Đặt vấn đề với “Đại tá” Phạm Bá Hoa “bưng bô” Quân Đội Nhân Dân và bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam

Image result for Ngô Kỷ

Little Saigon ngày 2 tháng 7 năm 2017

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Trong thời gian qua, tôi phân vân và đắn đo, suy nghĩ là có nên phổ biến bài viết đặt vấn đề với "Đại tá" Phạm Bá Hoa hay không, vì có nhiều lý do mà tôi cần phải cân nhắc, tính toán lợi hại.

Thứ nhất là với cái tên tuổi "Đại tá" Phạm Bá Hoa thì rất nổi tiếng trong việc "chữ nghĩa," y được rất nhiều cơ quan truyền thông, báo giấy, báo mạng, Website, Blog, Facebook, Diễn Đàn hí hửng và nồng nhiệt tung hứng, phổ biến các bài viết của y, đặc biệt các trang mạng của Lính thì tận tình chiếu cố, điển hình như trang mạng của Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Nam California http://www.trachnhi emonline.com v.v… Nói chung là y có một "thế lực" rất lớn trong lãnh vực truyền thông, hễ cứ thấy bất cứ bài viết nào ký tên tác giả là "Đại tá" Phạm Bá Hoa thì chủ nhân và ban biên tập các cơ quan truyền thông, báo chí Việt ngữ nhắm mắt nhắm mũi đăng tải, phổ biến, bất kể là trong đó viết cái gì, ngay cả họ cũng chẳng cần đọc, chẳng biết nội dung bài viết được y "phun nhả" gì trong đó, họ chỉ biết hễ mỗi lần "Đại tá" Phạm Bá Hoa đánh rấm thì cứ "nhất trí" cho thơm là được rồi, khỏi phải phân tích, điều nghiên, chọn lựa chi cho tốn công tốn sức.

Thứ hai, "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã và đang giữ rất nhiều chức vụ cao cấp trong các tổ chức Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại, do đó tiếng nói của y có khá nhiều "trọng lượng" đối với quần chúng nói chung, và cựu binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa nói riêng. Nói tóm lại, nếu mà tôi dại dột đi "đụng" với y tức là cơ hội tôi bị "ôm đầu máu" rất cao, viễn ảnh bọn "fans" cuồng tín của y chắc chắn sẽ phản công, trả đủa không thương tiếc, và dĩ nhiên nếu tôi ngông cuồng mà đi "bóp dế ngựa" thì số phận tôi "không bị bại cũng bị xụi" mà thôi. Chính vì "ơn ớn" cái hậu quả "rước họa vào thân" có thể xảy ra cho mình như vậy, nên bài viết dù đã sẵn sàng lên nòng từ vài tuần qua, nhưng tôi "chưa dám" bóp cò vì còn chờ lệnh của ông Chiêm Tinh Gia cho biết giờ nào là giờ Hoàng Đạo để tôi có thể "ra quân."

Đang chờ, thì hôm nay tôi thấy một số người phóng cái bài viết của "Đại tá" Phạm Bá Hoa tràn ngậptrên các Diễn Đàn Yahoogroups, mà các người đó lại là những người có khá nhiều uy tín trên các Diễn Đàn mạng lâu nay, như Thiếu tá Việ Nam Cộng Hòa Can Bui và ông Nhat Lung v.v…

cleardot.gif

2017-06-30 8:19 GMT-07:00 Can Bui <cbui39>:

From: Nhat Lung <nhatlung>
Date: 2017-06-30 7:31 GMT-05:00
Subject: Thư số 68c của tác giả Phạm Bá Hoa gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Na

To: Dien Dan BAN VANG <banvang>, Dien Dan VN-SHARE-NEWS <vn-share-news>

Thư số 68c gởi:
Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Phạm Bá Hoa

6864f8211.jpg

Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó………………….(ngưng trích)

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Thế là hôm nay tôi không cần phải chờ cho tới cái giờ Hoàng Đạo nữa, mà tôi thấy cần phổ biến ngay cái bài viết mà tôi thai nghén mấy tuần nay, vì nếu chờ lâu hơn nữa thì tình trạng tuyên truyền có lợi cho cộng sản Việt Nam, cỗ vỏ hòa hợp hòa giải theo nghị quyết 36 Việt cộng càng bị lan truyền rộng rãi một cách vô tình hay cố ý, gây nguy hại không lường đến công cuộc đấu tranh chống cộng tại hải ngoại. Chính vì vậy tôi quyết định phổ biến bài viết đặt vấn đề về với hơn "Đại tá" Phạm Bá Hoa liên quan đến phần mở đầu trong hơn 70 bài viết với tiêu đề Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân "Đại tá" Phạm Bá Hoa là tác giả để rộng đường dư luận.

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Tục ngữ có câu "dậu đổ bìm leo," điều này quả thật quá đúng với kẻ thiếu tư cách, thiếu liêm sỉ, thiếu đạo đức, thiếu nghĩa khí, thiếu lương tâm như "Đại tá" Phạm Bá Hoa, y từng là sĩ quan giữ nhiều chức vụ cao cấp hàng đầu của Chính Phủ Miền Nam Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thế mà bây giờ ra hải ngoại y lại đi "cắn càn," quay ngược 180 độ đi viết hồi ký, ký sự nhục mạ, phỉ báng những vị lãnh đạo đất nước trước 1975, mà những vị này từng là cấp chỉ huy mà y từng trực tiếp phục vụ, y từng răm rắp tuân thủ, y từng "cúc cung tận tụy." Điều đáng nói, là vào thời đó y không hề dám mở miệng nói một lời bất bình, không hề dám lên tiếng phản đối một điều gì, mà y chỉ biết ngậm câm như hến để an phận thủ thường, để nín thở qua sông, để được no cơm ấm cật. "Đại tá" Phạm Phú Hoa quả là một tên hèn hạ, nhơ nhớp, bẩn thỉu, đáng khinh tởm. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa anh hùng, uy dũng, nhưng lại xui xẻo lọt vào một số nhân sự tệ bạc, thấp hèn, vô loại như y, bọn này đúng là loài khuyển mã làm hoen ố trang sử oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nay "Đại tá" Phạm Bá Hoa đánh lừa quần chúng, tráo trở lịch sử để tự biến y trở thành một anh hùng, một nhà ái quốc vĩ đại, trong khi y lại đi chà đạp danh dự của những người mà y từng đội ơn mưa móc. Đọc những trang hồi ký, ký sự của y, chỉ thấy toàn những lời khoác loát, huyênh hoang, lố bịch, phiến diện, hư cấu, thiếu trung thực, đậm nét chủ quan, đầy sự giả tưởng, mục đích chỉ để đánh bóng cho chính bản thân của y, nhằm thỏa mãn sự tò mò của quần chúng, trong khi đó thì y tán tận lương tâm đi "đấu tố" những người đã quá cố, những người mà Scarron nói: “Người vắng mặt bị ám sát bằng những nhát lưỡi”, và Destouches đồng ý: “Kẻ vắng mặt lúc nào cũng bị thiệt thòi.” Những nạn nhân của y là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cố Đại Tướng Cao Văn Viên, cố Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm v.v…

Tôi muốn minh xác một cách rất rõ ràng nơi đây để tránh ngộ nhận, là tôi không có đủ tư cách và không có đủ thẩm quyền để phê phán hay luận công, tội các vị lãnh đạo miền Nam Việt Nam trước 1975, vì lúc đó tôi chỉ là một sinh viên trẻ, không có liên hệ chính trị, không làm việc cho chính phủ, không gia nhập quân đội, tôi không thấu hiểu rõ nội tình hay "thâm cung bí sử" của các nhân vật này, chính vì vậy mà tôi không thể đưa ra quan điểm, nhận định hay ý kiến được. Bài viết này, tôi chủ trương không ca ngợi, không bào chữa, không binh vực, không lên án, không chỉ trích, không kết tội những vị lãnh đạo miền Nam Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, trừ trường hợp đối với những tên gián điệp phản quốc mà tôi có bằng cớ chính xác, trung thực, rõ ràng và thuyết phục như những tên: Trung tướng VNCH Nguyễn Hữu Có, Chuẩn tướng VNCH Nguyễn Hữu Hạnh, Dân biểu VNCH Đinh Văn Đệ, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, hoạt động ttrong cụm tình báo A-22 trong Dinh Ðộc Lập.

