Xử lý nợ xấu: Sao không nhắc lại giải pháp cho phá sản ngân hàng?

http://trithucvn.net/kinh-te/xu-ly-no-xau-sao-khong-nhac-lai-giai-phap-cho-pha-san-ngan-hang.html

Thứ năm, 08/06/2017 | 04:06 GMT + 7 139 lượt xem

Giao đặc quyền cho các tổ chức tín dụng (TCTD) và VAMC để xử lý nợ xấu có khả năng gây ra những hệ lụy không nhỏ tới môi trường kinh doanh, đời sống xã hội và vi phạm những quyền cơ bản của con người, vi phạm nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Điều đáng nói là dù ban hành nghị quyết này cũng chưa chắc đã giải quyết được vấn đề nợ xấu.

(Ảnh: Gettyimages.com)(Hình minh họa)

Tính đến 31/12/2016, nợ xấu nội bảng, nợ xấu chưa xử lý được đã bán cho VAMC là trên 345.000 tỷ đồng, chiếm 5,8% tổng dư nợ. Nợ có nguy cơ trở thành nợ xấu hay những khoản nợ tái cơ cấu lại trong giai đoạn 2011, 2012 đến nay đến hạn là hơn 150.000 tỷ đồng. Tính chung tổng nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu khoảng 500.000 tỷ đồng, chiếm 10,08% tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế.

Trong số nợ xấu nội bảng và nợ xấu bán cho VAMC, nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 63-64%, nợ doanh nghiệp nhà nước chiếm 6,3%, nợ cá nhân, hộ kinh doanh chiếm khoảng trên 21%, nợ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 1,8%.

Trong các tài sản bảo đảm của các khoản nợ VAMC mua có tới 62% là bất động sản, 8% là quyền phát sinh tài sản, 7,2% là tài sản trên đất, 5,1% là máy móc thiết bị, 4,2% là phương tiện vận tải, 3% là giấy tờ có giá trị, 2,7% là quyền đòi nợ và 7,8% là các tài sản khác.

VAMC3

Ban hành Nghị quyết có chắc giải quyết được nợ xấu?

Ông Nguyễn Tiến Đông, Chủ tịch HĐQT VAMC cho biết, nếu nghị quyết xử lý nợ xấu được thông qua thì đến năm 2020, VAMC có khả năng xử lý được 2/3 số nợ đã mua, tương ứng với 200.000 tỷ đồng. Tuy vậy, nợ xấu sẽ tiếp tục phát sinh, lúc tăng lúc giảm vì đó là bản chất của kinh doanh tiền tệ.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, Chủ tịch HĐQT ngân hàng bưu điện Liên Việt cho rằng nợ mang tính chu kỳ, lúc tốt lúc xấu. Nghị quyết xử lý nợ xấu nên được luật hóa vì các khoản nợ xấu sẽ thường xuyên xuất hiện trong chu kỳ kinh doanh.

Còn tại Kỳ họp Quốc hội khóa XIV, rất nhiều đại biểu băn khoăn về tính khả thi của Nghị quyết. Đại biểu Hoàng Văn Cường cho rằng: “Nếu dự thảo nghị quyết được thông qua, theo cách phân chia nhóm nợ xấu như dự thảo thì nhiều doanh nghiệp sẽ có nguy cơ bị cưỡng chế tài sản ngay trong khi hoạt động”. Bà Hoàng Thu Trang, đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An băn khoăn các trường hợp cưỡng chế tài sản rất phức tạp, bộ máy thi hành án hiện tại với đầy đủ khung pháp lý, với sự tham gia của đầy đủ các lực lượng (cán bộ thi hành án, cơ quan công an, y tế…) còn khó giải quyết. Trong thực tế nhiều trường hợp diễn biến phức tạp như cố thủ, dọa tự thiêu, hắt axit, nổ súng … Nếu giao quyền năng thu giữ tài sản bảo đảm cho chủ nợ thì có khả thi không? Có bảo đảm quyền bình đẳng trong giao dịch dân sự của các chủ thể không? Có xâm phạm quyền con người không? Kiểu đòi nợ như xã hội đen có thể diễn ra hay không? Nếu có tranh chấp giải quyết như thế nào?

