Đảng Cộng Sản Việt Nam

https://www.danluan.org/tin-tuc/20170518/dang-cong-san-viet-nam

Đảng Cộng sản Việt nam là một đảng phái chính trị được thành lập tại Hồng Kông vào ngày 06 Tháng Giêng 1930 theo Quốc tế Cộng sản chỉ đạo Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh (1890 – 1969), hợp nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông dương vào lúc đó: Đông dương Cộng sản Đảng, An nam Cộng sản ĐảngĐông dương Cộng sản Liên đoàn. Cả ba tổ chức đó đều nhân danh cộng sản nhưng lại kình chống nhau kịch liệt khiến Quốc tế Cộng sản phải chỉ đạo Hồ Chí Minh hợp nhất ba tổ chức đó thành Đảng Cộng sản Việt nam [1].

Cuộc họp thành lập được tiến hành trên sân vận động, các đại biểu giả vờ làm khán giả xem đá bóng để họp. Có ba người đến họp: Trịnh Đình Cửu, đại biểu cho Đông dương Cộng sản Đảng; Nguyễn ThiệuChâu Văn Liêm, đại biểu cho An nam Cộng sản Đảng [2]. Đông dương Cộng sản Liên đoàn không có đại biểu đến dự cuộc họp này mà chỉ xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt nam vào ngày 24 Tháng Hai 1930 [3].

Về ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt nam được thành lập vào ngày 06 Tháng Giêng 1930 nhưng đến Đại hội 3 được tiến hành tại Hà nội vào năm 1960, Đảng Cộng sản Việt nam đột ngột thay đổi ngày thành lập từ ngày 06 Tháng Giêng 1930 thành ngày 03 Tháng Hai 1930 theo “các đồng chí Liên, tức Liên bang Soviet đã sụp đổ vào đúng Lễ Giáng sinh 1991, cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ”. Chỉ có một đại biểu duy nhất, cụ thể là Lê Minh, phát biểu ý kiến bác bỏ đối với việc thay đổi ngày thành lập nhưng Hồ Chí Minh đã gạt phăng không cho Đại hội 3 thảo luận về ý kiến đó [4]. Tuy nhiên, sách giáo khoa về Lịch sử Việt nam đã xác nhận rằng Đảng Cộng sản Việt nam được thành lập vào ngày 06 Tháng Giêng 1930 rồi thay đổi ngày thành lập thành ngày 03 Tháng Hai 1930 mà không giải thích tại sao [5].

Về nguồn gốc, như trên đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt nam xuất thân từ bên ngoài Việt nam, tức là có nguồn gốc ngoại lai. Lúc đầu, Đảng Cộng sản Việt nam được nuôi dưỡng bởi Cộng sản Nga. Về sau, Đảng Cộng sản Việt nam được nuôi dưỡng bởi Cộng sản Tàu. Đảng Cộng sản Việt nam cũng có lúc được đỡ đầu bởi Cộng sản Pháp. Từ khi bùng nổ xung đột giữa Cộng sản Nga với Cộng sản Tàu, Đảng Cộng sản Việt nam luôn luôn bị ngả nghiêng giữa Cộng sản Tàu với Cộng sản Nga. Chính vì xuất thân từ bên ngoài Việt nam đồng thời được nuôi dưỡng bởi các thế lực ngoại bang được kể ra trên đây nên Đảng Cộng sản Việt nam dù muốn ưu tiên mang lại lợi ích cho dân tộc Việt nam cũng không thể làm được như vậy mà chỉ có thể phải quan tâm bảo đảm lợi ích cho các thế lực kia dù không muốn làm như vậy. Hoặc nhiều lắm Đảng Cộng sản Việt nam cũng chỉ tìm kiếm lợi ích cho chính mình mà thôi. Suốt từ ngày được thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt nam thường xuyên phải thực hiện chủ trương đường lối được hoạch định tại Moskva hoặc Bắc kinh. Chưa kịp thoát khỏi bị chi phối bởi Cộng sản Nga vào năm 1991, Đảng Cộng sản Việt nam lại dễ dàng bị chi phối bởi Cộng sản Tàu từ Hội nghị Bí mật tại Thành đô vào năm 1990. Đảng Cộng sản Việt nam rất ít khi hoạt động nhằm bảo đảm lợi ích cho dân tộc Việt nam. Chỉ khi bị o ép quá đáng bởi các thế lực ngoại bang được kể ra trên đây hoặc khi bị đe doạ tan rã từ bên trong như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt nam mới có thể nghĩ đến việc bảo đảm lợi ích cho dân tộc Việt nam để có thể sống còn. Nhưng ngay cả khi bị lâm vào tình trạng nguy khốn như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt nam cũng vẫn giáo dục bộ máy bạo lực “chỉ biết còn Đảng còn mình!”. Vậy tại sao Đảng Cộng sản Việt nam lại có thể lớn mạnh trong xã hội Việt nam từ năm 1930 đến những năm gần đây? Câu hỏi này sẽ được giải đáp ngay sau đây.

