hoànglonghải – Người đi tiên phong

http://quanvan.net/2016/11/27/hoanglonghai-nguoi-di-tien-phong/

November 27, 2016 quanvan *Báo Tổ Quốc, hoànglonghải, ZZĐ-file-Cộng tác 0

Đã có 58 lần xem

Tôi và V. ngồi ở ban-công lầu hai khách sạn Sông Thương trên đường Đào Duy Anh, nhìn xuống đường. Giờ nầy, con đường hơi vắng, không xe cô ồn ào như trong giờ cao điểm.

Chỉ xuống một bóng người ngồi bên kia đường, V. nói với tôi:

-“Đó! Danh ca của anh đó!”

Tôi nhớ đã mấy lần tôi nghe tiếng hát đó, từ phía dưới đường vẳng lại, trong khi tôi còn ngủ mơ màng. Nghe nhạc, mà nghe trong giấc ngủ mơ màng, là điều tôi từng thích, khi còn trẻ.

Hồi ấy, không có phương tiện âm thanh dồi dào như bây giờ. Nhà nào có radio điện đã là khó. Khu vực ngoại ô tôi ở hồi ấy chưa có điện, radio transistor chưa ra đời, thành ra, mỗi buổi sáng, khi tôi còn ngủ mơ màng, nghe tiếng hát, chính là tiếng hát cô em gái tôi. Em tôi thường dậy sớm, đang làm một công việc gì đó, quét nhà hay dọn dẹp mùng mền, vừa làm vừa hát – con nhỏ thích hát – dù hay hay dở, giọng hát trẻ bao giờ nghe cũng dễ nghe. Đầu thập niên 1950, bài hát chưa có nhiều, quanh đi quẩn lại, cũng chỉ những bài quen thuộc. “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt”, hoặc là “Người ơi! Nhớ chăng, mắt cô lái nhìn theo là lòng dân chờ mong” hay “Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối”…

Nhà tôi ở là nhà từ đường. Bát nhang trên bàn thờ nhiều hơn người trong nhà, nên trong cái vắng lặng của buổi sớm mai, trong cái lành lạnh của hơi nước sông Thạch Hãn kế bên nhà bay lên, trong cái âm u của hồn ma bóng quế đang lấp ló đâu đó sau những bức rèm trước bàn thờ, tôi cảm nhận cái hay của âm nhạc một cách dễ dàng, trong cơn ngủ muộn, vừa thấm đậm vừa buồn, như ăn sâu vào tuổi niên thiếu của tôi.

Tôi có mê nhạc cũng không có gì lạ cả. Ấy là chưa kể, cái tính mê ca hát, từ nơi mẹ tôi ảnh hưởng đến tôi – mẹ tôi thường ca Huế, nghêu ngao mỗi khi mẹ tôi rảnh rổi – ấy là chưa kể ông cậu họ tôi, là một người nổi tiếng vui thú cầm ca trên sông Hương ở đất Thần kinh.

Một lúc sau, tôi nói với V.:

-“Con nhỏ hát hay lắm đó!”

Quả thật, cái bóng nhỏ nhoi ngồi bên kia đường là một con nhỏ, một con nhỏ mù bẩm sinh. Nó ngồi bên kia đường, sau một cái thùng gỗ, có thể là cái võ bằng gỗ đựng bia chai. Trên cái thùng gỗ là những tấm vé số được chưng bày theo hàng lối ngang dọc đẹp mắt. Phía sau nó là một cây đàn “ghita” thùng, dựng vào bờ tường rào ngôi nhà phía trong.

Đầu nó đội cái nón lá hơi cũ, chưa đến nỗi rách bươm như người ta thường thấy ở mấy người ăn mày. Trên mình là chiếc áo sơ mi tay lững, màu xanh biển, quần đen, có lẽ quần ta.

Một lúc, tôi nói với V.:

-“Em chê anh nói sai à? Nó hát như một danh ca.”

-“Không! Em không nói vậy. Cả khu nầy, ai cũng khen nó hát hay, hay lắm.” V. trả lời.

-“Làm ca sĩ, người ta cần có một là giọng, hai là hơi và ba là gì, em biết không?”

-“Ba là cái hồn trong câu hát. Hát mà vô hồn thì ai nghe!”

