QLVNCH : ARVN : Lược ghi về vùng hoạt động của Pháo binh Sư đoàn 22 BB:

https://www.facebook.com/groups/RadioTNTUcChau.NhungNgayXuaThanAi/permalink/745001782291468/

Nguyễn Hanh-Dung

18 May at 07:28

Vương Hồng Anh

* Lược ghi về vùng hoạt động của Pháo binh Sư đoàn 22 BB:
Quân đoàn 2 có 2 đại đơn vị Bộ binh, đó là là Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23. Theo sự phối trí của bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Sư đoàn 22 BB chịu trách nhiệm 5 tỉnh phía Bắc của Quân khu là Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn, Pleiku, Kontum; Sư đoàn 23 Bộ binh trách nhiệm 7 tỉnh: Darlac, Tuyên Đức (tỉnh lỵ là thành phố Đà Lạt), Quảng Đức, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Trong suốt 10 năm dài, từ 1965 đến 1975, áp lực CQ luôn đè nặng tại khu vực phía Tây các tỉnh Quảng Đức, Darlac, Pleiku, Kontum và một số khu vực thuộc hai tỉnh duyên hải Bình Định và Phú Yên Cao nguyên. Về Pháo binh, ngoài các đơn vị Pháo binh trực thuộc bộ Chỉ huy Pháo binh Quân đoàn, tại mỗi Sư đoàn Bộ binh đều có 1 tiểu đoàn Pháo binh 155 ly, 3 đến 4 tiểu đoàn Pháo binh 105 ly (số đơn vị Pháo binh cấp tiểu đoàn ứng với số trung đoàn Bộ binh trực thuộc Sư đoàn).

* Trận địa pháo ở Bắc Bình Định:
Trước khi cuộc chiến Mùa Hè 1972 bùng nổ tại Bắc Kontum vào tháng 4/1972, ngay từ đầu tháng 3/1972, lực lượng Pháo binh của Sư đoàn 22 Bộ Binh đã được phối trí tại nhiều căn cứ hỏa lực tại Bình Định, Kontum để yểm trợ hỏa lực cho 4 trung đoàn: 40, 41, 42 và 47 Bộ binh trong các cuộc hành quân. Vị tư lệnh Sư đoàn 22 BB lúc bấy giờ là đại tá Lê Đức Đạt, nguyên là tư lệnh phó Sư đoàn này. Nhận quyền chỉ huy Sư đoàn vào đầu tháng 3/1972 (thay thiếu tướng Lê Ngọc Triễn được cử giữ chức tham mưu phó Hành quân bộ Tổng tham mưu), đại tá Lê Đức Đạt đã gặp khó khăn từ phía Cố vấn Quân đoàn 2 về yểm trợ không pháo, trong khi đó tình hình chiến sự ngày càng sôi động. Dựa vào lực lượng cơ hữu làm nỗ lực chính, vị tân tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đặt tin tưởng và kỳ vọng ở cường lực Pháo binh của Sư đoàn trong kế hoạch hỏa yểm mà cho các đơn vị Bộ binh.

Trở lại chiến trường trong vùng trách nhiệm của Sư đoàn 22 Bộ binh, tại Bình Định, áp lực CQ đè nặng vào 3 quận Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tam Quan, 2 tiểu đoàn Pháo binh được bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn 22 đã điều động yểm trợ cho trung đoàn 40 BB và trung đoàn 41 bảo vệ khu vực này. Giữa tháng 4/1972, sư đoàn 3 Sao Vàng CQ từ mật khu An Lão tung quân cắt đứt Quốc lộ 1 tại đèo Bồng Sơn và tấn công một số vị trí thuộc 3 chi khu Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tam Quan.
Trong tình hình nguy kịch, đại tá Trần Hiếu Đức-trung đoàn trưởng trung đoàn 40 kiêm tư lệnh chiến trường Bắc Bình Định đã trình với đại tá Lê Đức Đạt và trung tướng Ngô Du-tư lệnh Quân đoàn 2, xin Không lực Hoa Kỳ yểm trợ một số phi tuần chiến lược và chiến thuật để phối hợp với hỏa lực Pháo binh Sư đoàn 22 BB ngăn chận các đợt tấn công của CQ. Nhưng như đã trình bày trong loạt bài viết về Sư đoàn 22 BB, cố vấn Quân đoàn 2 lúc bấy giờ là ông Paul Vann đã gây khó khăn cho đại tá Đạt và đại tá Đức, do đó hỏa lực yểm trợ hoàn toàn trông cậy vào các pháo đội 105 và 155 ly của Pháo binh Sư đoàn 22 BB. Khi áp lực CQ quá nặng, hai trung đoàn 40 và 41 buộc phải triệt thoái khỏi hai căn cứ quan trọng là Bồng Sơn và Gò Loi. Trước khi rút khỏi hai căn cứ này, các pháo đội Pháo binh đã thực hiện nhiều đợt hỏa tập vào một số vị trí được ghi nhận là Cộng quân tập trung, để làm giảm áp lực của đối phương, tạo thuận lợi cho đơn vị bộ chiến trên đường di quân.

