CXN_061515_9115_Cần gì bảo hộ nữa, DNNVV đã bỏ ngỏ thị trường rồi (destroy, CAFTA): Vẫn cần những công cụ bảo hộ hiệu quả

CXN_052515_8901_Sưu Tầm: Võ Văn Ái Là Ai? (monks): Ác tăng sát nhân giết chết VNCH

Châu Xuân Nguyễn
+++++
CXN_060115_8975_Ngày càng rõ với CXN rằng DNNVV hiện giờ, cả tập thể là đang một mất một còn với ĐCSVN: Người bán bún riêu, bún ốc chuẩn bị… hội nhập (destroy)
=

Kính thưa đồng bào,

Bản thân tôi, CXN viết blog này 6 năm nay rồi, những ngày tháng 8.2011 tôi có kêu gọi DNNVV đóng cửa vì KT sẽ suy thoái bắt đầu tháng 9.2011 do ảnh hưởng của 3D siết chặt tín dụng theo nghị quyết 2 đầu năm 2011.

Thoạt đầu chỉ có một số ít rất ít DNNVV hưởng ừng, tới giữa năm 2012 bắt đầu nhiều vì BĐS lúc ấy suy sụp rất nặng nề.

Tất cả vẫn đều đều đóng cửa xuyên suốt khoảng 10 ngàn/tháng hay 100 ngàn/năm

Qua tới 2015 đầu là con số DNNVV đóng cửa lên tới 650 ngàn/700 ngàn. Quá hoảng sợ, ĐCSVN phải ép buộc kinh doanh hộ gia đình như bún riêu, bún ốc cũng phải đăng ký để con số DNNVV đừng tụt xuống quá nhiều. Ngày hôm nay thì nó thành chính thức rồi. Trích bài báo dưới đây.ngày 30.5.2015:”Cơ cấu kinh tế Việt Nam bước vào hội nhập có một số điểm đặc biệt. Đó là đóng góp của DN nhà nước (vốn bị cho là hoạt động kém hiệu quả) trong cơ cấu này đang rất lớn, trên 33%, cao khác thường so với các nền kinh tế khác, kể cả Trung Quốc. Tỷ lệ đóng góp của DN tư nhân có đăng ký chỉ là 11,2%, kinh tế hộ gia đình cũng lên tới 33,1%, hợp tác xã 5%… Câu hỏi lớn của ông Doanh là với tỷ trọng đóng góp kinh tế của hộ gia đình lớn như thế thì hội nhập ra sao?“(HT)

CXN thường tự hào là DNNVV rất nghe những lời khuyên về KTVM của CXN, ngày nay điều này là sự thật. Từ 2013, hiện tượng chen lấn tín dụng vì NS thâm hụt 500 ngàn tỉ trong tổng số thuế thu là 911 ngàn tỉ năm 2015 (huy động vốn trg dân không tới 300 ngàn tỉ) thì làm sao hệ thống NH còn tiền cho DNNVV vay để phát triển, CXN kêu gọi họ đóng cửa thêm nữa trong khi 4 Sang, 3 D kêu gọi, năn nỉ họ mở cửa nhưng họ nghe CXN nhiều hơn những báo cáo láo của ĐCSVN.

CXN viết rất nhiều bài trg 2 năm nay, phát ngôn rằng may mà DNNVV nghe lời CXN đóng cửa DN, nếu không thì 650 ngàn DN này sẽ lỗ lã, mất luôn vài tỉ mỗi DN là chuyện thường, gần như không ai phản biện điều này.

CXN đầu năm nay quyết định kêu gọi ngấm ngầm rằng DNNVV hiện giờ khinh bỉ và lơ là ĐCSVN, họ chỉ muốn ĐCSVN bị vất đi vì theo DNNVV rằng ĐCSVN quá ngu xuẫn, còn ĐCS thì DNNVV không bao giờ KD có lãi. Và họ lại một lần nữa nghe lới CXN, lơ là (bấm vào tab lơ là bên trên sẽ thấy) và không đếm xỉa gì tới hội nhập KAFTA, CAFTA, EEU v.v…..

Điều này làm cho CXN nhìn thấy rằng đối với DNNVV, họ hoàn toàn bất hợp tác với ĐCSVN tới mức độ là một sống một còn với ĐCSVN. Cộng với thân nhân của 650 ngàn DN thì chí ít có khoảng ít nhất 5 triệu dân VN tại VN ủng hộ và nghe lời CXN. Bước tới của CXN sẽ là kêu gọi anh em lao động và bà con nghe lới CXN, hợp tác cùng DNNVV chung tay lật đổ ĐCSVN này thì chúng ta sẽ thành công lớn.

