Thiếu lao động kỹ thuật cao tại Việt Nam liên quan đến giáo dục thế nào?

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/lack-skilled-workers-in-vn-kh-06122017080624.html

Kính Hòa, phóng viên RFA
2017-06-12

Ảnh minh họa chụp tại Hải Dương tháng 1 năm 2017.Ảnh minh họa chụp tại Hải Dương tháng 1 năm 2017.icon-zoom.png AFPNgày 7 tháng sáu, trên tạp chí quốc tế chuyên về kinh tế là Forbes có đăng bài phân tích của tác giả Ralph Jennings cho rằng Việt Nam hiện thiếu hụt người lao động có kỹ thuật cao, vì thế sẽ mất phần trong những dự án đầu tư đòi hỏi công nhân có trình độ cao, mà cụ thể là sẽ không cạnh tranh được với Trung Quốc, nước hiện có đến 24% số người trong tuổi lao động có trình độ cao, có thể đảm đương những công việc hiện đại.

Sau đây là nhận xét về vấn đề thiếu hụt người lao động có kỹ năng của một số chuyên gia kinh tế và giáo dục trong nước.

Bức tranh không phải hoàn toàn màu xám

Một người làm trong lĩnh vực giáo dục là Tiến sĩ Trần Vinh Dự, hiện là Chủ tịch trung tâm quốc tế của đại học Broward của Mỹ tại Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch trường Cao đẳng nghề Việt Mỹ tại Sài Gòn cho rằng khoảng cách về kỹ năng của công nhân giữa Trung Quốc và Việt Nam là đương nhiên vì Trung Quốc mở cửa phát triển kinh tế thị trường trước Việt Nam, có cơ hội tiếp cận kỹ thuật nước ngoài nhiều hơn.

Tuy nhiên ông và một chuyên gia kinh tế khác là Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy Ban chính sách phát triển của Liên Hợp Quốc, hiện sống ở Hà Nội cho rằng nhận xét của Forbes về sự kém hấp dẫn của Việt Nam trong các dự án đầu tư kỹ thuật cao cũng có phần hơi thổi phồng, vì đã có những công ty như Intel của Mỹ chuyên sản xuất các bộ vi xử lý cho máy tính đã chọn Việt Nam, tương tự như vậy công ty Samsung của Hàn Quốc sản xuất hầu như toàn bộ điện thoại thông minh của họ tại Việt Nam. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói:

Cảnh báo đó thì Việt Nam có biết và cũng có những nỗ lực, thế nhưng mà các nỗ lực và hành động không theo kịp các mong đợi của doanh nghiệp, và có lẽ cần phải có nỗ lực nhiều hơn nữa.
-TS Lê Đăng Doanh

“Intel cũng có đi thăm Ấn Độ và Trung Quốc, và quyết định đặt ở Việt Nam vì người công nhân Việt Nam học nhanh và khéo léo. Samsung thì cũng đã đầu tư một trung tâm nghiên cứu và triển khai, và Samsung cũng đã sử dụng hơn 1.000 kỹ sư phần mềm của Việt Nam. Có nghĩa là toàn bộ các phần mềm của điện thoại thông minh của Samsung hiện nay là do các kỹ sư Việt Nam làm.”

Theo thông tin của hãng Samsung đưa ra vào năm 2016, được báo mạng Việt Nam Vnexpress trích dẫn thì trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di động có đến 80% nhân viên là người Việt Nam.

Tuy nhiên theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, bài phân tích của tạp chí Forbes cũng có một phần sự thật vì hiện nay các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu nhắm vào ưu thế giá công nhân rẻ, ví dụ như giá công nhân ở Việt Nam rẻ hơn vùng Quảng Đông, nơi phát triển kinh tế rất mạnh mẽ ở Trung Quốc đến 2,5 lần.

Theo ông Doanh, từ lâu các nhà quan sát kinh tế đã có cảnh báo Việt Nam không thể dựa mãi vào ưu thế công nhân giá rẻ:

“Cảnh báo đó thì Việt Nam có biết và cũng có những nỗ lực, thế nhưng mà các nỗ lực và hành động không theo kịp các mong đợi của doanh nghiệp, và có lẽ cần phải có nỗ lực nhiều hơn nữa.”

Các nỗ lực đó theo ông Doanh nằm ở ba vấn đề: vấn đề chính sách phải có tính dự báo được, điều thứ hai là các cơ sở hạ tầng cho việc làm ăn kinh tế phải được cải thiện, và vấn đề thứ ba là vấn đề nguồn nhân lực, trong đó có công nhân kỹ thuật cao.

Nguồn nhân lực

Liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực, ở tầm mức quốc gia, theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, việc đào tạo công nhân kỹ thuật cao cần được tổ chức lại:

000_BF6M2-960.jpg
Công nhân xây dựng tại Hà Nội, ảnh minh họa chụp năm 2016. AFP

“Có vấn đề của ngành giáo dục Việt Nam, và cũng có vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam. Hệ thống đào tạo nghề đó hiện đang được chia cho hai bộ, một là Bộ giáo dục và đào tạo, và hai là Bộ lao động. Việc hai bộ cùng phụ trách một lĩnh vực như vậy thì cũng không làm cho lĩnh vực đó mạnh lên, cho đến nay thì cũng còn có nhiều vấn đề.”

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành hiện đang sống ở Hà Nội thì một vấn đề rất lớn đặt ra cho các trường dạy nghề ở Việt Nam là không biết đào tạo để làm gì:

“Ở Việt Nam mình kỹ thuật cao đào tạo ra rồi có việc làm hay không? Cái này giống như là con mèo đuổi theo cái đuôi của mình, cái nào đi trước cái nào đi sau. Mình đào tạo rồi ra có việc làm hay không, hay là có việc làm rồi mới đào tạo? Đào tạo ra phục vụ cho doanh nghiệp nào? Đối với vấn đề đào tạo thì cái khó khăn nằm ở chổ đầu ra, chỗ việc làm.”