Bên cạnh đó, giao cơ chế đặc biệt, thủ tục rút gọn cho Ngân hàng cũng có thể dẫn đến việc một số tài sản chưa được hợp thức hóa sẽ được tuồn vào diện tài sản bảo đảm phải phát mại, sau đó nghiễm nhiên trở thành tài sản hợp pháp.

Trong quá khứ, Việt Nam đã trải qua nhiều biến động kinh tế, với không ít cú sốc tín dụng như vụ nước hoa Thanh Hương (năm 90) gây ảnh hưởng tới 70.000 người cho vay, vụ Epco Minh Phụng (năm 1999) với số tiền thi hành án tới 6.000 tỷ đồng, gần đây là vụ lừa đảo của Huyền Như 4.000 tỷ đồng, Ngân hàng Xây dựng 9.000 tỷ đồng, Ngân hàng Đại Dương… Các vụ việc lừa đảo tín dụng liên tục xảy ra kéo khối nợ xấu phình to, kéo dài dai dẳng, lặp lại hết lần này lần khác.

Các đại biểu Quốc hội cho rằng nếu nợ xấu phát sinh do nguyên nhân khách quan như thiên tai, bão lũ, khủng hoảng tài chính toàn cầu thì nhân dân sẵn sàng chia sẻ, nhưng những vụ việc do sự yếu kém của ngân hàng, do tham nhũng, do lừa đảo thì cần tìm cho ra nguyên nhân thực chất mới chữa trị triệt để được.

Vậy nguyên nhân thực chất của nợ xấu không kiểm soát được là từ đâu?

Có phải nợ xấu các ngân hàng đều như nhau? Không phải vậy, trong số các ngân hàng thương mại, có ngân hàng nợ xấu ít, có ngân hàng nợ xấu nhiều, tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, khả năng kiểm soát vốn của từng ngân hàng. Nói cách khác, ngân hàng cũng có thứ bậc, có kinh doanh tốt và kém, không thể đánh đồng hạng. Việc duy trì các ngân hàng tốt và kém cùng hoạt động trên một thị trường, không phân biệt thứ hạng đang dẫn đến nhiều rắc rối.

Các ngân hàng yếu kém để bảo đảm thanh khoản sẽ huy động vốn với lãi suất cao để quay vòng nợ và chi trả các chi phí hoạt động. Các ngân hàng này không chỉ vay trên thị trường liên ngân hàng mà còn vay trong dân. Chừng nào người dân còn phụ thuộc vào quan niệm rằng “ngân hàng không được phép phá sản”, thì họ sẽ vẫn cứ gửi tiền vào những ngân hàng yếu kém với lãi suất cao mà không cần xem xét mức độ rủi ro. Các ngân hàng này vì đã huy động cao nên cho vay cũng phải cao. Họ tìm tới những khách hàng có độ rủi ro cao, nới lỏng các điều kiện tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng này luôn cao, thậm chí kinh doanh ăn vào vốn. Vậy là cái vòng luẩn quẩn ấy cứ kéo khối nợ càng ngày càng phình to, càng ngày càng phức tạp, và gây ảnh hưởng tới nhiều chủ thể kinh tế.

Trong khi đó, các ngân hàng hoạt động hiệu quả lại buộc phải cạnh tranh lãi suất với các ngân hàng yếu kém để giữ khách. Vô hình chung, lãi suất mặt bằng tăng cao chỉ để bảo vệ các ngân hàng làm ăn kém hiệu quả. Mặt bằng lãi suất cao ảnh hưởng tới hiệu suất vốn của toàn nền kinh tế, tới tính cạnh tranh của hàng trăm ngàn doanh nghiệp, hàng triệu hộ kinh doanh, đồng thời bóp méo thị trường tài chính.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của khối ngân hàng năm 2016 cho thấy, sau khi trích dự phòng rủi ro từ 30-50%, lợi nhuận ngành ngân hàng vẫn đạt cả trăm nghìn tỷ đồng: Vietcombank lãi 6.845 tỷ đồng, Vietinbank lãi 6.825 tỷ đồng, BIDV lãi 6.248 tỷ đồng… mà chủ yếu từ chênh lệch lãi suất huy động – cho vay.