Một pháo đội cua phao binh Su doan 22 bo binh dang tac xa dai bac 105 ly yem tro quan ban hanh quan .jpg

* Trận chiến bi tráng của pháo thủ Sư đoàn 22 Bộ binh tại Tân Cảnh, tháng 4/1972:
Tại Bắc Kontum, hỏa lực của Pháo binh Sư đoàn 22 BB cũng được tập trung để yểm trợ cho trung đoàn 47 tại căn cứ Dakto 2 và trung đoàn 42 tại Tân Cảnh. Cùng với hỏa lực Pháo binh của Sư đoàn 22 BB, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 cũng đã ra lệnh tái phối trí vài thành phần Pháo binh thống thuộc bộ Chỉ huy Pháo binh Quân đoàn 2 về lập cụm hỏa lực ở Diên Bình (cách Dakto khoảng 6km về hướng Đông Nam nằm trên Quốc lộ 1).
Theo pmột số sĩ quan cao cấp thuộc bộ Tư lệnh Quân đoàn trong bài viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, thì hệ thống phòng thủ và yểm trợ hỏa lực của Sư đoàn 22 BB tại Tân Cảnh-Dakto đã bị nguy hiểm từ khi mặt Bắc và Đông đã bị để trống. Những căn cứ hỏa lực trong vùng đồi chiến lược ở phía Tây Dakto do lữ đoàn 2 Nhảy Dù và BĐQ án ngữ với hỏa lực yểm trợ của Pháo binh Nhảy Dù và Pháo binh Quân đoàn 2 được ghi nhận là rất vững vàng nhưng do đặt quá xa về hướng Tây Nam nên chỉ có thể yểm trợ hữu hiệu cho thị xã Kontum hơn là Dakto-Tân Cảnh.
Hai tuần liền, pháo chiến đã diễn ra giữa các đơn vị Pháo binh Sư đoàn 22 và Pháo binh CQ thuộc B3 (lực lượng Cộng quân tại Cao nguyên). Từ những vị trí thuận lợi về địa hình, pháo CQ đã tác xạ phủ đầu lên toàn vùng Dakto-Tân Cảnh ở mức độ ác liệt, trung bình hàng ngàn trái mỗi ngày. Các trận địa pháo này khá chính xác, được tiền sát viên pháo binh CQ hướng dẫn điều chỉnh từ các cao điểm ở hướng Bắc và Đông Tân Cảnh, với đủ loại đạn từ súng cối 82 ly đến sơn pháo 130 ly. Dù bị áp lực nặng của pháo binh CQ, các pháo đội 22 BB vẫn bình tỉnh phản pháo để hạn chế cường lực của pháo binh đối phương.
Sáng ngày 23 tháng 4/1972, CQ mở một trận địa pháo khốc liệt vào Tân Cảnh-bản doanh của bộ Tư lệnh hành quân Sư đoàn 22 BB. Căn cứ này do trung đoàn 42 phòng thủ với hỏa lực yểm trợ của hai pháo đội 105 và 155 ly Pháo binh Sư đoàn 22 BB. Tiếp đó, CQ đã sử dụng hỏa tiễn AT-3 ở mức độ lớn để làm tê liệt các công sự phòng ngự trong căn cứ. Buổi chiều, theo lệnh của đại tá Lê Đức Đạt, các pháo đội Pháo binh Sư đoàn 22 mở một cuộc phản pháo vào các vị trí tình nghi là có các ổ súng đại bác của CQ đặt, hai pháo đội 105 và 155 tác xạ tập trung vào mục tiêu cùng thời điểm (phương pháp TOT: Target-on-time).
Phối hợp với hỏa lực của Pháo binh Sư đoàn 22 BB, toán cố vấn Hoa Kỳ đã hướng dẫn các phi vụ không trợ chiến thuật vào mục tiêu CQ, nhưng vì thời tiết quá xấu và hệ thống phòng không của CQ quá dày dặc nên các hoạt động không yểm rất khó khăn. Trong những giờ còn lại, hỏa lực chống trả CQ trông cậy vào hai pháo đội 105 và 155 ly. 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4/1975, 15 chiến xa Cộng quân bao vây căn cứ, đến sáng địch quân tấn công cường tập vào Tân Cảnh, một số pháo thủ và binh sĩ trú phòng bị tử thương. 10 giờ sáng cùng ngày, căn cứ bị tràn ngập, đại tá Lê Đức Đạt-quyền tư lệnh Sư đoàn 22 tự sát. Trước đó, vào 2 giờ sáng, đại tá Đạt đã từ chối lên trực thăng tiếp cứu của Hoa Kỳ, ông ra lệnh cho tất cả sĩ quan và binh sĩ còn lại tìm cách ra ngoài trước khi trời sáng, còn vị tư lệnh chiến trường vĩnh viễn ở lại Tân Cảnh cùng với những người lính binh nhì, hạ sĩ, trung sĩ, sĩ quan cấp úy rất trẻ, trong đó có cả anh em pháo thủ.