Về tư tưởng, Đảng Cộng sản Việt nam kế thừa tư tưởng chuyên chế tại Việt nam với Nho giáo giữ địa vị thống trị từ Vương triều Hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX [6]. Ngay từ khi giành được địa vị thống trị tại Việt nam, Nho giáo đã xé nát xã hội Việt nam bằng những cuộc nội chiến tàn khốc, như Nội chiến Lê – Mạc, Nội chiến Lê – Trịnh, Nội chiến Mạc – Trịnh, Nội chiến Trịnh – Nguyễn, v. v.. Cuối cùng, cũng chính Nho giáo đã làm cho Việt nam suy yếu cùng cực để rồi phải làm thuộc địa cho Thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Ngay sau khi thống nhất được đất nước, Vương triều Nguyễn dựa trên Nho giáo đã thực hiện chính sách truy bức hết sức tàn khốc đối với Công giáo Việt nam để Thực dân Pháp dựa vào chính sách đó mà đánh chiếm Việt nam làm thuộc địa từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX [7]. Vương triều Nguyễn có công thống nhất đất nước sau nhiều cuộc nội chiến tương tàn như đã được trình bày ở trên nhưng lại có tội làm mất nước cho Thực dân Pháp rồi lại vu oan giáng hoạ cho Công giáo Việt nam bán nước. Công giáo từ Tây phương (Hà lan, Bồ đào nha, Tây ban nha, v. v.) đến Việt nam từ thế kỷ XVI tạo ra Công giáo Việt nam. Công giáo Việt nam mới hình thành nhưng đã tạo ra nhiều thành tựu văn hoá cho Việt nam, bao gồm chữ viết, báo chí, âm nhạc, tư tưởng, v. v., trong đó thành tựu quan trọng nhất phải thuộc về chữ viết, tức là Chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ làm cho người Việt nam dễ dàng tiếp nhận mọi tri thức về mọi lĩnh vực để Việt nam có thể thoát khỏi Nho giáo, cũng tức là thoát khỏi nước Tàu về văn hoá. Đó chính là nguyên nhân sâu xa nhất làm cho Công giáo Việt nam bị vu oan giáng hoạ đồng thời bị truy bức dã man bởi các chính quyền phong kiến vốn dựa trên Nho giáo tại Việt nam trước kia. Công giáo Việt nam có công lớn nhất đối với Dân tộc Việt nam nhưng lại bị ngược đãi tàn tệ nhất bởi các chính quyền chuyên chế tại Việt nam. Công giáo Việt nam khai thông văn hoá cho Việt nam nhưng lại bị vu oan bán nước cho Thực dân Pháp. Thực dân Pháp chỉ lợi dụng Vương triều Nguyễn truy bức Công giáo Việt nam để đánh chiếm Việt nam làm thuộc địa từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Thực dân Pháp đến Việt nam không mang theo Công giáochỉ mang theo Tư tưởng Khai sáng với chủ nghĩa cá nhân làm căn bản cho nó vốn cũng bắt nguồn từ cả Triết học Hy lạp lẫn Giáo lý Chúa giáo (Christianity, bao gồm: Công giáo, Chính giáoTin lành, v. v.) [8]. Tư tưởng Khai sáng đi theo Thực dân Pháp đến Việt nam tạo ra được tầng lớp trí thức với một số gương mặt sáng láng, như Petrus Trương Vĩnh Ký, Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Tản đà Nguyễn Khắc Hiếu, Phạm Quỳnh, Trương Tử Anh, Nam Cao, v. v.. Trước đó Việt nam đã từng có Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, v. v., nhưng những nhân vật đó vẫn chưa thoát khỏi tư tưởng phong kiến. Tư tưởng phong kiến vốn xấu độc đã trở thành truyền thống lâu đời tại Việt nam lại được củng cố mạnh mẽ bởi Chủ nghĩa Marx – Lenin bắt đầu xâm nhập Việt nam từ đầu thế kỷ XX làm cho Tư tưởng Khai sáng không thể vượt qua được tư tưởng chuyên chế. Vừa mới bắt đầu toả sáng vào nửa đầu thế kỷ XX, Tư tưởng Khai sáng đã bị dập tắt hoàn toàn bởi Đảng Cộng sản Việt nam vào nửa sau thế kỷ đó. Đảng Cộng sản Việt nam lấy Chủ nghĩa MarxLenin làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động [9]. Vì Chủ nghĩa Marx – Lenin sai lầm về mặt khoa học đồng thời phản động về mặt chính trị nên Đảng Cộng sản Việt nam cũng không thể tránh khỏi sai lầm về mặt khoa học đồng thời phản động về mặt chính trị. Nhưng chỉ vì Chủ nghĩa Marx – Lenin rất tương đồng với Nho giáo vốn làm nền tảng tư tưởng cho chế độ chuyên chế tại Việt nam từ Vương triều Hậu Lê đến cuối Vương triều Nguyễn nên Đảng Cộng sản Việt nam đã thu phục được đa số dân chúng Việt nam đi theo họ để họ phát triển thành một Đảng Độc tài lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Đảng Cộng sản Tàu [10]. Đảng Cộng sản Việt nam xuất thân từ bên ngoài Việt nam lấy Chủ nghĩa Marx – Lenin làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhưng lại kế thừa Nho giáo tại Việt nam với bản chất cố hữu rất tương đồng với Chủ nghĩa Marx – Lenin khiến Đảng Cộng sản Việt nam lớn mạnh như ngày nay đồng thời bị trói buộc chặt chẽ vào Đảng Cộng sản Tàu về văn hoá – tư tưởng. Đảng Cộng sản Tàu cũng dựa trên cả Nho giáo lẫn Chủ nghĩa Marx – Lenin không chỉ kìm kẹp Việt nam bằng ách độc tài mà còn nô dịch cả nước Tàu bằng chính sách ngu dân để dân chúng Tàu suy sụp thảm hại về văn hoá – tư tưởng. Nếu không hiểu đúng về cả Nho giáo lẫn Chủ nghĩa MarxLenin thì không thể hiểu được sự thể này [11].