Có những lý do gì để không cho phép phá sản ngân hàng yếu kém để làm trong sạch hệ thống?

Một lý do duy nhất được liên tục đưa ra cả chục năm nay biện minh cho chính sách không phá sản ngân hàng là: “Ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, nắm giữ phần lớn tiền tích lũy cả đời của dân chúng. Nếu một ngân hàng sụp đổ sẽ dẫn tới hiệu ứng ‘domino’, sụp đổ hàng loạt, người dân sẽ phản ứng vô cùng dữ dội vì tích lũy cả đời của họ bị tiêu tán hết. Lúc ấy sẽ dẫn tới nhiều bất ổn trong xã hội, ảnh hưởng tới chế độ nên không thể để phá sản được.”

Do vậy, từ trước đến nay NHNN vẫn giải quyết bằng cách cho ngân hàng yếu kém sáp nhập vào ngân hàng lớn, hoặc mua lại với giá 0 đồng. Và vấn đề cốt lõi của sự kém hiệu quả, làm ăn vô trách nhiệm của các ngân hàng vẫn tồn tại. Tuy nhiên, từ các câu chuyện đã qua, còn có giải pháp nào nữa không?

Câu chuyện của Habubank có thể là một ví dụ đáng lưu tâm. Ngân hàng này được sáp nhập vào SHB theo quyết định 1559 ngày 7/8/2012 của NHNN. Trước đó, trong Báo cáo tài chính hợp nhất Quý 1/2012 cho thấy ngân hàng này có tổng tài sản hơn 34.600 tỷ đồng. Như vậy, trong trường hợp phá sản, giả định tài sản của Habubank được thanh lý với mức giá chiết khấu 50%, số tiền thu về đã đủ để chi trả cho người gửi tiền, mà chưa cần sử dụng đến phần bảo hiểm tiền gửi 50 triệu đồng/tài khoản.

Chỉ một tháng sau, vào Đại hội cổ đông tháng 4/2012, vốn chủ sở hữu của Habubank giảm xuống chỉ còn hơn 195 tỷ đồng, giảm 20 lần so với báo cáo tài chính (đã được kiểm toán) năm 2011. Việc tẩu tán tài sản, kê lại sổ sách vẫn diễn ra khi có chủ trương sáp nhập được phê duyệt.

Tất nhiên, những phân tích này đều dựa trên giả định đơn giản, bởi thực tế Habubank phá sản còn ảnh hưởng tới thanh khoản của các ngân hàng khác, do liên quan đến các khoản tiền gửi, tiền vay trên thị trường liên ngân hàng và tác động tâm lý đến thị trường. Điều đáng nói ở đây là lý do bảo đảm tiền gửi là chưa hợp lý. Đối với người dân, NHNN hoàn toàn có thể đứng ra cam kết trả lại toàn bộ tiền gửi cho người dân, sau khi đã bán xong Habubank như cách thức mà Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Mỹ (FDIC) đã làm với các ngân hàng của nước này. Bên cạnh đó, Quỹ bảo hiểm tiền gửi cũng sẽ có trách nhiệm bồi thường cho người gửi tiền với mức tối đa 50 triệu đồng/ sổ tiết kiệm.

Trở lại Hội trường Kỳ họp Quốc hội lần này, việc giao quyền năng quá lớn cho các TCTD, trên cả pháp luật, thay đổi chức năng của hệ thống tư pháp có thể định hình tiền lệ xấu cho môi trường cạnh tranh, gây bất ổn xã hội trong khi vấn đề chưa chắc đã được giải quyết rốt ráo. Nên chăng đã đến lúc chúng ta cần nhắc lại giải pháp cho phá sản ngân hàng yếu kém.

Nguyên Hương

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s