Image result for Tướng Nguyễn Hữu Có

Trung tướng VNCH Nguyễn Hữu Có, nhưng lại là gián điệp cộng sản

Image may contain: 1 person, closeup
Chuẩn tướng VNCH Nguyễn Hữu Hạnh, nhưng lại là gián điệp cộng sản

image022

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

Image result for vũ ngọc nhạ

Vũ Ngọc Nhạ

image027

Phạm Xuân Ẩn

Con đường vào Dinh Độc Lập của nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ - Ảnh 2

Vũ Ngọc Nhạ (tứ hai từ trái qua) và Phạm Xuân Ẩn (bìa bên phải) trong lần họp mặt Tổng cục tình báo cộng sản

image024

Huỳnh Văn Trọng

image030

Phạm Ngọc Thảo

Đinh Văn Đệ (Ba Đệ) – điệp viên U4 là ai ? Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những thông tin về ông mới dần được hé lộ. Ông là sĩ quan mang cấp Thượng úy của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam

Dân biểu Đinh Văn Đệ, Chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện VNCH, nhưng lại là gián điệp cộng sản

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Tuy nhiên theo tôi thì quần chúng có quyền nêu lên ý kiến, phản ứng, quan điểm khen, chê, đồng ý hay bất đồng đối với các nhân vật này, vì họ là người dân. Riêng phần "Đại tá" Phạm Bá Hoa thì y không được có được cái quyền đó, vì y từng là thuộc cấp trực tiếp của những vị mà y đang lên tiếng chỉ trích, phê bình, lên án đó, vì y từng là tay chân thuộc hạ của họ, y từng đảm nhiệm chức "chánh văn phòng," "tham mưu trưởng" cho tướng này tướng nọ, do đó y làm sao có tư cách để lên tiếng chỉ trích, phê phán những vị ân nhân của y, những "ông chủ" của y, mà y từng đi "bưng bô" cho họ, từng "theo đám ăn tàn" với họ vào thời trước 1975. Nếu những vị lãnh đạo của y xấu xa, tệ hại đúng như những gì y bây giờ chỉ trích, tố cáo, thì chính y cũng là kẻ xấu xa, tệ bác như họ, cũng phải chịu một phần trách nhiệm, vì trên thực tế y chính là tên đồng lõa, "cá mè một lứa," "ngưu tầm ngưu mã tầm mã" mà thôi.

Trong bài viết này tôi dùng chữ "tôi" chứ không phải "chúng tôi," tức với tư cách cá nhân Ngô Kỷ, tôi trực tiếp đặt vấn đề, lên án, phỉ nhổ cá nhân "Đại tá" Phạm Bá Hoa mà thôi, chứ tôi đá động hay đụng chạm gì đến toàn thể chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi muốn nói rõ như vậy. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước dư luận và pháp luật về bài viết này.

Vì bài viết này sẽ khá dài, do đó tôi chia nội dung bài viết ra làm hai phần, phần 1 tôi đề cập đến việc "Đại tá" Phạm Bá Hoa thuộc loại đón gió trở cờ, cổ võ cho việc hòa hợp hòa giải với Quân Đội Nhân Dân và lãnh đạo cộng sản qua nội dung trong hơn 70 Lá Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân mà y đã viết liên tục trong 6 năm qua từ 2011 đến nay 2017, và phần 2 tôi sẽ trình bày và vạch trần bộ mặt vô liêm sỉ, phản chủ và đê hèn của "Đại tá" Phạm Bá Hoa trong việc y viết hồi ký, ký sự nhục mạ các cấp chỉ huy của y trước thời mất nước 1975.

PHẦN 1:

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Bài viết này là bài viết khiến tôi suy nghĩ, đắn đo khá nhiều trước khi ngồi vào bàn phiếm, vì "đối tượng" mà tôi đặt vấn đề, nói chính xac hơn là tôi khinh bỉ và phản đối là một nhân vật có "chỗ đứng" trong xã hội trên nhiều phương diện: cao niên, sĩ quan giữ nhiều chức vị cao cấp hàng đầu của Chính Phủ Miền Nam Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, y từng và đang nắm giữ nhiều chức vụ lớn trong các hội đoàn quân đội hải ngoại, và y cũng là cây viết nổi tiếng mà các bài viết của y được hầu hết cơ quan truyền thông, báo chí giấy, mạng, Website, Blog, Facebook Việt ngữ hải ngoại đăng tải, không ai khác hơn là "Đại tá" Phạm Bá Hoa.

Vì tiếp cận nếp sống văn minh của Hoa Kỳ, do đó tôi luôn xử sự một cách công bằng, quang minh chính đại, tôi luôn dành cho đối tượng một cơ hội được mọi người biết đến một cách công khai, do đó trước khi tôi đề cập đến "Đại tá" Phạm Bá Hoa, tôi mời quý vị đọc tiểu sử chính thức của y để quý vị biết về y, rồi sau đó tôi sẽ đi vào chi tiết sau.
Image result for Phạm Bá Hoa

"Đại tá" Phạm Bá Hoa

Chú thích của Ngô Kỷ: Tôi không phải là kẻ tiểu nhân, nhỏ "
mọn, hay "vạch lá tìm sâu," dù đây chỉ là một tình tiết nhỏ,
nhưng theo tôi thì lẽ ra tấm hình của bà vợ nên dán ở 2 chỗ
trống ở hai bên, hay nên làm một bức hình bà vợ đàng
hoàng, trang trọng để bên cạnh, chứ không thể gắn tấm
hình bà vợ vào trước bộ Quân Phục VNCH bên cạnh tấm
huy chương như vậy, trông rất khó coi và xét về mặt Quân
Kỷ thì vô cùng sai trái (dù Quân Lực VNCH tan hàng rồi.)

Đây chỉ là một ý kiến hoàn toàn có ý kiến xây dựng mà thôi.
Những lần sau, không nên phổ biến tấm hình có dạng này nữa.

Trích:

ttp://rungnui.blogspot.com/20 11/10/chuong-4.html
Đôi nét binh nghiệp của tác giả
Phạm Bá Hoa, sinh năm 1930 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày 12 tháng 5 năm 1954 vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thuộc tài nguyên sĩ quan trừ bị khóa 5. Vì không đủ cơ sở, được gởi lên học Trường Võ Bị Liên Quân/Đà Lạt. Trở về Thủ Đức dự lễ tốt nghiệp khóa Vì Dân cuối tháng 1 năm 1955, với cấp bậc Thiếu Úy.
Lần lượt giữ các chức vụ:
Trung Đội Trưởng/Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân.
Đại Đội Trưởng/Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân.
Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 35/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.
Trưởng Ban 3 Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 35/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.
Trưởng Ban Hành Quân, rồi Phó Phòng 3/Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu.
Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Quân Đoàn III.
Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng.
Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh (Cần Thơ).
Chánh Sở Kế Hoạch/Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu .
Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận.
Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Thăng cấp:
Trung Úy, tháng 2 năm 1957.
Đại Úy, tháng 11 năm 1961.
Thiếu Tá, tháng 11 năm 1963.
Trung Tá, tháng 12 năm 1965.
Đại Tá, tháng 9 năm 1969.

Theo học:
Khóa Đại Đội Trưởng, chi nhánh Trường Võ Bị Liên Quân/Đà Lạt 1956.

Khóa Tham Mưu, Trường Đại Học Quân Sự/Sài Gòn 1960.

Khóa Chỉ Huy&Tham Mưu Cao Cấp, Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp/Đà Lạt 1970.

Tham dự các khóa hội thảo:
Tiếp Vận Miền Tây Thái Bình Dương 1971, Okinawa, Nhật Bản.

Quản Trị Quốc Phòng 1971, Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Sài Gòn.

Phát Triển Quốc Gia 1973, Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Sài Gòn.

Công du:
Nhật Bản và Đại Hàn 1963, Thái Lan 1966, Đài Loan 1970, Okinawa 1971, và Singapore 1973.

