thống theo Điều 39, Quyền hạn của Quốc hội, trong Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng Hòa. Căn cứ vào Điều 56 của Hiến pháp, nhiệm vụ của một Tổng thống chỉ có thể bị chấm dứt trước khi mãn nhiệm trong những trường hợp sau đây: chết, từ chức, mang trọng tội/truất phế, bị bệnh nặng kéo dài. Tất cả những trường hợp vừa kể không thể áp dụng với Tổng Thống Trần Văn Hương. Luận tội/truất phế Tổng thống là một trong những thẩm quyền của Tòa án Đặc biệt theo quyết định dựa trên hai Điều 85 và 87. Như vậy, hành động của Quốc hội trong việc bầu chọn Tướng Dương Văn Minh thay thế Tổng Thống Trần Văn Hương vào ngày 26 tháng tư năm 1975 có thể được coi là không hợp hiến. [Tham khảo: Văn bản của Hiến pháp mới, Việt Nam Perspectives. Vol. 3, số 1 (Tháng Tám, 1967), trang 24-40. Một phiên bản tiếng Việt của “Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967” có thể được tìm thấy ở đây: http://snipurl.com/24o4sn5]
(**) Theo statistiques de France-terre d’asile, từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 31 tháng năm 1990, Pháp đã nhận tổng cộng 42.694 người tị nạn Việt Nam, 1/3 của người tị nạn Đông Dương đến Pháp (126.100) trong giai đoạn này. (Nguồn: Lam Thanh Liem et Jean Maïs, La Diaspora Vietnamienne En France Un Cas Particulier: La Region Parisienne, Bulletin EDA n° 207, 16/10/1995.) Trong cùng thời gian đó có 543.000 người Việt tị nạn tại Mỹ (Hataipreuk Rkasnuam and Jeanne Batalova, Vietnamese Immigrants in the United States, August 25, 2014.) Từ khoảng 3000 người trước 1975, đến 1991 dân số người gốc Việt tại canada tăng lên 91.000 sau những đợt di cư của người tị nạn (Louis-Jacques Dorais, “From refugees to transmigrants: the Vietnamese in Canada”). Trước năm 1975 chỉ có khoảng 700 người gốc Việt Nam tại Úc, con số này tăng lên 124.800 người vào năm 1991 (ABC.net.auTimeline: Vietnamese immigration to Australia.)

http://www.dcvonline.net/2015/04/30/40-nam-nhin-lai-nhung-ngay-mat-sai-gon-ket/#more-28063

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s