Nhân tiện đây tôi xin gửi lời cám ơn tập thể DNNVV đã ủng hộ, nghe lời khuyên của CXN từ 6 năm nay và hy vọng rằng phần còn lại của dân VN cùng hưởng ứng nghe lời kêu gọi của CXN dứt điểm vất ĐCSVN này vào sọt rác và dân tộc ta bắt đầu một trang sử mới. Tôi vẫn còn nhớ lời hứa với DNNVV khi kêu gọi họ đóng cửa rằng nếu họ nghe lời tôi đóng cửa, tôi sẽ ứng cử TT khi ĐCS sập, lời hứa này tôi vẫn giữ nếu không có ai có tài , tâm, kinh nghiệm hơn tôi lúc CS sụp.

Thân ái kính chào đồng bào,

Mel 15.6.2015

Châu Xuân Nguyễn

============
http://www.thesaigontimes.vn/131143/Van-can-nhung-cong-cu-bao-ho-hieu-qua.html
Vẫn cần những công cụ bảo hộ hiệu quả
Thu Nguyệt Thứ Bảy, 6/6/2015, 15:44 (GMT+7)

Để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường, cần chủ động sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp… Ảnh: THÀNH HOA

(TBKTSG) – Trong những năm qua Việt Nam đã có nhiều cam kết mở cửa hội nhập và sắp tới sẽ còn ký kết thêm nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với những cam kết mở cửa sâu rộng hơn, theo đó không gian chính sách để Việt Nam có thể bảo hộ các ngành sản xuất trong nước đang ngày càng ít dần.

Tại hội thảo “Không gian chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế: Còn lại gì sau các hiệp định thương mại tự do?” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng tổ chức phi chính phủ ActionAid tổ chức tại TPHCM ngày 1-6-2015, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO (thuộc VCCI) thể hiện sự ủng hộ đối với việc Việt Nam chủ động hội nhập để không bị thiệt thòi về tiếp cận các thị trường lớn khi các nước đang đua nhau ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, theo bà, nếu Việt Nam không có những cam kết trên thì không gian chính sách để bảo vệ ngành sản xuất trong nước như là… bầu trời, tức có thể hỗ trợ bất cứ điều gì cho doanh nghiệp trong nước. Còn mỗi lần có thêm cam kết, Việt Nam lại xây lên cho mình một khung hạn chế hỗ trợ doanh nghiệp.

Công cụ nào còn hợp pháp?

Theo bà Trang, cho đến nay, các cam kết WTO và FTA của Việt Nam tập trung vào bốn lĩnh vực là thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, và sở hữu trí tuệ (IP), do đó không gian chính sách trong bốn lĩnh vực này để hỗ trợ sản xuất trong nước đã bị hạn chế.

Chẳng hạn như, về thương mại hàng hóa, công cụ thuế quan vẫn còn trong WTO vì Việt Nam chỉ cam kết giảm thuế chứ không xóa bỏ thuế, nhưng trong các FTA thì Việt Nam gần như đều cam kết đưa hầu hết các dòng thuế về 0%, như ATIGA (Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN). Hiện nay Việt Nam sắp ký kết và thực thi FTA với gần 50 nước nên theo đó, thuế là công cụ hỗ trợ khó có thể sử dụng được trong tương lai.

Biện pháp hỗ trợ sản xuất nội địa bằng hàng rào phi thuế quan, như giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu,… hiện đã bị thu hẹp khá nhiều. Với các cam kết trong WTO, Việt Nam gần như không thực hiện biện pháp này được nữa.

Hiện có những chính sách bảo hộ Việt Nam chưa sử dụng hay sử dụng không hiệu quả, nhưng điều đó không có nghĩa là không cần nữa và tự cam kết không dùng những chính sách này.

Về biện pháp hỗ trợ bằng trợ cấp, như hỗ trợ tín dụng, hiện quy định trong WTO có hai loại thì trợ cấp “đèn đỏ” (trợ cấp cho những doanh nghiệp xuất khẩu, trợ cấp để doanh nghiệp dùng hàng nội địa thay vì nhập khẩu) đã bị cấm hoàn toàn, chỉ còn lại trợ cấp “đèn vàng,” tức trợ cấp được phép nhưng vẫn có thể bị kiện.