Tù chính trị:
Từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 9 năm 1987, trong các trại tù Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, và Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh.

Định cư.
Tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, từ tháng 4 năm 1991 trong đợt HO 5.

Sinh hoạt Cộng Đồng:
Tham gia Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tại Houston từ năm 1995 đến năm 2000.

Tham gia Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại: Nhiệm kỳ 1 (2000-2002) họp tại Houston, Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ 2 (2002-2004) họp tại Toronto, Canada. Nhiệm kỳ 3 (2004-2006) họp tại Brisbane, Australia. Và nhiệm kỳ 4 (2006-2008+2009) họp tại San Jose, Hoa Kỳ.

Tham gia nhóm phát thưởng học sinh giỏi từ lớp 5 đến lớp 12 từ năm học 1997-1998 đến năm học 2003-2004, do Hội HO Hoa Kỳ tại Houston tổ chức.

Tham gia ban phát thanh Phật Giáo/Houston từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 1 năm 2008, trong thời gian đó đã đọc trên làn sóng đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam (VOVN) hơn 80 bài của các tác giả viết về Phật Giáo trong đời sống.

Phụ trách chương trình thời sự “Những Vấn Đề Hôm Nay” trên làn sóng đài TNT/Houston từ tháng 9 năm 2001 đến cuối tháng 1 năm 2006, đã viết và đọc 349 bài với chủ đề hỗ trợ công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam.

Tham gia sinh hoạt trên NET với 79 bài viết về lập trường chính trị dân chủ tự do, đối nghịch với chế độ cộng sản độc tài đã và đang cai trị Việt Nam.

Tham gia hội Ái Hữu Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc tại Houston, từ năm 2005 …..

Tham gia chương trình “Tản Mạn Lịch Sử 1960-1975” trên đài truyền hình VAN TV 55.2 Houston từ tháng 07/2009 đến tháng 02/2011.

Từ tháng 1/2010, bắt đầu chuyển những bài thời sự Việt Nam về trong nước ngang qua Diễn Đàn Nước Việt Quốc Nội.

Tác phẩm:
Đôi Dòng Ghi Nhớ”, hồi ký chính trị Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1963 đến năm 1975. Nhà xuất bản Ngày Nay ấn hành lần 1 năm 1994, lần hai năm 1995, lần 3 năm 1998, và lần 4 năm 2007. Dài 386 trang (cở chữ 11).
Ký Sự Trong Tù”, tâm sự và nhận thức của Một Tù Nhân Chính Trị trong các trại tập trung Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh, từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 9 năm 1987, và trong thời gian ở Sài Gòn chờ xuất ngoại. Ấn hành tháng 7 năm 2008, dài 534 trang (cở chữ 11).
Tôi là Một H.O.”, tâm sự của Một H.O. và đóng góp nhỏ nhoi vào sinh hoạt Cộng Đồng tị nạn cộng sản từ tháng 4 năm 1991 đến tháng 5 năm 2010, dài 679 trang (cở chữ 10). Ấn loát lưu giữ trong gia đình. Chưa ấn hành.
Quê Hương & Quân Ngũ”, tâm sự một Người Lính gắn liền với quê hương & quân ngũ trong giai đoạn chiến tranh giữ nước từ năm 1954 đến năm 1975. Dài 463 trang (cở chữ 10). Ấn loát lưu giữ trong gia đình. Chưa ấn hành.
“Thời Sự Việt Nam 2001-2006”, nỗi lòng của người H.O. chưa tròn trách nhiệm với dân với nước, nhờ làn sóng phát thanh tại Houston từ tháng 9/2001 đến tháng 1/2006 chuyển tải chủ đề hỗ trợ dân chủ hóa Việt Nam. Sách dài 627 trang (cở chữ 10). Ấn loát lưu giữ trong gia đình. Chưa ấn hành.
Tình trạng gia đình đến cuối năm 2010: Vợ và năm con (4 trai 1 gái) có gia đình, với chín cháu Nội Ngoại (5 cháu gái và 4 cháu trai). Đầu năm 2010, kỷ niệm 52 năm hôn lễ.
(ngưng trích)

Image result for Phạm Bá Hoa

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Lý do tôi bất mãn, phẫn nộ và phản đối "Đại tá" Phạm Bá Hoa, vì trong 6 năm qua, y đã viết hơn 70 bài viết với tiêu đề "Thư gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân" bắt đầu từ số 1 vào cuối năm 2011 đến số 68a, 68b, 68c vào giữa năm 2017, mà trong phần mở đầu trên hầu hết các bài viết đó, y đã viết những điều phản bội lại lý tưởng của người Việt Quốc Gia chống cộng, đi ngược lại lập trườngn chiến đấu của những người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Để trình bày cho được khúc chiết, rành mạch, rõ ràng, tôi trích dẫn lại những đoạn bài viết của "Đại tá" Phạm Bá Hoa , và sau đó tôi sẽ lần lượt phân tích tóm lược một số điều sai trái theo từng phần bài viết được trích dẫn, để chứng minh tôi luôn chủ trương "nói có sách mách có chứng" chứ không hề vu oan giá họa, hay suy diễn vu vơ hoặc đặt điều vô cớ.

Để dễ hiểu vấn đề, tôi sẽ lần lượt trích dẫn phần mở đầu các bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân, tôi nhấn mạnh chữ "phần mở đầu" vì đó là phần mà tôi muốn phản đối, chứ phần dướicủa các bài viết lá thư thì chỉ là gói ghém tin tức "trên trời dưới đất" vô thưởng vô phạt mà "Đại tá Phạm Bá Hoa" muốn khoe khoang cái tài "rành rỏi," và đánh bóng "cái tôi" của mình thôi, không có gì đáng cho tôi cần quan tâm nói đến. Xin quý vị cố gắng để ý vì nội dung phần mở đầu củamỗi bài viết mà tôi trưng dẫn sau đây có nội dung "hơi khác nhau một chút." Trước hết mời quý vị đọc nội dung phần mở đầu bài viết Thư gởi số 1 gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa như sau:

Trích:

http://www.trachnhiemonline.co m/Nhan-Dinh/ND-121211–PhamBaH oa-ThuSo-1-GoiNguoiLinhQD-ND.h tm

Thư gởi số 1 gởi
Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.
******
Phạm Bá Hoa
1. XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ.

Tôi là một trong hằng triệu Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Ngày cuối tháng 4/1975, bối cảnh chính trị đưa chúng tôi vào tình thế thua trận, chúng tôi bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam đày đọa trong hằng trăm trại tập trung trong số hơn 200 trại mà cộng sản gọi là trại cải tạo. Người 5 năm, 10 năm, thậm chí 17 năm ròng rả, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Giờ đây, Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi là Người Lính thua trận, nhưng tôi rất hãnh diện vì được phục vụ tổ quốc và dân tộc với tư cách một công dân trong thời chiến tranh bảo vệ dân chủ tự do. Giờ đây tôi đang sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất, tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa.

Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Chữ “Người Lính” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản chỉ là một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Trong bài này, xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân một cách ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày.

………………………… ………. Houston, tháng 11 năm 2011. (ngưng trích)

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Quý vị đọc chỗ chữ màu đỏ, màu xanh ở trên thì quý vị nghĩ như thế nào? Tại sao bọn "Quân Đội Nhân Dân" của cộng sản Bắc Việt mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại trịnh trọng viết là " Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Chữ “Người Lính” viết hoa," "Trong bài này, xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân một cách ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày."

Theo tôi thì Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa không hề xua quân ra ngoài Bắc Việt để đánh phá, tiến chiếm, xâm lăng, mà chỉ có Quân Đội Nhân Dân dưới sự chỉ huy của bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam xua quân đánh phá, tiến chiếm, xâm lăng miền Nam Việt Nam. Quân Đội Nhân Dân gồm sư đoàn Sao Vàng, binh đoàn Quyết Thắng, binh đoàn Hương Giang, binh đoàn Tây Nguyên, binh đoàn Cửu Long… đã thi hành chỉ đạo của cộng sản Bắc Bộ Phủ để tàn sát nhân dân miền Nam Việt Nam, và giết chóc Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa.