Về tổ chức, Đảng Cộng sản Việt nam được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền vốn quen được gọi là tập trung dân chủ, tức là mọi quyền hành đều được tập trung vào một số ít đảng viên lãnh đạocấp cao nhất được gọi là Bộ Chính trị. Bộ Chính trị được bầu chọn bởi Ban Chấp hành Trung ương hoạt động theo nhiệm kỳ bằng 5 năm. Ban Chấp hành Trung ương lại được bầu chọn bởi Đại hội Đại biểu Toàn quốc cứ 5 năm lại được tiến hành một lần. Chính vì được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền nên ngay từ đầu Đảng Cộng sản Việt nam đã trở thành một Đảng Độc tài chỉ giỏi về những công việc liên quan tự nhiên với chế độ độc tài, như bạo hành, cướp bócdối trá, v. v.. Chính họ cũng không giấu giếm đặc tính đó mà còn tuyên bố công khai về cả mục tiêu lẫn phương pháp cho mọi hoạt động. Không chỉ riêng Đảng Cộng sản Việt nam mà bất cứ đảng phái nào được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền như trên cũng đều trở thành Đảng Độc tài. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt nam cũng như tất cả các Đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo ở tất cả các nước khác lại làm hình mẫu điển hình nhất cho Đảng Độc tài. Đảng Cộng sản Việt nam cũng tiến hành bầu cử khi thay đổi cán bộ lãnh đạo nhưng chỉ bầu cử theo nguyên tắc áp đặt, theo đó các ứng viên không được cạnh tranh tự dophải được chỉ định trước bởi cấp trên khiến ứng viên nào sẽ làm cán bộ lãnh đạo đều đã được biết trước. Chính vì các ứng viên không được cạnh tranh tự do mà phải được chỉ định trước bởi cấp trên nên việc bầu cử ở cấp cao nhất không thể tránh khỏi đấu đá khốc liệt dẫn đến chết người. Càng về sau, hiện tượng này càng lan rộng đến các đơn vị nhỏ hơn trong Đảng Cộng sản Việt nam khiến bất cứ đảng viên nào có lương tri cũng muốn thay đổi chế độ chính trị hoặc ít nhất cũng muốn ly khai Đảng Cộng sản Việt nam theo bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết. Nguyên tắc tập quyền làm cho bất cứ ai chống lại cũng chết nhưng ủng hộ cũng chết. Cả Nguyễn Khắc Viện (1913 – 1997) lẫn Trần Đức Thảo (1917 – 1993), v. v., đều đã chứng thực rõ ràng như vậy. Nhiều nạn nhân khác cũng đã chứng thực rõ ràng như vậy.

Về đường lối, bao gồm cả mục tiêu lẫn phương pháp. Đảng Cộng sản Việt nam chủ trương cướp chính quyền bằng bạo lực để thiết lập nền độc tài vô sản thường được gọi là chuyên chính vô sản rồi dùng chuyên chính vô sản để cải tạo xã hội theo hình mẫu không tưởng được đề ra bởi Chủ nghĩa MarxLenin. Cái hình mẫu đó thường được gọi là chủ nghĩa cộng sản hoặc xã hội cộng sản, trong đó không có thị trường, không có tiền tệ, không có giai cấp, không có nhà nước, không có pháp luật, không có nhà tù, không có cảnh sát, không có quân đội, mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi tất cả mọi người, tất cả mọi người cùng làm việc chung để hưởng thụ chung, tất cả mọi người đều hưởng thụ chung để được hạnh phúc chung như sống trên Thiên đàng. Cái hình mẫu đó không hề cho biết mảy may một chút sự thật nào về bản tính vị kỷ vốn có ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc đòi hỏi xã hội phải có pháp luật đồng thời phải có nhà nước pháp quyền (tam quyền phân lập, đa nguyên bình đẳng, bầu cử tự do) để điều hành xã hội bằng pháp luật. Vì không cho thấy một sự thật đơn giản như vậy nên cái hình mẫu đó chẳng khác gì truyện cổ tích dành cho trẻ con. Tuy nhiên, cái hình mẫu đó lại mê hoặc được rất nhiều người tại các xứ sở lạc hậu nhất trên thế giới. Phải thế nào về thần kinh mới có thể bị mê hoặc bởi cái hình mẫu không tưởng như vậy chứ?