Tuy nhiên, ngoài bốn lĩnh vực trên, không gian chính sách để Việt Nam hỗ trợ ngành sản xuất nội địa vẫn còn, mặc dù không nhiều. Không gian để dựng các hàng rào kỹ thuật còn khá rộng. Ta có thể tùy tình hình và nhu cầu để quyết định sử dụng các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) như quy định về dán nhãn, quy cách kỹ thuật… hay biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS). Một biện pháp nữa đang được các nước phát triển sử dụng khá thuần thục và tinh tế là phòng vệ thương mại, như chống bán phá giá, chống trợ cấp, và tự vệ…

Bà Trang cho biết thêm, với những FTA đang đàm phán, như TPP, mức độ mở cửa và lĩnh vực cam kết rộng hơn và sâu hơn, theo đó các công cụ bảo hộ sẽ càng ít dần. Các đàm phán FTA trước đây của Việt Nam chủ yếu theo phương thức chọn cho, tức ngành nào được chọn “mở cửa” thì mở, còn lại là “đóng cửa”. Tuy nhiên, trong TPP, phương pháp đàm phán là chọn bỏ, tức giữ lại một số ngành Việt Nam muốn bảo hộ, còn lại phải “mở cửa” hết. Theo đó, không gian để Việt Nam bảo vệ cho những ngành như dịch vụ, và những ngành nào đó xuất hiện trong tương lai, là không còn nữa.

Ngoài ra, không chỉ chính sách bảo hộ bị thu hẹp, mà không gian chính sách trong việc điều hành có thể cũng bị ảnh hưởng. Cụ thể, trong TPP có nguyên tắc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài một cách công bằng và bình đẳng, và cơ chế ISDS cho phép doanh nghiệp nước ngoài kiện Chính phủ ra trọng tài thương mại quốc tế. Theo đó, khi doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư tại Việt Nam với các quy định có sẵn, nhưng nếu trong tương lai Việt Nam đưa ra các quy định mới, như tiêu chuẩn môi trường cao hơn, thì nhà đầu tư có thể kiện Chính phủ vì đã đối xử không công bằng, khiến họ mất lợi nhuận dự kiến. Do đó, dù không gian chính sách có thể là rộng, thì cũng sẽ bị hạn chế một cách vô hình, vì Chính phủ có thể sợ bị kiện mà không dám đưa ra các chính sách mới.

Chưa tận dụng những gì còn lại

Với không gian chính sách đang ngày càng hạn hẹp như vậy, Việt Nam đã và đang tận dụng những công cụ hiện hữu như thế nào để bảo vệ ngành sản xuất non kém trong nước?

Tại hội thảo hôm 1-6, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM, nói rằng Chính phủ có rất ít chính sách hỗ trợ cho ngành gỗ. Tháng 6-2014, Thủ tướng đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Trong 10 ngành công nghiệp được quy hoạch có ngành chế biến gỗ, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành và đề cập đến ưu đãi.

Ông Hạnh cho biết thêm, trước đây có chương trình xúc tiến thương mại của Bộ Công Thương, hàng năm tổ chức cho khoảng 12 doanh nghiệp xuất khẩu đi Mỹ triển lãm đồ gỗ, nhưng cũng đã bị cắt trong năm nay.
Theo bà Nguyễn Hằng Nga (Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương), Việt Nam hay bị nước ngoài “bắt giò” vì những trợ cấp như cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc trợ cấp dưới hình thức miễn, giảm thuế, miễn, giảm tiền thuê đất cho doanh nghiệp xuất khẩu…

“Trong khi xử lý các vụ việc này, chúng tôi phát hiện là một số chương trình trợ cấp Việt Nam đưa ra không hiệu quả, nên doanh nghiệp bị điều tra trợ cấp cũng không biết đến chương trình này”, bà Nga cho biết.
Bà Nga cho rằng hỗ trợ, trợ cấp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành sản xuất chủ lực hay các ngành gặp khó khăn. Do đó, Việt Nam cũng nên trợ cấp, nhưng phải hiệu quả, thiết thực, tránh tràn lan. Và, doanh nghiệp khi nhận các trợ cấp này phải chuẩn bị sẵn tâm lý và nguồn lực, để chấp nhận đánh đổi khi bị kiện chống trợ cấp.

Đối với các biện pháp như chống bán phá giá, chống trợ cấp… tính đến thời điểm hiện nay mặc dù Việt Nam phải chịu trên 80 vụ kiện điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, nhưng đến nay Việt Nam chỉ mới chủ động kiện ba vụ tự vệ, chống trợ cấp. Theo bà Trang, trên thế giới, 99% các vụ kiện này xuất phát từ đơn kiện của doanh nghiệp chứ không phải chính phủ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, doanh nghiệp muốn đi kiện cũng không dễ vì thiếu thông tin…

Bên lề hội thảo, bà Trang cho biết thêm, hiện có những chính sách bảo hộ Việt Nam chưa sử dụng hay sử dụng không hiệu quả, nhưng điều đó không có nghĩa là không cần nữa và tự cam kết không dùng những chính sách này.