Quân Đội Nhân Dân đã xử dụng vũ khí của cộng sản quốc tế Liên Xô, Tàu cộng, Tiệp Khắc v.v…để bắn giết biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, thế mà bây giờ "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại tôn vinh chúng là "Người Lính,"mà còn lại nhấn mạnh "Chữ “Người Lính” viết hoa," và gọi chúng là "Các Anh," đây quả là một điều sỉ nhục và xúc phạm đến vong linh của những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã Vị Quốc Vong Thân dưới lằn đạn của quân thù Quân Đội Nhân Dân được lãnh đạo bởi đảng cộng sản Việt Nam. Phải chăng "Đại tá" Phạm Bá Hoa muốn đồng hóavị trí của Quân Đội Nhân Dân ngang hàng với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa? "Đại tá" Phạm Bá Hoa tôn vinh Quân Đội Nhân Dân là "Người Lính," và gọi chúng là "Các Anh," thế thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa gọi những người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là Người gì? là Các gì? Lợi dụng bài viết, "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã tinh vi "đánh đồng" tinh thần "ái quốc" của Quân Đội Nhân Dân ngang hàng với tinh thần "ái quốc" của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thật là quá cay đắng, mỉa mai, thấm thía vô cùng. "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã lợi dụng vị thế là một sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa để "đóng dấu" hóa giải tội lỗi của Quân Đội Nhân Dân, và y đã thành công trong sứ mạng thực hiện Nghị Quyết 36 một cách suông sẻ và "thuận buồm xuôi gió" vì y được hầu hết cộng đồng và cựu binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại ưu ái ôm y vào lòng với vô vàn "kính yêu, trìu mến, ái mộ, tri ân kể cả vinh danh, tôn thờ." Ôi! cộng đồng hải ngoại chúng ta đang đến hồi "mạt vận" đến thế là cùng!

Kính thưa Quý Đồng Hương,

"Đại tá" Phạm Bá Hoa tráo trở, dị hợm, đần độn, vô liêm sỉ khi cúi mình "bưng bô" cho bọn Quân Đội Nhân Dân khi y viết rằng "Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân," (tôi xin lưu ý ở đây là cái hàng chữ "tô đậm" Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân là do Đại tá Phạm Bá Hoa tự tô đậm để nhấn mạnh ý tưởng của y.)

Tôi đọc hàng chữ "Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân," là tôi muốn điên tiết lên rồi, ai đời cái bọn Quân Đội Nhân Dân" ác ôn, tàn nhẫn mà y lại đi tôn vinh là Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân thì hết ý kiến rồi, chỉ biết "bó tay" thôi. Trên thực tế thì Quân Đội Nhân Dân là công cụ của đảng cộng sản Việt Nam, chúng làm gì có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, mà nhiệm vụ chính yếu của Quân Đội Nhân Dân là bảo vệ đảng cộng sản Việt Nam và bảo vệ Xã Hội Chủ Nghĩa mà thôi. Ngoài việc bảo vệ "Xã Hội Chủ Nghĩa" dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Quân Đội Nhân Dân còn có nhiệm vụ không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế vô sản nữa.

Cho đến giờ phút này, tôi vẫn chưa có thể hình dung ra được nét mặt phản ứng của các Chị Quả Phụ và các cháu Cô Nhi ra sao khi họ nghe được, đọc được, biết được "Đại tá" Phạm Bá Hoa, một sĩ quan giữ nhiều chức vụ cao cấp hàng đầu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại đi vinh danh Quân Đội Nhân Dân là "Người Lính," là "Các Anh," là "Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân," trong khi Quân Đội Nhân Dân là những tên khát máu, tàn nhẫn, dã man đã cướp đi mạng sống của những người chồng, người cha của họ. Tôi tin rằng nếu có cơ hội những uả phụ, cô nhi này gặp được "Đại tá" Phạm Bá Hoa thì họ sẽ hỏi: "Thưa Đại tá Phạm Bá Hoa, nếu Quân Đội Nhân Dân làm trách nhiệm Bảo Vệ Tổ Quốc Nhân Dân như lời ông xác quyết, thế thì chồng tôi, cha tôi là Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân không? Tại sao họ lại bắn giết chồng, cha chúng tôi?" Rõ ràng "Đại tá" Phạm Bá Hoa đang nợ những người Quả Phụ, Cô Nhi Việt Nam Cộng Hòa một lời xin lỗi.

Kính thưa Quý Đồng Hương,

"Đại tá" Phạm Bá Hoa ngu xuẩn, đần độn, lố lịch khi viết rằng: "Chữ “Người Lính” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng," tức y có ý cho rằng những tên Quân Đội Nhân Dân từ cấp "lính đến các cấp chỉ huy," luôn cả cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, liên đoàn" là hoàn toàn không có tội lỗi, không có sai trái, không có nợ máu gì với Dân, Quân, Cán, Chính miền Nam Việt Nam cả, y chỉ có "vấn đề" với những "lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng" mà thôi. Quả thật đây là một quan niệm, nhận định hoàn toàn sai lầm, ấu trĩ của "Đại tá" Phạm Bá Hoa, vì trên thực tế bất cứ một kẻ nào nằm trong Quân Đội Nhân Dân rồi, thì từ cấp bé đến cấp lớn, từ bộ đội đến tướng lãnh đều phải học tập tư tưởng, đường lối, chính sách đảng cộng sản, và tất cả Quân Đội Nhân Dân đều là những cán bộ chính trị cộng sản, chứ không thuần túy là quân đội chỉ biết cầm súng chiến đấu mà thôi.
Trích:
https://www.otofun.net/threads /tong-quan-ve-quan-doi-nhan-da n-viet-nam.319438

Tổ chức chính trị Quân Đội Nhân Dân

Theo Luật Quốc phòng năm 2005 (luật số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005), Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Lực lượng Thường trực và Lực lượng Dự bị Động viên. Lực lượng Thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội Chủ lực, Bộ đội Địa phương và Bộ đội Biên phòng. Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Sư đoàn(trước đây gọi là Đại đoàn). Cấp cao nhất là Quân đoàn, hiện nay có 4 quân đoàn là các quân đoàn 1, 2, 3, 4. Đây chính là quân chủ lực cơ động.

Từ cấp tiểu đoàn trở lên có ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng. Trước đây, khi thực hiện chế độ "2 thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng…), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính ủy (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau năm 1975 đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị. Theo nghị quyết của Đại hội **** lần thứ X, chế độ chính ủy – chính trị viên lại được khôi phục trong toàn quân từ năm 2006. Từ năm 2008, Bộ Quốc phòng quyết định bỏ chức vụ Trung đội phó. Tổ chức quân đội chia ra hai loại: Quân cơ động và Quân đồn trú. Quân cơ động là lực lượng chủ lực tiến công cơ động, không gắn cố định với địa dư đóng quân, là các quân đoàn, sư/lữ đoàn độc lập. Quân đồn trú để bảo vệ địa phương mình đồn trú và xây dựng quân sự địa phương, là các quân khu, BCH Quân sự các tỉnh, thành phố.

………….(ngưng trích)

Trích: Bấm vào Link:
Tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam được quy định theo Luật Quốc phòng năm 2005 theo đó Quân đội Nhân dân Việt Nam là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của Lực lượng Vũ trang Nhân dân bao gồm Lực lượng thường trực (Bộ đội Chủ lực và Bộ đội Địa phương) và Lực lượng Dự bị động viên.

Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội

Theo điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương VI: Tổ chức Đảng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và Công an Nhân dân Việt Nam, Điều 25 và 26

TT Tổ chức Đảng trong Quân đội Cấp Đảng Số lượng
cấp ủy
Số lượng Ủy viên Thường vụ
1 Đảng bộ Quân ủy Trung ương Cấp 1 22 đến 25 7 (gồm 01 Bí thư là Tổng Bí thư; 01 Phó Bí thư là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ; Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; 02 Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách công tác chính trị và công tác đối ngoại)
2 Đảng bộ Quân khu và tương đương Cấp 2 17 đến 19 5 (gồm 01 Bí thư là Chính ủy; 01 Phó Bí thư là Tư lệnh; 01 Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng; 01 Phó Tư lệnh, 01 phó Chính ủy, 01 Chủ nhiệm Chính trị)
3 Đảng bộ Quân đoàn và tương đương Cấp 2 15 đến 17 5 (gồm 01 Bí thư là Chính ủy; 01 Phó Bí thư là Tư lệnh; 01 Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng; 02 Phó Tư lệnh)
4 Đảng bộ Sư đoàn và tương đương Cấp 3 15 đến 17 5 (gồm 01 Bí thư là Chính ủy; 01 Phó Bí thư là Sư đoàn trưởng; 01 Phó Sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng; 02 Phó Sư đoàn trưởng)
5 Đảng bộ Trung đoàn và tương đương Cấp 4 13 đến 15 3 (gồm 01 Bí thư là Chính ủy; 01 Phó Bí thư là Trung đoàn trưởng; 01 Phó Trung đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng)
6 Đảng bộ Tiểu đoàn và tương đương Cấp 5 11 đến 13 3 (gồm 01 Bí thư là Chính trị viên; 01 Phó Bí thư là Tiểu đoàn trưởng; 01 Phó Tiểu đoàn trưởng)
7 Chi bộ Đại đội và tương đương

Xin mời quý vị đọc các tài liệu của Việt cộng ở dưới để thấy rõ ràng Quân Đội Nhân Dân bảo vệ đảng cộng sản việt Nam và Xã Hội Chủ Nghĩa, chứ không bảo vệ dân tộc. "Đại tá" Phạm Bá Hoa nên đọc các tài liệu này để thấy ra sự ngu xuẩn khi đi viết bài tuyên truyền cho Quân Đội Nhân Dân.

TÀI LIỆU:

Trích:
https://vi.wikipedia.org/wiki/ B%E1%BB%99_Qu%E1%BB%91c_ph%C3% B2ng_Vi%E1%BB%87t_Nam

Tổ chức Đảng

Xem thêm: Tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam

Đảng lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam và Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyệt đối. Đứng đầu là Quân ủy Trung ương nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; lãnh đạo mọi mặt trong Quân đội. Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư và trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương.
Dưới Quân ủy Trung ương là Đảng bộ các Tổng cục, Quân khu, Cục trực thuộc Bộ và các đơn vị tương đương Quân đoàn trực thuộc Bộ. Đứng đầu là Bí thư thường là Chính ủy đảm nhiệm; Phó Bí thư là cấp trưởng đơn vị đó đảm nhiệm. Tùy theo số lượng đơn vị và quân số mà phân chia thành Đảng bộ cấp 2, cấp 3 và cấp cơ sở. Và đơn vị trực thuộc cấp cơ sở (tương đương Đại đội) thường được gọi là Chi bộ, đó là cấp tổ chức Đảng nhỏ nhất trong Quân đội…….(ngưng trích)

Trích:

https://vi.wikipedia.org/wiki/ Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh% C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_N am

Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân đội Nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái. Ngoài việc bảo vệ tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội…………(ngưng trích)

Image result for quốc huy quân đội nhân dân việt namImage result for quốc huy quân đội nhân dân việt nam

Quân kỳ Quân đội Nhân dân Việt Nam Quân huy của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trước Cách mạng tháng Tám-1945


Lễ thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Ban đầu gồm 34 chiến sĩ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.
Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).
Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quântrận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, trong Cách mạng Tháng Tám, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân….. (ngưng trích)

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Thật là lố bịch, hèn hạ, bần tiện khi "Đại tá" Phạm Bá Hoa sau khi khoe khoang "cái tôi" um sùm trời đất, thì y lại viết tiếp một câu lãng xẹt, chẳng giống con giáp nào cả, rằng "Giờ đây, Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi là Người Lính thua trận, nhưng tôi rất hãnh diện vì được phục vụ tổ quốc và dân tộc với tư cách một công dân trong thời chiến tranh bảo vệ dân chủ tự do. Giờ đây tôi đang sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất, tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa."
Đọc những hàng chữ trên quý vị có thấy chướng tai gai mắt không? Tôi cứ ngỡ là y tuyên bố là sẽ hỗ trợ nhân dân trong nước đấu tranh lật đổ cộng sản, hay có một thái độ chống lại Việt cộng một cách tích cực nào đó, nhưng tôi vô cùng thất vọng và "buồn nôn" khi thấy y tuyên bố "tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa." Quý vị có tưởng tượng ra được một nhân vật cấp đại tá, từng giữ vai trò "lãnh đạo" Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà lại đi nói ra một điều nhạt nẽo, vô cảm trước tình hình sôi động đấu tranh chống đấu cộng sản như vậy hay không? Có cả hàng triệu người Việt tỵ nạn hải ngoại, trong đó có cả những người "dân ngu cu đen" cũng không thèm về Việt Nam khi đất nước còn cộng sản cai trị, chứ đâu cần đến thái độ của một ông đại tá như y. Thật là một tên bẩn thỉu, vô lại, ngu đần, dị hợm, ít thấy trong lịch sử nhân loại.

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Bây giờ tôi xin mời quý vị đọcnhững bài viết Thư Gởi Các Anh Quân Đội Nhân Dân, mà kể từ số 28a, tức từ tháng 2 năm 2014, thì "Đại Tá" Phạm Bá Hoa lại thay đổi một số lời lẽ trong cái nội dung "phần mở đầu" của Thư Gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân. Quý vị đối chiếu lá thư số 28a này với lá thư số 1 ở trên thì quý vị sẽ thấy có sự khác biệt một chút, vì kể từ bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân số 28a, thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa có viết thêm một số chữ rất "phản quốc," và công khai ra mặt "bưng bô" cộng sản Việt Nam.

Trích:

http://www.trachnhiemonline.co m/Nhan-Dinh/ND-140220-PhamBaHo a-ThuSo-28a-GoiNguoiLinhQD-ND. htm

Thư số 28a gởi
Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Phạm Bá Hoa

Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc, Dân Tộc! Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.

Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó………..

Texas, tháng 02 năm 2014 (ngưng trích)

Trích:
http://www.trachnhiemonline.co m/Nhan-Dinh/ND-170615-PhamBaHo a-ThuSo-68a-GoiNguoiLinhQD-ND. htm

Phạm Bá Hoa

Thư số 68a gởi

Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Tôi chào đời năm 1930, vào quân lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo Việt Cộng với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc và Dân Tộc! Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.

Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó……………………

Tháng 6 năm 2017 (ngưng trích)

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Điều không cần phải giải thích, phân tích, lý luận dài dòng nữa, vì ai ai cũng biết rõ là bọn "lãnh đạo" của "Quân Đội Nhân Dân" là lũ đầu sỏ đảng cộng sản Việt Nam, thế mà "Đại Tá" Phạm Bá Hoa lại "cả gan" tuyên bố trong bài viết rằng "Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc, Dân Tộc! Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự."