Về thành tựu, Đảng Cộng sản Việt nam chỉ sau 15 năm kể từ ngày thành lập đã thực hiện thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 nhằm cướp chính quyền trên cả nước từ Chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ Trần Trọng Kim đã tiếp nhận chủ quyền độc lập cho Việt nam từ Chính quyền Fascist tại Nhật bản vào ngày 11 Tháng Ba 1945. Nhưng chẳng được bao lâu, Chính phủ Trần Trọng Kim đã bị lật đổ bất ngờ bởi Đảng Cộng sản Việt nam vào ngày 19 Tháng Tám 1945. Lợi dụng Quân đội Cộng hoà từ Mỹ đập tan Quân đội Fascist tại Nhật bản bằng hai quả bom nguyên tử, Đảng Cộng sản Việt nam đã cướp được chính quyền từ Chính phủ Trần Trọng Kim bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Ngay sau khi cướp được chính quyền trên cả nước bằng cuộc cách mạng đó, Đảng Cộng sản Việt nam đã ra tay tiêu diệt tất cả các đảng phái quốc gia, trong đó có cả những tài năng xuất chúng về cả văn hoá lẫn chính trị [12]. Do bị chống đối dữ dội bởi các thành phần tinh anh nhất (kể cả các đảng phái quốc gia còn sống sót) tại Việt nam vào cuối năm 1946 nên Đảng Cộng sản Việt nam dễ dàng bị đánh bật lên Việt Bắc bởi Quân đội Pháp. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt nam được hỗ trợ đắc lực bởi cả Cộng sản Nga lẫn Cộng sản Tàu (do địa lý chính trị nên Cộng sản Tàu hỗ trợ nhiều hơn cho Đảng Cộng sản Việt nam) đã chiến đấu lâu dài nhằm cướp lại chính quyền. Sau Chiến thắng Điện biên Phủ vào ngày 07 Tháng Năm 1954, Đảng Cộng sản Việt nam cướp được chính quyền tại miền Bắc. Hiệp định Geneve được ký kết vào ngày 20 Tháng Bảy 1954 chia cắt Việt nam tại Vĩ tuyến 17 đồng thời công nhận quyền cai trị cho Đảng Cộng sản Việt nam tại miền Bắc, cũng tức là bắt buộc Quân đội Pháp phải rời khỏi đây. Theo Hiệp định Geneve 1954, Việt nam bị chia cắt thành hai lãnh thổ khác nhau về chế độ chính trị: miền Bắc theo chính thể độc tài đối lập với miền Nam theo chính thể cộng hoà. Hiệp định đó xác nhận thắng lợi bước đầu hết sức quan trọng cho Đảng Cộng sản Việt nam. Không dừng lại ở đó mà thừa thắng xông lên, Đảng Cộng sản Việt nam được hỗ trợ đắc lực bởi cả Cộng sản Nga lẫn Cộng sản Tàu (do địa lý chính trị nên Cộng sản Tàu hỗ trợ ít hơn cho Đảng Cộng sản Việt nam để biến Việt nam thành vùng đệm an toàn cho chính Cộng sản Tàu) lại tiếp tục chiến đấu lâu dài nhằm cướp chính quyền tại miền Nam. Mỹ cùng một số nước đồng minh can thiệp quân sự nhằm trợ giúp miền Nam nhưng do phạm sai lầm về chiến lược nên họ đã thất bại thảm hại rồi buộc phải rời bỏ miền Nam sau Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27 Tháng Giêng 1973. Sau cuộc chiến đấu trường kỳ đầy quyết tâm kéo dài hơn 20 năm, Đảng Cộng sản Việt nam đã cướp được chính quyền tại miền Nam, cũng tức là đã tiêu diệt được nền cộng hoà non trẻ tại đây. Thủ đô cho nền cộng hoà non trẻ tại đây, tức là Sài gòn, sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đánh dấu một thắng lợi lớn nhất cho Đảng Cộng sản Việt nam. Đảng Cộng sản Việt nam đã giành được độc quyền cai trị trên cả nước.