-“Hồn là sự xúc cảm của người hát, có hồn mới có truyền cảm. Có người hát tự nhiên mà có hồn, có xúc cảm, như Sĩ Phú chẳng hạn, phải không?” Tôi hỏi V.

-“Còn anh nghĩ Khánh Ly, Lệ Thu thì sao?”

-“Hồi trước, báo chí Saigon nhận xét, Khánh Ly “hát từ nơi miệng”, Lệ Thu thì hát từ trong bụng”. Vậy mà người nào hát cũng hay.”

-“Khánh Ly chỉ hay khi hát Trịnh Công Sơn.” V. nói.

-“Có lần tổng thống Thiệu cũng nói vậy. Nhạc Trịnh Công Sơn mà lên là nhờ Khánh Ly.”

-“Tổng thống mà cũng mê nhạc dữ!” V. nói.

-“Cả miền Nam, riêng gì ổng. Trước 1975, cả miền Nam ai cũng mê nhạc, nhạc lính, nhạc tình, nhạc Bolero.”

-“Con nhỏ nầy nó hát Bolero hay lắm. Anh có để ý không?” V. hỏi.

-“Hôm qua nó hát mấy bài của “vua Bolero”: “Trên bốn vùng chiến thuật”, “Kẻ ở miền xa”, “Đò Chiều” làm anh nhớ hồi còn ở lính. “Áo nhà binh thương lính, lính thương quê”. Không biết Trúc Phương có ở lính không mà ông viết hay vậy, đúng tâm trạng người lính.”

-“Hôm ông qua đời, báo chí ở đây mai mỉa ông “đi chuyến “Đò Chiều”. Hận thù chi mà lâu dữ.” V. nhắc lại chuyện cũ.

-“Người ta dạy như vậy mà. Còn chế độ thì còn hận thù. Hận thù không còn thì chế độ cũng “đi đoong”. Họ không mai mỉa người nhạc sĩ chống lại chế độ sao được, dù chống bằng âm nhạc.” Tôi nói.

-“Bằng tình thương mới là nguy hiểm.” Tôi nói thêm.

-“Trước thì vậy! Bây giờ hát tùm lum. Đài nào, văn nghệ nào, không có nhạc vàng, ai mà nghe.” V. nhận xét.

-“Có hai điều cần nói: “Nhạc vàng là nhạc của dân miền Nam, nói chung. Phần đông, ai cũng thích nhạc vàng, ai cũng hát nhạc vàng, ngoại trừ số người già, người ở quê thích cải lương. Nhạc vàng, cải lương, tính giai cấp tiểu tư sản cũng như nhau, ngoại trừ một số nhỏ, bần nông, cố nông mới không ưa thứ văn nghệ nầy. Người Bắc vô Nam, sau 1975, ban đầu thì tuyên truyền, vì bản chất nông dân vô sản, chê nhạc vàng, chê quần ống loe, coi như “ngon lành” lắm, nhưng rồi càng ngày càng khá lên, giàu lên, càng mở rộng nhãn quan xã hội, hoặc có khi “thừa cơm rửng mỡ”, “phú quí sinh lễ nghĩa”, đâm ra thích nhạc vàng. Không nghe nhạc vàng là còn “quê Bắc Kỳ” đó, phải không? Bây giờ mà không nghe nhạc vàng thì nghe gì? Không lý nghe “Như có bác Hồ…”

Nghe câu chót, tôi và V. cùng cười.

-“Ca sĩ hải ngoại bây giờ về nước hát nhiều lắm!” V. nói

-“Về là phải!” Tôi tán thành.

-“Anh nói nghe lạ! Không phải bên Mỹ người ta chống dữ lắm?”

-“Chống chớ! Anh thì không?” Tôi nói.

-“Anh nói kỳ! Không lý đầu hàng?” V. nói.

-Vấn đề nầy có hai mặt: Một là về kiếm ăn, là “đầu hàng”. Hát trong nước, “cachet” cao hơn. Hai là về với tinh thần…” Tôi nói.

-“Tinh thần gì?” V. hỏi.

-“Em nhớ vụ “Nhân Văn” ngoài Bắc hồi trước không? Mấy chả kéo nhau đi ở tù hết, nhưng cái dư âm của nó đến bây giờ chưa dứt. Họ đúng là những người “Nay ở trong thơ nên có thép” như Hồ Chí Minh nói vậy. Nhưng thép đó lại đâm vào chế độ Hà Nội.