Thật sự trên đời có nhiều chuyện "khó tin nhưng có thật," tôi hiểu điều đó vì tôi va chạm thực tế xã hội rất nhiều, nhưng cái chuyện mà một người "Đại Tá" từng được chính y khai trong hồi ký là Việt cộng bỏ tù y tới 12 năm 3 tháng, thế mà nay y lại "từ bi hỷ xả" tuyên bố là "Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh," mà theo ý của "Đại tá" Phạm Bá Hoa muốn nói là "không hận thù lãnh đạo cộng sản," điều này làm tôi không thể tin được. "Đại tá" Phạm Bá Hoa từng giữ nhiều chức vụ cao cấp hàng đầu của chính phủ miền Nam Việt Nam, và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho tới giờ phút chót năm 1975, y từng chứng kiến biết bao sự tàn ác của bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam trước năm 1975, y từng là chứng nhân việc các lãnh đạo cộng sản ra lệnh đày đọa các tù nhân VNCH vào các Gulag được mệnh danh mỹ miều là "trại cải tạo," y cũng thấy rõ bè lũ lãnh đạo cộng sản ra lệnh cho Quân Đội Nhân Dân và Công An Nhân Dân hiếp đáp dân lành, bắt bớ, thủ tiêu các nhà đấu tranh dân chủ, đàn áp đồng bào biểu tình chống đối các vấn nạn "biển chết, cá chết Formosa, Bô Xít Tây Nguyên, Hoàng Sa, Trường Sa, Dân Oan" v.v…, thế mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại "dõng dạc" tuyên bố"Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh" thì quả thật y là một tên khốn nạn, trời không dung đất không tha cho cái tội phản quốc, bưng bô Việt cộng.
Trên nguyên tắc, với vị thế, chức phận, quyền hành của "Đại tá" Phạm Bá Hoa trước 1975, đương nhiên y phải nắm vững tội ác tày trời của bọn "lãnh đạo" cộng sản Việt Nam, thế thì tại sao y lại tuyên bố không hận thù lãnh đạo cộng sản? Đúng là "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã bị mua chuộc, đã đón gió trở cờ, đã thông đồng, cấu kết với cộng sản qua Nghị Quyết 36 hòa hợp hòa giải Việt cộng. Một người dân bình thường không nắm giữ chức vụ cao cấp như y cũng biết quá rõ tội ác tày trời, tàn độc, ác ôn, khủng khiếp của bọn "lãnh đạo cộng sản" như thế nào rồi, chứ đừng nói chi đến kiến thức của một vị đại tá VNCH từng nắm giữ chức vụ cao cấp nhiều lần như y.
Để làm cho mắt "Đại tá" Phạm Bá Hoa sáng ra, vì có thể y lấy cớ là đang bị ăn phải "bùa mê thuốc lú" Việt cộng nên quên, do đó tôi nêu tóm lược ra đây một số tên tuổi của tập đoàn lãnh đạo cộng sản đã và đang gây biết bao tội lỗi với nhân dân, đặc biệt đối với Quân, Dân, Cán, Chính miền Nam Việt Nam trước 1975. Tội lỗi của những tên lãnh đạo cộng sản nhiều đến nỗi "tre trên rừng không đủ để viết, nước dưới biển không đủ để tẩy sạch."
Danh sách bọn "lãnh đạo" cộng sản có từ Đại Hội Đảng Toàn Quốc thứ III năm 1960 Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, cho tới Đại Hội Đảng Toàn Quốc thứ XII năm 2016 gồm có: Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn đồng, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Võ nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Tố Hữu, Nguyễn Cơ Thạch, Đồng Sĩ Nguyên, Đào Duy Tùng, Nguyễn Thanh Bình, Mai Chí Thọ, Trần Xuân Bách, Lê Đức Anh, Nguyễn Đức Tâm, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Dỗ Quang Thắng, Nguyễn Hà Phan, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Tấn Dũng, Võ Trần Chí, Lê Phước Thọ, Vũ Oanh, Nguyễn Đức Bình, Đoàn Khuê, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Đào Duy Tùng, Trần Đức Lương, Nguyễn Phú Trọng, Đoàn Khuê, Nguyễn Văn An, Phạm Văn Trà, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Trương Tấn Sang, Lê Minh Hương, Phan Diễn, Phạm Thanh Ngân, Lê Xuân Tùng, Nguyễn Đình Tứ, Lê Hồng Anh, Trần Đình Hoán, Trương Quang Được, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Gia Khiêm, Phùng Quang Thanh, Trương Vĩnh Trọng, Lê Thanh Hải, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn văn Chi, Hồ Đức Việt, Phan Quang Nghị, Tô Huy Rứa, Trần Đại Quang, Tòng Thị Phóng, Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn thị Kim Ngân, Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Bình Minh, Ngô Xuân Lịch, Tô Lâm, Hoàng trung Hải, Vương Đình Huệ, Trần quốc Vượng, Trương thị Mai, Trương Hòa Bình, Nguyễn Văn Bình, Võ Văn Thưởng, Đinh La Thăng……
Tên tuổi bọn "lãnh đạo" cộng sản Việt Nam tức "lãnh đạo" Quân Đội Nhân Dân gồm những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân ghê gớm như thế đấy, thế mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại "hồ hởi" tuyên bố là "không hận thù lãnh đạo cộng sản," nghe như vậy có hợp tình hợp lý không hả quý vị?
Xin mời quý vị đọc các tài liệu và bài viết về tội ác lãnh đạo cộng sản và Quân Đội Nhân Dân mà tôi xin trích ra ở phần cuối bài viết này, để chứng minh rằng những lời binh vực, bào chữa cho tội ác bọn chúng của "Đại tá" Phạm Bá Hoa là ngược ngạo, vô lý, sai trái. Lời tuyên bố "không hận thù lãnh đạo cộng sản" khiến cho tôi tin rằng "Đại tá" Phạm Bá Hoa đang bị cộng sản cấy "sinh tử phù."
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Để kết thúc phần 1 ở trên, tôi muốn minh xác rất rõ là tôi cực lực phản đối tư tưởng thân cộng, hòa hợp hòa giải với cộng sản Việt Nam của "Đại tá Phạm Bá Hoa qua lời lẽ, ngôn ngữ trong trên 70 bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân. Theo tôi tiếng nói của y không thể đại diện cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, và cũng không thể nào đại diện tập thể chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được, đó chỉ là ý kiến riêng tư của y mà thôi. Trong một số bài viết, y thường xử dụng chữ "chúng tôi" để trình bày cái ý kiến, quan điểm hay nêu ra một sự kiện nào đó, y cố tình "nhập nhằng" hướng dẫn độc giả, dư luận, quần chúng hiểu lầm tiếng nói của y là tiếng nói chung của mọi người dân lẫn lính ở hải ngoại, đây quả là một trò lưu manh, láu cá và trí trá của "Đại tá" Phạm Bá Hoa. Theo tôi, nếu các cơ quan truyền thông, báo chí, Website, Blog, Facebook nào còn có liêm sỉ, còn có tư cách, còn có tinh thần Quốc Gia chống cộng và biết hướng thiện, sửa sai, nhưng đã vô tình đăng tải, phổ biến các bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa, thì cần thực hiện lập tức các hành động sau đây:
-Thứ 1: Gỡ bỏ các bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa, để khỏi bị cộng sản dùng đó làm tài liệu tuyên truyền với đồng bào trong nước là đồng bào hải ngoại và cựu quân nhân VNCH hải ngoại qua sự "đại diện" của Đại tá Phạm Bá Hoa đang có thái độ hòa hợp hòa giải với Việt cộng qua Nghị Quyết 36 cộng sản.
-Thứ 2: Nếu không gỡ cả toàn bộ bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân, thì yêu cầu Ban Biên Tập hay Chủ Bút cắt bỏ (Edit) khoảng 500 chữ phần mở đầu ở trên mỗi bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân vì trong đó nội dung ca ngợi Quân Đội Nhân Dân và hợp hòa giải với cộng sản.
-Thứ 3: Nếu không thực hiện 2 điều trên được, thì xin Ban Biên Tập hay Chủ Bút viết một lời Cảnh Báo để lưu ý cùng độc giả là quý vị không đồng ý, không đồng quan điểm, không hoan nghênh và không chịu trách nhiệm về nội dung bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa.
-Thứ 4: Tôi mong mõi Quý Ban Biên Tập và Chủ Bút nên thận trọng đăng bài hay phổ biến biến bài viết của bất cứ ai, mà cần phải đọc trước nội dung để khỏi mang tội đi tuyên truyền cho Việt cộng. Đừng vì nể tình hay thấy "người ta sang bắt quàng làm họ" mà nhắm mắt, nhắm mũi phổ biến mà không chịu kiểm soát trước. Không thể có thái độ hèn nhát, sợ hãi hay "bưng bô" cho bọn "có tiếng tăm," điều này đưa đến hệ quả là các bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa mới được có cơ hội quảng bá tràn ngập trên các cơ quan truyền thông đại chúng, trong đó đặc biệt có Website của Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam California trachnhiemonline. com. Tôi hy vọng Ban Biên Tập hay Chủ Bút của trang mạng trachnhiemonline.com và các trang mạng khác cần phải quan tâm nghiêm túc về vấn đề này, để điều chỉnh kịp thời kẻo chuốc lấy sự phản đối của đồng hương và độc giả, và mang tội với tổ quốc, cộng đồng chống cộng.
Đây là một vấn đề rất quan trọng vì các trang hồi ký, ký sự, đặc biệt các bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa viết ra được cá nhân y và phe đảng "đánh bóng" như là một dạng tài liệu lịch sử, điều này rất nguy hiểm và tai hại, vì các thế hệ con cháu, hậu duệ sau này, khi thấy trên net các bài viết mang nội dung như vậy, thì các con, các cháu sẽ hiểu lầm đó là tiếng nói chung, là thái độ, là lập trường, là quan điểm chính trị của thế hệ cha, anh, là chấp nhận "hòa hợp hòa giải" với Việt cộng, là ca ngợi công đức "Quân Đội Nhân Dân," là không hận thù lãnh đạo cộng sản. Sự hiểu lầm này sẽ đưa đến việc dập tắt ngọn lửa đấu tranh chống cộng sản trong tương lai. Chúng ta không thể để chuyện này xảy ra được và phải chận đứng ngay lập tức.