Về hệ luỵ, do chủ trương cướp chính quyền bằng bạo lực nên Đảng Cộng sản Việt nam đã gây ra Nội chiến Tương tàn suốt từ năm 1945 đến năm 1975 với quá nhiều chết chóc, đau thương, thù hận, mất mát, đổ vỡ, v. v., cho cả dân tộc Việt nam, bao gồm mọi thành phần xã hội, cả phe ta lẫn phe địch, v. v., bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám 1945 qua Hiệp định Geneve 1954 đến Thống nhất Đất nước 1975 rồi đến thực trạng bi thảm đang diễn biến trầm trọng như hiện nay [13]. Nói về việc thống nhất đất nước vào ngày 30 Tháng Tư 1975, Đảng Cộng sản Việt nam thường kể công cho mình đã thống nhất được đất nước. Tuy nhiên, nếu nhìn lại nguyên nhân dẫn đến việc chia cắt đất nước bằng Hiệp định Geneve 1954 thì những trí óc lành mạnh sẽ nhận thấy ngay Đảng Cộng sản Việt nam chỉ hành động luẩn quẩn: chia cắt đất nước bằng bạo lực rồi lại thống nhất đất nước bằng bạo lực, chẳng khác gì “đánh bùn sang ao”, nhằm cướp được chính quyền trên cả nước. Đám đông u mê vẫn ca tụng Đảng Cộng sản Việt nam phải tài giỏi lắm mới đạt được thành tựu kinh hoàng như vậy. Sau khi cướp được chính quyền trên cả nước, Đảng Cộng sản Việt nam tiến hành cải tạo xã hội bằng chuyên chính vô sản. Do cải tạo xã hội bằng chuyên chính vô sản nên Đảng Cộng sản Việt nam đã đạt được những thành tích kinh hoàng qua các chính sách sai lầm [14]. Để nắm giữ được chính quyền bằng bạo lực trên cả nước, Đảng Cộng sản Việt nam tự xác lập địa vị độc tôn cho mình bằng Điều luật 4 trong Hiến pháp 1980. Điều luật này đã được bảo tồn qua nhiều lần sửa đổi sau đó.

Bằng Điều luật 4, Hiến pháp 1980 / 1992 / 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt nam nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước, bao gồm cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, đồng thời áp đặt cho cả dân tộc Việt nam phải suy nghĩ theo Chủ nghĩa MarxLenin để hành động theo cái hệ tư tưởng đó, tức là dân chúng Việt nam phải phục tùng Đảng Cộng sản Việt nam về mọi mặt. Điều luật này đã gây ra nhiều hậu quả tai ác cho cả dân tộc Việt nam.

Về kinh tế, lúc đầu Đảng Cộng sản Việt nam áp đặt mô hình không tưởng từ Chủ nghĩa MarxLenin vào sinh hoạt kinh tế bằng chính sách bao cấp. Chính sách này đã thất bại nhanh chóng vào khoảng giữa thập niên 1980 khiến Đảng Cộng sản Việt nam phải vội vã chuyển sang chính sách đổi mới. Gọi là đổi mới để che giấu sự ngu dốt nhưng thật ra chỉ quay lại cái cũ muôn thuở, tức là chấp nhận kinh tế thị trường để tránh sụp đổ. Kinh tế thị trường đã cứu giúp Đảng Cộng sản Việt nam sống sót từ năm 1986 đến nay. Tuy nhiên, kinh tế thị trường dựa trên chế độ độc tài lại dẫn đến những hậu quả tai ác còn đáng sợ hơn cả những hậu quả tất yếu được sinh ra từ chính sách bao cấp. Chính chế độ độc tài với đặc tính tham nhũng đã gây ra thảm hoạ kinh tế: 1/ Ngân sách thâm thủng; 2/ Nợ nần chồng chất; 3/ Thất nghiệp gia tăng; 4/ Tài nguyên cạn kiệt; 5/ Môi trường ô nhiễm; vân vân [15]. Thảm hoạ đó không chỉ được gây ra bởi nền độc tài cộng sản mà còn phải được gây ra bởi mọi nền độc tài nói chung. Chế độ độc tài dù sống bằng kinh tế nào cũng dẫn đến những tai hoạ như nhau.

Về chính trị, Đảng Cộng sản Việt nam bị phân hoá sâu sắc dẫn đến đấu đá nội bộ ngày càng khốc liệt. Trên thực tế, do dựa trên Chủ nghĩa Marx – Lenin vốn đầy mâu thuẫn đối kháng giữa mục đích với phương pháp được thể hiện qua các quan niệm trái ngược nhau nên Đảng Cộng sản Việt nam đã bị phân hoá ngay từ ngày thành lập [16]. Nhưng chỉ từ khi cướp được chính quyền tại miền Bắc trở về sau, do nắm độc quyền cai trị nên Đảng Cộng sản Việt nam không thể tránh khỏi tranh giành quyền lợi từ bên trong dẫn đến đấu đá nội bộ để các thế lực ngoại bang can thiệp lèo lái Việt nam đi theo họ. Chính Vụ án Xét lại chống Đảng đã mở màn cho đấu đá nội bộ với mức độ khốc liệt từ đấy về sau [17]. Hiện nay Đảng Cộng sản Việt nam có ba mâu thuẫn cơ bản: 1/ Mâu thuẫn đối kháng giữa các đảng viên lãnh đạo vốn chỉ chiếm một số ít với các đảng viên tay sai vốn phải chiếm đa số, mâu thuẫn này thể hiện qua sự đối kháng nhau về địa vị chính trị giữa các đảng viên lãnh đạo với các đảng viên tay sai, theo đó các đảng viên lãnh đạo dùng các đảng viên tay sai làm phương tiện chính trị để cai trị tất cả các thành phần khác trong nhân dân hoặc các đảng viên tay sai chỉ làm phương tiện chính trị cho các đảng viên lãnh đạo cai trị tất cả các thành phần khác trong nhân dân; 2/ Mâu thuẫn đối kháng giữa đảng viên lãnh đạo với đảng viên lãnh đạo, mâu thuẫn này vừa thể hiện qua sự tranh giành quyền lợi giữa các đảng viên lãnh đạo vừa thể hiện qua sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các đảng viên đó, theo đó người nọ vừa tranh giành quyền lợi với người kia vừa đùn đẩy trách nhiệm cho người kia; 3/ Mâu thuẫn đối kháng giữa đảng viên tay sai với đảng viên tay sai, mâu thuẫn này vừa thể hiện qua sự đùn đẩy nghĩa vụ giữa các đảng viên tay sai vừa thể hiện qua sự tranh giành cơ hội giữa các đảng viên đó, theo đó người nọ vừa đùn đẩy nghĩa vụ tay sai cho người kia vừa tranh giành cơ hội thăng tiến với người kia. Chính các mâu thuẫn đó làm cho các đảng viên lãnh đạo trong Đảng Cộng sản Việt nam bị phân hoá thành hai phe nhóm đối địch nhau được gọi là các nhóm lợi ích. Bất cứ nền độc tài nào cũng có các mâu thuẫn đối kháng như vậy [18]. Theo Hiến pháp 1980 / 1992 / 2013 tác động bằng Điều luật 4, mâu thuẫn đối kháng trong Đảng Cộng sản Việt nam phát tác cho cả xã hội Việt nam thành mâu thuẫn đối kháng giữa Đảng Cộng sản Việt nam với dân chúng Việt nam để xã hội Việt nam cũng bị phân hoá thành các lực lượng đối kháng nhau dẫn đến bất ổn cho xã hội Việt nam.