-“Còn bây giờ?” V. hỏi

-“Với những người về nước kiếm ăn hay những người trong nước ra với “nghị quyết 36” thì không nói. Còn những ai cho rằng tiếng hát của mình có thép thì anh hoan hô.”

-“Tiếng hát có thép là sao?” V. hỏi.

“Việt Nam tôi đâu?” không phải là thép sao? “Hãy đứng lên” không phải là thép sao? Thép trong nước và thép hải ngoại đứng chung một giới tuyến thì thành cái gì? Chế độ không sợ sao?” Tôi giải thích.

-“Anh nói vậy thì em hiểu! Nhưng khó lắm.” V. nói

-“Không những khó mà phải trường kỳ, cam đảm, không biết sợ. Thời “Nhân văn” khó hơn bây giờ, dễ sợ hơn bây giờ, như ông Nguyễn Hữu Đang là cái gương đấy. Có người sẽ như họ, can đảm hơn họ, không “biết hèn” như Nguyễn Tuân. Theo đó thì ca sĩ, nghệ sĩ là người tiên phong vậy!” Tôi nói.

-“Võ khí của họ là tiếng hát. Họ hát gì?” V. hỏi.

-“Họ hát như Việt Khang vậy. Nếu chưa hát được như Việt Khang thì họ hát “Bạch Đằng Giang”, “Bóng cờ lau” thậm chí cả “Dòng Sông Hát”, những bài ca lịch sử, hoặc có bài mới soạn, khi phổ biến tràn lan, nhà cầm quyền với hiểu, mới cấm, cũng đã trễ. Hy vọng đến một lúc nào đó, không chỉ ca sĩ hát mà thanh niên cũng hát, ca đoàn cũng hát, công nhân cũng hát, nông dân cũng hát thì chính quyền có cấm cũng không cấm được nữa, không kiểm soát nổi. “Đồng thanh tương ứng” mà.

-“Anh hơi lạc quan phải không?” V. hỏi.

-“Cũng có thể, nhưng một lúc nào đó, hy vọng không xa, nó sẽ tới. Sự sụp đổ của một chế độ, phong kiến, đế chế, quân chủ, độc tài… là từ trong lòng chế độ ấy, không phải từ bên ngoài…”

***

Bỗng tôi hỏi V.

-“Con nhỏ nầy hát toàn nhạc vàng, phải không?

-“Không thì ai mà nghe! Người ta nghe đông lắm, nhất là khi nó hát Bolero.”

-“Công An không bắt?” Tôi hỏi.

-“Công An cũng nghe, bắt gì!” V. trả lời.

-“Cũng là một “vai trò” đấy. Chế độ đành bất lực, càng ngày càng bất lực.” Tôi lên tiếng.

-“Cứ cái đà Bolero nầy, nó sẽ “khuấy động” cả miền Nam cho mà coi, không chừng cả miền Bắc nữa, chế độ sẽ không yên với cái thép Bolero nầy đâu!” Tôi giải thích.

-“Sao vây? V. hỏi.

-“Em biết không? Bolero là âm nhạc của miền Nam, nó phát triển sâu rộng – vừa sâu vừa rộng – khắp cả miền Nam, bất phân già trẻ, đàn ông, đàn bà, thành thị thôn quê. Điệu nhạc du dương, êm đềm, nhẹ nhàng ấy sẽ là một vũ khí mạnh mẽ, chế độ không làm gì được đấy. “Nhu thắng cương” là vậy.” Tôi nói.

-“Anh nghĩ “Nước chảy đá mòn.” Mà sao điệu Bolero phổ biến như vậy anh?” V. hỏi.

-“Công của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đó.” Tôi giải thích.

-“Anh nói em không hiểu. Em không nghĩ cụ Diệm là người ưa âm nhạc mới. Âm nhạc cải cách.” V. nói.

-“Đúng đấy! Thởi ông làm tổng thống, ổng cấm “Tư đổ tường.” Tôi nói.

-“Tứ đổ tường là gì?” V. lại hỏi.

-“Em không hiểu là phải, lúc ấy, “Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời” mà.” Tôi cười nhìn V. và nói.

-“Thôi đừng giởn nữa. Anh giải thích đi. Em muốn biết đây.” Vừa cười, V. vừa cằn nhằn.