Ông Trần Vinh Dự lại nhìn thấy một trở ngại trong vấn đề văn hóa của người Việt Nam đã tạo nên một tình cảnh thiếu hụt công nhân có kỹ thuật:

“Đào tạo công nhân thì nằm ở các trường cao đẳng hoặc trung cấp, có khuynh hướng nghề nghiệp. Cái này rất cần nhưng mà ở Việt Nam mình luôn bị đặt ở mức yếu theo nghĩa là người Việt không thích học các trường cao đẳng hay trung cấp. Họ thường thích tấm bằng đại học hơn, vì cái đó nghe nó sang, nó oai hơn. Đó là một điều đặc thù mang tính văn hóa, còn lâu mới khắc phục được.”

Tâm lý thích học đại học hơn học nghề của dân chúng, cũng như vấn đề đầu ra của việc đào tạo đã tạo nên một số lượng lớn các cử nhân trẻ vừa tốt nghiệp của Việt Nam không có việc làm. Theo con số được Bộ lao động và thương binh xã hội đưa ra vào tháng hai năm 2017, con số này lên đến 200 ngàn người. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư được tổ chức Healey trích dẫn về nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay thì tổng số người được đào tạo từ các trường dạy nghề và cao đẳng chiếm 7% lực lượng lao động, trong khi người có trình độ đại học và sau đại học chiếm 9%.

Để khắc phục nạn thiếu công nhân có tay nghề cao, ông Trần Vinh Dự nói rằng đã có một mô hình rất thành công ở Việt Nam là công ty lắp ráp ô tô Trường Hải đóng trên địa bàn vùng quê tỉnh Quảng Nam. Công ty này đã chọn con em nông dân để đào tạo miễn phí và sau đó làm việc cho công ty. Tuy nhiên mô hình này, theo ông Dự là rất hiếm, ông nói:

Mình đào tạo rồi ra có việc làm hay không, hay là có việc làm rồi mới đào tạo? Đào tạo ra phục vụ cho doanh nghiệp nào? Đối với vấn đề đào tạo thì cái khó khăn nằm ở chổ đầu ra, chỗ việc làm.
-Bùi Kiến Thành

“Các trường đào tạo nghề thì thường đứng riêng, không có các liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng không hỗ trợ kinh phí để các trường đào tạo nghề có kinh phí để đào tạo. Sự liên kết giữa hai bên không có mấy. Về phía trường thì không có đào tạo sát nhu cầu của doanh nghiệp. Trường không có kinh phí đào tạo thì phải lấy học phí của học sinh, lấy cao quá thì học sinh không có năng lực để trả. Mà lấy thấp thì không thể đào tạo tốt được. Thành ra đấy là một mắc xích bị đứt, nếu mà nối được thì giúp cho việc đào tạo nghề trở nên rất hiệu quả.”

Một mô hình đào tạo công nhân kỹ thuật cao khác được nhà nước Việt Nam thúc đẩy trong những năm qua là chương trình đưa công nhân đi làm việc và đào tạo ở Hàn Quốc và Nhật Bản, gọi là thực tập sinh. Trên trang web của Bộ lao động và thương binh xã hội, trong phần nói về chương trình Nhật Bản có nói là những thực tập sinh này sẽ được thực tập kỹ thuật tại Nhật.

Tuy nhiên theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, mục đích đào tạo công nhân có tay nghề qua các chương trình này không thành công:

“Các công nhân đi Hàn Quốc và Nhật Bản thì chủ yếu là muốn tìm nguồn thu nhập cao hơn. Đến nơi họ cũng không được bồi dưỡng và đào tạo lại vì họ không có ngôn ngữ là đủ trình độ để tham gia các lớp đào tạo đó. Cho nên họ chỉ là những công nhân làm những công việc mà công nhân Nhật Bản và Hàn Quốc không muốn làm nữa, và giao cho công nhân Việt Nam làm. Đến khi về thì những người công nhân đó cũng không nâng cao lên được trình độ bao nhiêu.”

Để có thể đào tạo nhiều hơn công nhân có tay nghề và có việc làm thay vì cử nhân mà thất nghiệp, theo Tiến sĩ Trần Vinh Dự thì ngoài chuyện thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và trường học, Bộ giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay cũng đã nhìn thấy tâm lý văn hóa chuộng đại học hơn học nghề của người Việt và đã có những biện pháp để có thể thay đổi tâm lý đó:

“Giảm chỉ tiêu của đại học năm nay xuống. Tổ chức phân luồng sớm, để cho các em có ý thức sớm được em nào thích hợp với bậc học gì, cao đẳng, đại học hay trung cấp, để vào đến lớp 12 không bị cái tâm lý bầy đàn là cả lớp kéo nhau đi học đại học.”

Còn theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, ngành giáo dục Việt Nam cần cải tổ mạnh để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong tương lai. Theo ông có ba điều cần phải làm: phải khuyến khích tự do trao đổi giữa thầy và trò trong giáo dục để khuyến khích suy nghĩ sáng tạo, phải có những trang thiết bị máy móc hiện đại, và cần phải khuyến khích việc rèn luyện thể chất cho thế hệ trẻ.

Trong bài viết của Ralph Jennings trên tạp chí Forbes, tác giả có nói rằng Việt Nam là quốc gia coi trọng giáo dục, và tương đối thành công ở lĩnh vực tiểu học. Theo tác giả, nếu muốn tăng cường sự cạnh tranh của mình trong tương lai, lĩnh vực giáo dục của Việt Nam vẫn sẽ là điều chủ chốt.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s