Về văn hoátư tưởng, do lấy Chủ nghĩa MarxLenin làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động nên Đảng Cộng sản Việt nam bị suy thoái trầm trọng về văn hoátư tưởng. Chủ nghĩa Marx – Lenin làm cho Đảng Cộng sản Việt nam nhìn nhận sai lạc về đời sống xã hội, không chỉ đánh giá sai lạc về tình hình thế giới mà còn đánh giá sai lạc về tình hình Việt nam. Ví dụ: thế giới hiện nay đang quá độ từ chế độ độc tài lên chế độ dân chủ nhưng Đảng Cộng sản Việt nam lại xác quyết hàm hồ rằng: thế giới ngày nay đang quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Khi được yêu cầu định nghĩa cho khái niệm về cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt nam không thể thoả mãn được yêu cầu đó mà đã bế tắc hoàn toàn về lý luận hoặc chỉ biết viện dẫn vài ba câu thần chú được tạo tác tư biện bởi cả Karl Marx lẫn Friedrich Engels. Việt nam hiện nay đang sống đau khổ dưới ách độc tài nhưng Đảng Cộng sản Việt nam lại lớn tiếng tố cáo người khác bịa đặt như vậy. Đảng Cộng sản Việt nam còn tin rằng Việt nam tương lai sẽ sống hạnh phúc trên thiên đường cộng sản. Cứ xem Đảng Cộng sản Việt nam viết gì trong các văn kiện chính trị sẽ biết ngay. Do Đảng Cộng sản Việt nam độc quyền cai trị nên tư tưởng sai lầm trong Đảng Cộng sản Việt nam lan tràn khắp xã hội Việt nam thông qua sự tuyên truyền dối trá qua nhiều kênh thông tin với vai trò quan trọng nhất thuộc về cả báo chí mị dân lẫn trường học chuyên chế. Tư tưởng sai lầm không chỉ chi phối cách nghĩ cho mọi thành viên trong Đảng Cộng sản Việt nam mà còn chi phối cách nghĩ cho đại đa số dân chúng Việt nam.