Đọc thêm:

– Tự do và bảo hộ

———–

http://www.thesaigontimes.vn/131142/Tu-do-va-bao-ho.html
Tự do và bảo hộ Trang Nguyễn
Thứ Bảy,  6/6/2015, 10:01 (GMT+7)

Thương mại thì cứ tự do, nhưng chuyện hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa, nhất là những ngành nhạy cảm hoặc quan trọng chưa bao giờ là chuyện lỗi thời. Ảnh: MINH KHUÊ

(TBKTSG) – Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa một loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới hứa hẹn những cơ hội có một không hai cho nền kinh tế. Mặc dù vậy, cùng với việc mở ra thị trường mới, các FTA cũng thu hẹp không gian mà Chính phủ có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ cho các ngành kinh tế nội địa. Không gian càng hẹp, chính sách lại càng phải tinh.

Mặt trái của tấm huy chương

Thời gian này không khí hội nhập lại nóng rực các diễn đàn kinh tế Việt Nam. Tuần đầu và cuối tháng 5 được đánh dấu bằng hai FTA được chính thức ký kết, một với Hàn Quốc, một với Liên minh Kinh tế Á – Âu. Quãng giữa là những ngày đàm phán căng thẳng của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) để có thể hoàn tất trong một tương lai gần. Tháng 6 này cũng hứa hẹn là những ngày cuối cùng của đàm phán thương mại tự do với EU, ít nhất là theo tuyên bố của phía EU. Việt Nam vậy là đã gần đạt bước chân trước cánh cửa thực thi của một loạt FTA lớn nhất từ trước tới nay.

Có lẽ không phải nói nhiều về những gì mà tiến trình mở cửa, hội nhập và tự do hóa thương mại mang lại cho nền kinh tế, cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của cả trăm ngàn doanh nghiệp và cải thiện thu nhập cho hàng chục triệu người lao động Việt Nam sau vừa tròn hai thập kỷ hội nhập. Có lẽ cũng không ai nghi ngờ về những lợi ích to lớn tiềm tàng của những FTA quan trọng mà Việt Nam sẽ có trong thời gian tới, với những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam và của cả thế giới.

Dù vậy, mọi tấm huân chương đều có mặt trái, và trong mặt trái của tấm huân chương thành tích FTA có một mảng ít được nói tới, dù không kém quan trọng. Đó là không gian chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Nhà nước sẽ bị giới hạn tương ứng với từng cam kết trong các FTA. Và như thế, khả năng Việt Nam sử dụng các biện pháp để tạo điều kiện cho các ngành nội địa phát triển cũng sẽ giảm đi nhiều.

Lợi ích quốc gia bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu, trong mọi tính toán, trong mọi cam kết. Không có chính phủ nào sẵn sàng đối xử hoàn toàn bình đẳng giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Chuyện đã lạc hậu chưa?

Có lẽ nhiều người sẽ nghĩ: bây giờ là lúc nào rồi mà lại nói chuyện bảo hộ? Thực ra chuyện trông vậy mà không phải vậy.

Thương mại tự do – không rào cản, để hàng hóa, dịch vụ, lao động và đầu tư lưu chuyển thông suốt giữa các quốc gia, là giấc mơ tuyệt vời của nền kinh tế toàn cầu hóa.

Dù vậy, người tỉnh táo sẽ biết giấc mơ này chỉ là giấc mơ thôi. Có thể các FTA càng về sau càng xóa bỏ được nhiều rào cản hơn trong thương mại giữa các nước, có thể môi trường kinh doanh ở khắp nơi trên thế giới sẽ thuận lợi, hài hòa hơn, thống nhất và ít bị cản trở hơn. Nhưng sẽ chẳng thể nào có một thế giới đại đồng mà ở đó không còn bất kỳ rào cản thương mại nào giữa các nước hay tất cả đều chung một hệ thống quy tắc kinh doanh.

Đằng sau đó là một triết lý muôn đời: lợi ích quốc gia bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu, trong mọi tính toán, trong mọi cam kết. Không có chính phủ nào sẵn sàng đối xử hoàn toàn bình đẳng giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài hay triệt tiêu toàn bộ những biện pháp ưu ái, hỗ trợ hay tạo điều kiện cho doanh nghiệp của mình.