-“Như thế nầy. Tổng thống là cụ đồ Nho, đạo đức Nho phong dữ lắm nên ra lệnh cấm “hút xách, cờ bạc, đĩ điếm, rượu chè. Bốn thứ là “tứ”. Nhảy đầm cũng bị cấm, trai gái ôm nhau mà nhảy là gai mắt cụ, phạm “thuần phong mỹ tục” nên cụ cấm.” Tôi giải thích.

-“Nhạc Bolero cũng là nhạc nhảy đầm?’ V. hỏi.

-“Em từng nhảy đầm mà hỏi trật lất. Valse, tango, blue mới nhảy đầm. Khi vũ trường bị cấm, âm nhạc bèn “xuống đường”. Nhạc “xuống đường” đâu có thể là nhạc vũ trường. Với lại thời bấy giờ hòa bình, giáo dục, âm nhạc, nghệ thuật, văn học đều phát triển thì nhạc ở nơi công cộng phải là Bolero chớ! Bolero là âm nhạc của đường phố”.

Một lúc sau, tôi nói tiếp:

-“Nhạc cổ điển thì mạnh ở châu Âu, nhạc nhảy đầm nơi công chúng đông đảo, giữa trời nắng chang chang, là âm nhạc của Nam Mỹ. Người Mỹ họ gọi những bữa ăn ngoài trời, thường nướng thịt bò, khoai Tây là “cook out”. “Cúc ao” là vừa ăn, vừa nhảy đầm giữa trời. Cảnh nầy anh chỉ đọc trong sách với nghe nói. Thấy thì thấy trong phim “Giant”, có diễn cảnh đó.

-“Rồi mình bắt chước?” V. hỏi.

-“Nhạc Tây phương thì nhạc sĩ mình bắt chước. Nhưng nhạc sĩ miền Nam hồi xưa khéo lắm. Họ dùng điệu Bolero của Nam Mỹ, nhưng người “Mếc-xì-cô” họ hát nhanh, mình chơi chậm lại, chậm là vì tâm hồn người Việt mình. Người Tây phương thì sôi nổi, cuồng nhiệt; người Việt mình thì trầm lắng, êm đềm, nhẹ nhàng, dễ diễn tả tâm hồn người Việt. Thiệt tài tình.”

***

Tôi nói:

-“Anh hỏi hơi tò mò một chút. Con nhỏ “danh ca” có cha mẹ không. Chồng nó đâu?”

-“Cha mẹ mất ở Kinh Tế Mới. Người ta đưa nó về Trường Mù khi nó mới năm, bảy tuổi gì đó.” V. giải thích.

-“Rồi có chồng?” Tôi hỏi.

-“Thằng chồng nó cũng con mồ côi, quê đâu ở miền Tây. Cả hai đều mê âm nhạc. Khi thằng chồng cùng bạn bè tới biểu diễn ở trường mù, anh chị phải lòng nhau. Con nhỏ bỏ trường đi theo. Hồi đó hai đứa có cái xe “loa”. Con vợ đẩy xe, chồng bán vé số dọc đường phố. Được một năm, thằng chồng bỏ vợ theo một ban nhạc, đi biểu diễn ở các tụ điểm. Mê âm nhạc hơn mê vợ.”

-“Không đem vợ đi theo?” Tôi hỏi.

-“Chưa kịp đem theo thì chồng vô tù.” V. nói.

-“Vô tù? Vụ gì?” Tôi nôn nóng hỏi.

-“Vụ gì nữa, cũng dùng âm nhac để phản kháng, như Việt Khang vậy” V. giải thích.

Một lúc, V. kể tiếp:

-“Mất chồng. Con nhỏ về đây, bán vé số sống qua ngày.”

-“Tôi nghiệp chưa? Tôi than.

-“Ban đầu mới tội. Lợi dụng con nhỏ mù, người ta ăn gian nó. Mất tiền, ngày nào cũng khóc. Bây giờ thì hết rồi.” V. nói.

-“Người ta không còn ăn gian nó nữa?” Tôi hỏi.

-“Sức mấy! Saigon bây giờ là “thành phố bác” mà anh! Nhờ nó biết “sờ” tiền. Nó “sờ” tiền hay lắm! Cầm tờ giấy bạc, nó “sờ sờ” là biết tờ giấy giá bao nhiêu. Người ta không còn ăn gian nó được nữa. Tài không? “Sờ” tờ giấy mà nó biết. Sao vậy anh?” V. hỏi.