* Trận địa pháo cuối ở Dakto 2:
Vào cùng thời gian mở cuộc tấn công vào Tân Cảnh, Cộng quân cũng đã áp lực nặng lên phòng tuyến Dakto 2 cách Tân Cảnh vài cây số về hướng Tây, phòng tuyến này do trung đoàn 47 BB và 1 thành phần Pháo binh Sư đoàn 22, 1 chi đội chiến xa phối hợp phòng ngự. Khoảng 10 giờ đêm, một đơn vị Địa phương quân phòng thủ chi khu Dakto-cách Tân Cảnh 2 km về hướng Bắc, quan sát thấy đèn của 11 chiến xa CQ đang di chuyển về hướng Chi khu. Một phi tuần Pháo đài Hỏa long Không kích Specter 130 được điều động vào vùng, phi hành đoàn đếm được tất cả 18 chiến xa địch, trong đó có 11 chiếc dàn đội hình hàng dọc di chuyển gần nhau. Đợt oanh tạc của phi tuần này chỉ ngăn chận được đối phương với kết quả nhỏ.
Đến nửa đêm, báo cáo của toán tiền đồn chi khu Dakto cho biết đoàn chiến xa của CQ đang di chuyển về hướng Nam về Tân Cảnh. Trong tình hình nguy biến, các pháo đội Pháo binh Sư đoàn 22 tại Dakto 2 cố mở một trận pháo tập, các khẩu đội đã tác xạ dữ dội dọc theo lộ trình di chuyển của đoàn chiến xa CQ, nhưng vẫn không cản được cuộc tiến quân của đối phương. Cũng trong thời gian này, Pháo binh CQ đã phản pháo nhưng không hữu hiệu.
Không còn hy vọng để cố thủ căn cứ Dakto 2, bộ chỉ huy trung đoàn 47 BB và các đơn vị trú phòng, trong đó có các pháo đội Pháo binh, tất cả đã phải rời căn cứ theo từng toán nhỏ. Trước khi triệt thoái, các pháo thủ đã hủy sự khả dụng của các khẩu pháo. Tiếp đến, ngày 25/4/1972, trung tướng Ngô Du-tư lệnh Quân đoàn 2 đã quyết định di tản căn cứ hỏa lực 5 và 6 bởi vì các vị trí này không thể bảo vệ. Với cụm căn cứ hỏa lực phòng ngự cuối cùng đã bị rút bỏ, toàn khu vực hướng Tây sông Poko đã bị bỏ trống, thị xã Cộng quân trở thành mục tiêu pháo của các đơn vị đại pháo CQ.
Dù bị tổn thất nặng tại chiến trường Dakto-Tân Cảnh với 30 khẩu pháo 105 và 155 ly bỏ lại trận địa trong điều kiện bất khả kháng khi phải mở đường máu triệt thoái khỏi căn cứ hỏa lực, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, các tiểu đoàn Pháo binh Sư đoàn đã được tái chỉnh trang, và với hào khí của binh chủng Pháo binh, những khẩu đội Pháo binh 105, 155 ly lại ngẩng cao nòng súng ngước chào chiến trận để yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị thuộc Sư đoàn 22 BB nỗ lực tổng phản công tái chiếm 3 quận Bắc Bình Định trong mùa thu 1972.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s