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Để đúc kế trong phần 1 này, tôi xin nêu ra một số lý do tại sao hơn 70 bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân do "Đại Tá" Phạm Bá Hoa làm tác giả được "hồ hởi" phổ biến trên các cơ quan truyền thông đại chúng, mà tại sao cho đến nay chẳng ai lên tiếng phản đối.và chẳng thấy những tổ chức đấu tranh chống cộng, các hội đoàn cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa phản ứng gì cả, theo tôi có 4 trường hợp xảy ra:
1) Độc giả, cộng đồng, các hội doàn quân nhân VNCH và các cơ quan truyền thông không đọc bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa nên họ không biết để mà lên tiếng phản đối.
2) Độc giả, cộng đồng, các hội doàn quân nhân VNCH và cac cơ quan truyền thông có đọc bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa, nhưng trình độ giới hạn nên không nhận ra chỗ sai trái, không hiểu được thâm ý bài viết muốn "bưng bô" Quân Đội Nhân Dân, hòa hoãn với bọn lãnh đạo cộng sản, và hòa hợp hòa giải với cộng sản theo đường lối Nghị Quyết 36..
3) Độc giả, cộng đồng, các hội doàn quân nhân VNCH và các cơ quan truyền thông có đọc bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa và có thấy phần mở đầu bài viết có tư tưởng sai trái, bưng bô Việt cộng, hòa hợp hòa giải cộng sản, nhưng vì nể tình, vì điếu đóm, vì bưng bô, vì sợ hãi, vì sợ mất lòng, vì sợ trả thù, vì sợ đụng chạm với Đại tá Phạm Bá Hoa, nên cả đám cam chịu im lặng, làm thinh, không lên tiếng chỉ trích, phản đối để khỏi "mang họa" vào thân.
4) Độc giả, cộng đồng, các hội doàn quân nhân VNCH và các cơ quan truyền thông có đọc bài viết Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa và có thấy phần mở đầu bài viết có tư tưởng bưng bô Việt cộng, hòa hợp hòa giải cộng sản, ca ngợi Quân Đội Nhân Dân, nhưng vì bọn này cho đó cũng giống với chủ trương, đường lối của chính mình, của cơ quan truyền thông mình, của hội đoàn, tổ chức mình, nên bọn họ "hổ hởi" đăng tải, phổ biến để tiếp tay cho "Đại tá" Phạm Bá Hoa chu toàn nhiệm vụ tuyên truyền cho cộng sản, mà chính họ cũng đang thực hiện chính sách giống như vậy.
5) Riêng tôi, không nằm trong 4 trường hợp kể trên, chính vì vậy mà có bài viết của Ngô Kỷ hôm nay.
Xin quý vị theo dõi một số tài liệu kèm theo dưới bài viết, mà đa số là tài liệu của Việt cộng, nhằm chứng minh cho độc giả và đặc biệt cho "Đại Tá" Phạm Bá Hoa thấy rõ là Quân Đội Nhân Dân là con đẻ, là công cụ của cộng sản, do cộng sản lãnh đạo, và Quân Đội Nhân Dân có trách nhiệm bảo vệ đảng cộng sản và bảo vệ Chủ Nghĩa Xã Hội, cùng nêu cao tinh thần quốc tế vô sản mà thôi, chứ Quân Đội Nhân Dân không hề bảo vệ dân tộc, không bao giờ bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
PHẦN 2:
Kính thưa Quý Đồng Hương,

Vào Thứ Bảy ngày 12 tháng 12 năm 2009, cách đây gần 8 năm, tôi có đến gặp gỡ phái đoàn quen thân với tôi từ lâu đó là Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức San Jose, họ kéo về Little Saigon tham dự 2 ngày Đại Hội Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại do ông Lê Khắc Hai tức "nhà văn quân đội" Hải Triều lúc đó đang giữ chức chủ tịch Hội Đồng Điều Hành. Dù rằng buổi đại hội này rất tẻ nhạt, thất bại hoàn toàn vì chỉ có vài chục người tham dự, vì chỉ có Hội Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức San Jose tham dự mà thôi, trong khi đó có một Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại thứ 2 khác thì có tới mấy mươi Hội Sĩ Quan Thủ Đức là thành viên của Tổng Hội. Lý do là đa số Hội Sĩ Quan Thủ Đức tại hải ngoại đều bất tín nhiệm ông Lê Khắc Hai tức "nhà văn quân đội" Hải Triều cư ngụ tại Canada, vì người ta cho rằng tư cách ông Lê Khắc Hai không có, và lập trường chính trị của ông thì chao đảo, lấp lửng. Ông chuyên trò "lập lờ đánh lận con đen," lợi dụng danh nghĩa "nhà văn quân đội" để bán sách thương mại mà thôi. Ông Lê Khắc Hai "a dua" với tên lính láu cá Chu Tất Tiến, tào lao chuyên trò lừa gạt cộng đồng, liên kết viết bài lếu láo, tung tin thất thiệt, kéo nhau qua bán sách bên Úc chỉ được mấy "mống" tham dự v.v…
Trích:

http://tonghoithuduchaingoai.c om/tintuc/tb-dh6.html

cuan.gif

2. Đại Hội 6 mở rộng.
Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại quyết định đứng ra tổ chức Đại Hội 6, đồng thời mở rộng thành phần tham dự Đại Hội đến quý đồng môn ngoài các cơ cấu Hội, Liên Hội hay Tổng Hội, thay vì chỉ là những Hội hay Liên Hội Thủ Đức tham dự như những kỳ Đại Hội trong những năm trước đây.
Từ quyết định trên đây, Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại trân trọng kính mời:
– Quý Liên Hội Thủ Đức, quý Hội Thủ Đức, quý Chi Hội Thủ Đức…
– Quý đồng môn Tướng Lãnh, Niên Trưởng, Huynh Trưởng xuất thân từ quân trường Thủ Đức và từ các quân trường đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị…
– Quý đồng môn Thủ Đức sinh sống tại California, Hoa Kỳ hay bất cứ ở nơi nào ở hải ngoại không thống thuộc Hội hay Chi Hội Thủ Đức nào…về tham dự Đại Hội 6 Tổng Hội Thủ Đức được tổ chức tại Nam Cali vào hai ngày Thứ Bẩy 12/12/2009 và Chúa Nhật 13/12/2009.
Địa điểm tổ chức Đại Hội: Hội Trường Việt Báo
14841 Moran Street, Westminster, CA 92683 – USA
Phone: 714 894 2500

Trong trường hợp quý Hội hay quý đồng môn không thể về tham dự, nhưng đồng ý là một thành phần trong cơ chế Tổng Hội, có thể reply email này để ủy nhiệm, hoặc ghi danh khiếm diện để có tên trong danh sách Tổng Hội, kể cả những ý kiến đóng góp hay đề nghị. Xin ghi rõ tên Hội, tên đồng môn, số phone, email hay địa chỉ để liên lạc.
3. Mọi chi tiết liên quan đến Đại Hội 6 THTĐHN 2009, xin liên lạc:
Email: tonghoithuduchaingoai, nsvietnam
Phone: 714 261 4972 /tổ chức/ Hải Triều.
619 567 3414 /tài chánh/ Phan Anh Dũng.