-“Tạo hóa em à! Tạo hóa nhiệm mầu. Mất giác quan nầy, trời cho phát triển cái giác quan khác. Bên Mỹ, thằng mù casĩ Bocelli hát hay kinh khủng. Mất thị giác, âm thanh, xúc giác trở thành nhạy bén, “sờ” là biết đồng tiền. Trời cho cả đó!” Tôi giải thích.

Một lúc, tôi hỏi:

-“Em hay cho tiền nó không?”

-“Cho hoài. Thương lắm anh à! Số phận con người sao mà nghiệt ngã vậy! V. nói.

  1. lại hỏi tôi:

-“Anh nghĩ, hai đứa nầy có bỏ nhau không?”

-“Em nghĩ sao?” Tôi hỏi ngược lại.

-“Em thì không! Linh tính cho em thấy hai đứa nầy không bỏ nhau!” V. giải thích.

-“Anh cũng nghĩ vậy. Anh căn cứ cái bản chất của nó. Hai đứa cùng đam mê âm nhạc mà đến với nhau. Theo Tây phương thì “Yêu không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn về môt hướng.” Hai đứa nhìn nhau thì bỏ nhau dễ lắm, còn nhìn về một hướng thì họ sẽ nắm tay nhau mà đi, đi tiếp”.

-“Câu nói đó là của một nhà văn Pháp anh à!” V. góp ý.

-“Đúng đó” – Tôi nói – của Exupery, ông nầy viết hay lắm. Nhưng Việt Nam mình viết hay hơn, tình cảm hơn.”

-“Ai?” V. đột ngột hỏi.

Tôi không trả lời ngay câu hỏi, đọc bốn câu thơ:

“Âm thanh trống rỗng, còn chi nữa

Gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau!

Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại,

Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau!

-“Anh làm?” V. hỏi tôi.

-“Sức mấy. Thi bá đó em!” Tôi cười trả lời.

-“Vũ Hoàng Chương?” V. hỏi.

-“Có lẽ ông ấy làm bài thơ nầy sau tháng Tư, Bảy lăm. Không những bi quan mà còn tuyệt vọng. Em nghĩ “ba kiếp lang thang” là cái gì không?” Tôi hỏi.

  1. giải thích:

-“Quá khứ, hiện tại, tương lai. Ba kiếp chụm làm một, có phải sau ngày đó, người miền Nam không còn quá khứ, không có tương lai, còn hiện tại thì trơ cứng lại. Phải không?”

-“Mai mốt em thế anh làm giáo sư Việt Văn được rồi đó.”

-“Ai cho anh dạy học mà mơ! Bỏ đi Tám.” V. chọc quê tôi.

Tôi nói:

-“Bây giờ tình hình khác hồi đó. Người ta bản lĩnh hơn, ít sợ hơn, dũng mãnh hơn. Bi quan cũng không, nói chi tuyệt vọng như Vũ Hoàng Chương. Con nhỏ mù sẽ mở mắt ra, đón thằng chồng trong tù về…”

  1. nói:

-“Nhưng số phận vẫn còn nghiệt ngã. Mù bẩm sinh. Cho nó ra đời mà bắt nó mù. Tôi nghiệp cho nó.”

-“Em nói tội nghiệp là nói theo nhà Phật. Cái nghiệp của kiếp trước là cái mù của kiếp nầy. Ai tin thì tin, anh không tin. Nhân quả thì có, nhưng cho đó là cái nghiệp của kiếp trước thì tin sao đươc? Đó là sự tình cờ của Tạo hóa. Đời không có số phận, chỉ có hazard. Tự mình tìm tới đó chớ. “Cứ tìm những chốn đoạn trường mà đi” Cái đoạn trường của Kiều là do cô tìm tới mà thôi.” Tôi nói.

-“Vậy cái mù của con nhỏ do đâu mà ra?” V. lại hỏi tôi.

-“Do đâu à? Do ông Trời, do Hóa Nhi, do Trẻ Tạo, do Lão Tặc Thiên, do “Chết đuối người trên cạn mà chơi.”

-“Ông trời độc ác?” V, cười hỏi tôi.

Tôi không góp chuyện nữa, lại đọc mấy câu thơ của Huy Cận:

Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi

Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận

Đã sinh ra thân thể của con người.

ThanksGiving 2016

hoànglonghải

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s