Về tính cách, Hiến pháp 1980 / 1992 / 2013 với Điều luật 4 làm cho mâu thuẫn đối kháng trong Đảng Cộng sản Việt nam giữa các đảng viên lãnh đạo vốn chỉ chiếm một số ít với các đảng viên tay sai vốn phải chiếm đa số đang phát huy tác dụng tai ác ngày càng trầm trọng. Các đảng viên lãnh đạo được hưởng hết mọi đặc quyền đặc lợi nhưng các đảng viên tay sai lại phải bị chịu đựng hết mọi gánh nặng nghĩa vụ: họ bị áp bức nặng nề nhất, họ đóng góp đảng phí chỉ để chầu rìa, họ đóng góp đảng phí chỉ để ca tụng lãnh tụ, họ đóng góp đảng phí chỉ để làm tay sai, họ đóng góp đảng phí chỉ để bị bịt miệng, họ đóng góp đảng phí chỉ để tự trói chặt mình vào ách nô lệ, họ đóng góp đảng phí không phải để hưởng quyền lợi mà chỉ để chịu thua thiệt, họ đóng góp đảng phí chỉ để không được nói thật mà phải nói dối, nếu trung thành thì họ chỉ được ăn bánh vẽ nhưng nếu không trung thành thì họ sẽ bị trừng phạt vớ vẩn bởi các đảng viên lãnh đạo. Tại sao các đảng viên tay sai không biết nhục nhã mà lại chấp nhận cái ách nô lệ như thế hoặc thậm chí còn đắc chí tự hào về cái ách nô lệ như thế? Họ phải thế nào về cả tư tưởng lẫn tâm lý mới không biết nhục nhã mà lại chấp nhận cái ách nô lệ như thế hoặc thậm chí còn đắc chí tự hào về cái ách nô lệ như thế! Do chấp nhận cái ách nô lệ như thế nên họ không hề vô can với thảm hoạ xã hội mà vừa làm tác nhân thụ động cho thảm hoạ đó vừa làm nạn nhân chủ động cho thảm hoạ đó. Chính các đảng viên tay sai chấp nhận tự làm hại mình để các đảng viên lãnh đạo mới có thể gây ra thảm hoạ xã hội bằng các quyết định chính trị. Các đảng viên tay sai không trực tiếp làm hại dân chúng bằng các quyết định chính trị nhưng gián tiếp làm hại dân chúng bằng cả tư tưởng nô lệ lẫn tâm lý nô lệ sau khi đã tự đặt mình vào ách nô lệ để không chỉ tự làm hại mình mà còn làm hại dân chúng. Tư tưởng nô lệ cùng với tâm lý nô lệ làm cho các đảng viên tay sai tự đặt mình vào ách nô lệ để mình bị sai khiến bởi các đảng viên lãnh đạo. Các đảng viên lãnh đạo dùng các đảng viên tay sai làm phương tiện đắc dụng nhất để cai trị dân chúng theo cơ chế độc tài. Cơ chế đó không chỉ bảo tồn tâm lý nô lệ cho tất cả các đảng viên tay saicòn gây ra tâm lý nô lệ cho mọi thành phần khác trong xã hội độc tài. Sống theo chế độ độc tài dựa trên tư tưởng nô lệ, đa số dân chúng tại Việt nam bị nô dịch nặng nề bởi chính cái tư tưởng đó. Nhiều nô dân vẫn mong muốn gia nhập Đảng Cộng sản Việt nam để làm đảng viên tay sai với hy vọng hão huyền rằng: mình sẽ được làm đảng viên lãnh đạo mà không hiểu được rằng: chỉ một số ít đảng viên tay sai mới có thể được làm đảng viên lãnh đạo làm cho đa số đảng viên tay sai phải mãi mãi làm đảng viên tay sai. Nếu không hy vọng hão huyền như vậy thì chỉ chứng tỏ họ lại càng mê muội hơn nữa. Nhiều đảng viên tay sai vẫn mang nặng tâm lý vong thân y hệt như AQ đã được tạo tác tài tình bởi Lỗ Tấn [19]. AQ sẵn sàng phục tùng kẻ mạnh nhưng cũng sẵn sàng hiếp đáp kẻ yếu để rồi cuối cùng bị giết chóc bởi chính cái mâu thuẫn đó. Nhưng thật đáng tiếc, nhiều nô dân cũng như đảng viên tay sai hầu như không hiểu gì về AQ. Nếu hiểu được AQ thì họ sẽ khác. Họ cần phải được khai sáng bởi tư tưởng khoa học về thực tại xã hội. Ngược lại, nếu không được khai sáng bởi tư tưởng khoa học về thực tại xã hội mà vẫn tiếp tục bị nô dịch nặng nề bởi tư tưởng nô lệ thì một khi trở thành đảng viên lãnh đạo, họ cũng dễ dàng gây ra tội ác tày trời như các nhà độc tài tiền bối. Tất cả đều bị lôi cuốn vào vòng xoáy ác nghiệt để gây ra tội ác triền miên. Chính vì gây ra quá nhiều tội ác kinh hoàng cho dân tộc Việt nam nên nhiều đảng viên lãnh đạo rất lo sợ bị lật đổ. Vì lo sợ bị lật đổ nên họ sẵn sàng tiêu diệt ngay mọi tổ chức đối lập bằng bạo lực đẫm máu. Họ chỉ có thể chấp nhận thay đổi chính trị khi có lực lượng chính trị mang tinh thần khoan dung để không chỉ khoan dung đối với họcòn phải cung cấp giải pháp cho họ.

Về nguy cơ, do hội nhập kinh tế với thế giới văn minh dựa trên chế độ dân chủ nên Đảng Cộng sản Việt nam đang bị tấn công dữ dội về cả tư tưởng lẫn tổ chức bởi nhiều thế lực chống phá ở cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên ngoài, tư tưởng khai sáng tràn vào Việt nam đang tạo ra tầng lớp trí thức sống độc lập với Đảng Cộng sản Việt nam về cả kinh tế lẫn tư tưởng vốn sẽ làm tiền đề quan trọng nhất cho xã hội dân chủ trong tương lai. Bằng cuộc sống độc lập như vậy, tầng lớp này không chỉ thúc đẩy sự thay đổi nhận thức trong xã hộicòn đang thúc đẩy sự chuyển biến tư tưởng bên trong Đảng Cộng sản Việt nam làm cho Đảng Cộng sản Việt nam ngày càng suy sụp. Bên trong, tình trạng tham nhũng song song với đấu đá nội bộ nhằm tranh giành quyền lực độc đoán làm cho Đảng Cộng sản Việt nam đang phải đối mặt với nguy cơ tan rã. Trước nguy cơ đó, Đảng Cộng sản Việt nam không thể tránh khỏi bị phân hoá sâu sắc về cả tư tưởng lẫn chính trị. Những thành phần bảo thủ sẽ kiên định Chủ nghĩa Marx – Lenin để bảo tồn chế độ độc tài bằng bạo lực. Ngược lại, những thành phần cấp tiến sẽ từ bỏ Chủ nghĩa Marx – Lenin để thoát khỏi chế độ độc tài bằng nhiều cách khác nhau.