Vì vậy, thương mại thì cứ tự do, nhưng chuyện hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa, nhất là những ngành nhạy cảm hoặc quan trọng chưa bao giờ là chuyện lỗi thời cả.

Giàu như Nhật vẫn bảo hộ nông nghiệp tới răng, mạnh như Mỹ vẫn muốn bảo vệ ngành giày dép lộ liễu bằng thuế quan, sang như các nước thuộc OECD vẫn cứ dùng đủ mọi cách tinh vi để hạn chế hàng nhập khẩu từ nước ngoài… thì không cớ gì mà Việt Nam lại phải ngại ngùng khi nói tới các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nội địa của mình cả!

Còn không gian cho chính sách hỗ trợ nội địa?

Thử rà lại những cam kết mà chúng ta đã có, WTO và tám FTA đang có hiệu lực, có thể thấy không gian để chúng ta hỗ trợ, bảo vệ cho doanh nghiệp nội địa đã hẹp lại đáng kể.

Hầu như đã không còn bao nhiêu không gian để bảo vệ sản xuất trong nước bằng thuế quan hay bằng các biện pháp phi thuế, trừ với một số nhóm sản phẩm nhạy cảm. Cũng không còn nhiều lắm không gian để ưu đãi cho nhà đầu tư trong nước nhiều hơn nước ngoài. Chúng ta cũng không còn được áp dụng những gói trợ cấp tín dụng riêng cho những ngành, những lĩnh vực mà chúng ta mong muốn. Chúng ta cũng sẽ không thể ưu tiên doanh nghiệp nội địa trong các cuộc đấu thầu mua sắm bằng tiền ngân sách, hay không thể tự do áp dụng các tiêu chuẩn lao động, môi trường phù hợp với sức chịu đựng của doanh nghiệp nội địa…

Mặc dù vậy, so với không gian đã bị giới hạn, không gian còn lại vẫn rộng rãi lắm. Chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng hàng rào kỹ thuật (TBT), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) để bảo vệ sản phẩm nội địa chất lượng tốt, bảo vệ nông sản nội địa an toàn. Chúng ta cũng có thể dùng các công cụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ (TR) nếu hàng hóa nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh hay nhập khẩu ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất trong nước.

Chúng ta thậm chí vẫn có thể sử dụng các biện pháp trợ cấp tài chính cho doanh nghiệp một ngành nhất định miễn đó không phải là trợ cấp xuất khẩu hay nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa, thậm chí cả các biện pháp ưu đãi tài chính không nhằm vào nhóm riêng biệt nào, hay các hỗ trợ tín dụng cho sản xuất nông nghiệp… Vả lại, còn rất nhiều không gian khác mà Việt Nam không có cam kết gì, thương mại là vô cùng, và những gì đã cam kết mới chỉ loanh quanh ở hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư mà thôi.

Ví dụ những biện pháp hỗ trợ chung cho tất cả các doanh nghiệp nhưng đặc biệt có ý nghĩa với các doanh nghiệp nội địa vốn còn yếu ớt như hỗ trợ đào tạo lao động, nghiên cứu – phát triển, cơ sở hạ tầng trong hàng rào, ngoài hàng rào… Ví dụ những biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, để quản lý không trở thành rào cản cho khả năng sáng tạo, kinh doanh của doanh nghiệp…

Không gian chính sách, vì vậy, vẫn còn rất rộng lớn. Có chăng là chúng ta có thực sự biết cách sử dụng, để tung cánh trong không gian đó hay không mà thôi.

end

Advertisements

2 comments on “CXN_061515_9115_Cần gì bảo hộ nữa, DNNVV đã bỏ ngỏ thị trường rồi (destroy, CAFTA): Vẫn cần những công cụ bảo hộ hiệu quả

  1. hihihi nhanh chóng đưa các doanh nghiệp di động như ,chợ di dộng,xe bán trái cây di động,chợ mua đồ cũ di động,chơ mua ve chai di động,đấm bóp giác hơi di động,chợ bán động vật hoang dã di động.cữa hàng ăn di dộng.v.v…và v.v… tham gia ngày hội nhập fta cho thiên hạ biết đĩnh cao trí tuệ của khỉ./.

    Like

  2. “Chống bán phá giá, chống bảo hộ …” Chẳng ăn thua. Chỉ cần CHỐNG cs, LẬT ĐỔ đcsVN thì mọi thứ sẽ thành công như ý.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s