Về thách thức, Đảng Cộng sản Việt nam vẫn kiên định lấy Chủ nghĩa Marx – Lenin làm hệ tư tưởng chính thức bằng Điều luật 4 trong Hiến pháp 2013 để bảo tồn chế độ độc tài bằng bạo lực. Chủ nghĩa Marx – Lenin vốn tôn thờ bạo lực luôn luôn kích động dân chúng tiêu diệt chính quyền bằng bạo lực nhân danh bạo lực cách mạng nhưng Đảng Cộng sản Việt nam cũng như Đảng Cộng sản Tàu lại tỏ ra dại dột cùng cực khi cố ý nhồi nhét Chủ nghĩa Marx – Lenin cho dân chúng tại cả nước Tàu lẫn Việt nam: một mặt họ rất lo sợ dân chúng bạo động nhằm trả thù họ khiến họ đàn áp dân chúng bằng bạo lực đẫm máu nhưng mặt khác họ lại xúi giục dân chúng bạo động bằng Chủ nghĩa Marx – Lenin vốn chỉ kích động dân chúng tiêu diệt chính quyền bằng bạo lực nhân danh bạo lực cách mạng. Chính cái vòng luẩn quẩn đó đã làm cho Đảng Cộng sản Việt nam lâm vào bế tắc cùng cực về cả tư tưởng lẫn chính trị. Chỉ có một lối thoát duy nhất cho Đảng Cộng sản Việt nam: chủ động cải cách giáo dục, tức là thay thế nền giáo dục nhồi sọ bằng nền giáo dục khai phóng, để dân chúng không nghĩ đến lật đổ chính quyền bằng bạo lực mà chỉ nghĩ đến đòi hỏi dân chủ bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động. Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt nam chủ động cải cách chính trị để hạ cánh an toàn. Như thế sẽ tránh được đổ vỡ tang thương cho đất nước.

Về triển vọng, hội nhập kinh tế với thế giới văn minh dựa trên chế độ dân chủ có thể sẽ khuyến khích Đảng Cộng sản Việt nam cải cách chính trị. Đặc biệt, khủng hoảng trầm trọng tại nước Tàu hiện nay có thể sẽ thúc đẩy Đảng Cộng sản Việt nam thoát Tàu về cả tư tưởng lẫn chính trị. Chưa kể tư tưởng khai sáng đang xâm nhập sâu rộng vào Đảng Cộng sản Việt nam có thể sẽ thúc đẩy tất cả các xu thế đó? Tuy nhiên, nhiều người không tin vào triển vọng này!

Kết luận: Đảng Cộng sản Việt nam vốn dĩ theo đuổi mục đích tốt (giải phóng dân tộc Việt nam) bằng phương pháp xấu (cả bạo lực cách mạng lẫn chuyên chính vô sản) dẫn đến nhiều thảm hoạ kinh hoàng cho dân tộc Việt nam, như Nội chiến Tương tàn từ năm 1945 đến năm 1975, tình trạng đói khổ từ năm 1976 đến năm 1986 với chính sách bao cấp đầy bệnh hoạn, khủng hoảng toàn diện đang diễn biến trầm trọng với tổn thất to lớn nhất thuộc về sự suy thoái đạo đức, v. v.. Đảng Cộng sản Việt nam chưa tạo ra được thành quả tốt đẹp cho dân tộc Việt nam. Kinh tế thị trường đầy bệnh hoạn không chỉ hiện hữu muộn mằn tại Việt nam mà còn hiện hữu sớm sủa ở nhiều nước khác, kể cả các nước độc tài. Đảng Cộng sản Việt nam không thể dựa vào kinh tế đó để kể công với dân tộc Việt nam. Kết quả đó trái ngược hoàn toàn với mục đích tốt được xác định cho Đảng Cộng sản Việt nam. Mục đích tốt đã bị huỷ diệt triệt để bởi phương pháp xấu khiến Đảng Cộng sản Việt nam đang lúng túng cùng cực trước ngã ba đường lịch sử.

Tôi viết tiểu luận này nhằm tưởng niệm Hồ Chí Minh vốn được công nhận đã khai sinh cho Đảng Cộng sản Việt nam đồng thời tưởng niệm tất cả các nạn nhân cho chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới!

HÀ HUY TOÀN

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s