Trân trọng.
Thay mặt Hội Đồng Điều Hành THT ĐHN
Alfa Lê Khắc Hai K23

Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại

4204 Quebec St., Vancouver, BC., V5V-3K9 Canada
Phone + Fax: (604) 879.1179
Web: http://tonghoithuduchaing oai.com
Email: tonghoithuduchaingoai

Ban Chấp Hành
Nhiệm Khóa 2006 – 2008
Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực:
Alfa Phạm Bá Hoa
Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát:
Alfa Ngô Tôn
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành:
Alfa Lê Khắc Hai

(ngưng trích)
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Vào dịp Đại Hội Thủ Đức năm 2009 này, tình cờ tôi gặp "Đại tá" Phạm Bá Hoa, y từ Texas qua tham dự Đại Hội vì y giữ chức chủ tịch Ủy Ban Thường Trực. Qua lời chào hỏi xã giao, thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa bắt đầu "nổ sảng," y khoe khoang toàn chuyện trên trời dưới đất, loạn cào cào, y ăn nói như đang sống tại "kho đạn Long Bình." "Đại tá" Phạm Bá Hoa khai pháo khi nhắc tới chuyện quá khứ oai hùng, rạng rở , y bắt đầu nhắc đến chuyện bị Việt cộng nhốt tù, rồi từ đó y lấy cớ để lên án, chỉ trích, phê bình, nhục mạ , mạt sát hầu hết các vị lãnh đạo chính phủ miền Nam Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 mà trong đócó cố Tổng Nguyễn Văn Thiệu, cố Đại Tướng Cao Văn Viên, cố Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm v.v… Tôi lấy làm ngạc nhiên vì mới cách đó vài ba phút trước đó, thì y khoe là y từng làm nhiều lần chánh văn phòng, tham mưu trưởng cho các các vị Tướng Lãnh này, do đó tôi nghĩ trong đầu là có thể y biết gì về chuyện "thâm cung bí sử," về những sự bê bối, bẩn thỉu, phản quốc của những vị này trước đây hay chăng, do đó tôi buột miệng tôi hỏi thẳng y đại khái như sau: "Ông mới kể ông từng nhiều lần làm chánh văn phòng, tham mưu trưởng cho các các vị đó, tại sao bây giờ ông lại chửi rủi, mạt sát họ thậm tệ quá vậy?." Tôi dùng chữ "đại ý" là vì câu chuyện này đã xảy ra 8 năm rồi, tôi không thể nhớ từng chữ một cho được, hơn nữa nó cũng chẳng có hứng thú, thú vị gì để mà nên nhớ, nhưng nay tình cờ gặp chuyện liên hệ, nên tôi mới moi trong ký ức ra để mà trình bày cho có ngọn nguồn, đầu đuôi câu chuyện mà thôi.
Để trả lời câu hỏi của tôi, "Đại tá" Phạm Bá Hoa nêu ra tên một trong ba người là Tướng Khiêm, Tướng Viên, Tướng Khuyên, tôi không thể nhớ rõ chính xác là người nào, nhưng tôi chắc chắn là Đại tá Phạm Bá Hoa có nêu tên một trong ba người này ra để chửi rủa và lên án, tôi muốn minh xác và giải thích rõ như vậy. "Đại tá" Phạm Bá Hoa nói đại khái như sau: "Thằng …(một trong ba vị Khiêm, Viên, Khuyên) là thằng vô liêm sỉ, mất dạy, lưu manh, hắn hứa là dẫn tôi di tản, nhưng rồi hắn lại đi một mình, bỏ tôi ở lại mà không dẫn tôi đi di tản theo như lời hắn đã hứa. Tôi căm thù hắn." vân vân và vân vân…
Thú thật, sau khi tôi nghe "Đại tá" Phạm Bá Hoa nói vậy, tôi khinh bỉ và ác cảm với y ngay lập tức, dù rằng tôi chẳng quen biết hay liên hệ gì đến một trong ba vị Tướng Lãnh mà y đã nêu tên ra, tuy nhiên khi tôi nghe "Đại tá" Phạm Bá Hoa nêu ra "lý do" là vì họ "bỏ rơi," không cho ý tháp tùng di tản theo, mà y lại để bụng hận thù, chửi rủa, mạt sát, cay đắng họ đến ngày hôm nay, thì tôi thấy không hợp tình hợp lý chút nào, vì đó chỉ là việc riêng tư với nhau chứ không phải việc chung, không phải là chuyện "quốc gia đại sự" được. Tính tôi rất thẳng, tôi không chấp nhận cái thái độ bỉ ổi, hạ cấp, đê tiện, rẻ tiền như tâm địa hẹp hòi và cách hành xử bủn xỉn của "Đại tá" Phạm Bá Hoa như vậy được, cho nên tôi đã chửi thẳng vào mặt "Đại tá" Phạm Bá Hoa bằng tất cả những ngôn từ nào có trong tự điển. Vì quá thất vọng và hụt hẩng trước con người vô tư cách, vô đạo đức, vô liêm sỉ của "Đại tá" Phạm Bá Hoa, một vị sĩ quan từng đảm nhiệm các chức vụ quan trọng, cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, do đó tôi cáo biệt bỏ ra về, và từ đó tôi muốn quên đi cái "kỷ niệm khiếp đảm, rùng rợn" này.
Câu chuyện đụng chạm nhau này đã xảy ra 8 năm rồi nên tôi cũng đã xếp nó vào "quá khứ thương đau," và tôi chẳng bao giờ bận tâm hay để ý đến "Đại tá" Phạm Bá Hoa này nữa. Nhưng, xui xẻo cho tôi, cách đây vài tuần tình cờ tìm kiếm tài liệu trên net, tôi vô tình thấy một số bài viết về hồi ký, ký sự tù và Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân của "Đại tá" Phạm Bá Hoa này, chính vì vậy mà tôi thấy đây cũng là lúc tôi cần phải "lột mặt nạ" cái tên "giả nhân, giả nghĩa, giả người Quốc Gia, giả Lính chống cộng" của "Đại tá" Phạm Bá Hoa ra trước bàn dân thiên hạ.
Tôi thách đố "Đại tá" Phạm Bá Hoa nếu phủ nhận, nếu cho rằng tôi bịa chuyện, đặt điều về chuyện "Đại tá" Phạm Bá Hoa chửi rủa, trách móc, lên án. mạt sát một trong ba vị Tướng Lãnh là Tướng Khiêm, Tướng Viên, Tướng Khuyên vì họ đã bỏ rơi y, không cho y đi di tản chung như lời họ đã hứa, thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa hãy nhận lời thách đố của tôi mà qua California để lên ngồi trả lời trên máy "Nói Sự Thật" tức mày "Kiểm Tra Nói Dối" là đã có nói như vậy hay không. Tôi sẵn sàng chu cấp tất cả chi phí máy bay, ăn ở trong thời gian "Đại tá" Phạm Bá Hoa lưu ngụ tại California, và dĩ nhiên tôi cũng đài thọ luôn y phí bác sĩ và máy móc giảo nghiệm.

Image result for máy nói dối

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Bây giờ tôi xin phân tích và trình bày về việc "Đại tá" Phạm Bá Hoa chỉ trích, nhục mạ, mạt sát, lên án các nhân vật lãnh đạo miền Nam Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, như cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cố Đại Tướng Cao Văn Viên, cố Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm v.v.., điều này khiến tôi khó chịu và bất mãn vô cùng. Theo tôi, nếu giả sử quần chúng hay ai khác có nêu ra thái độ, bày tỏ phản ứng cũng giống như y, thì tôi lại cho là bình thường, chẳng có chi đáng nói cả vì họ là người dân, là đồng bào, họ là "cha mẹ," nhưng đối với "Đại tá" Phạm Bá Hoa thì lại là một chuyện khác, vì y từng nhiều lần làm chánh văn phòng, làm tham mưu trưởng cho các vị Tướng Lãnh này, do đó y không có quyền và không có tư cách để nói gì về họ cả, vì y từng "trực tiếp" làm việc cho họ, và đã lãnh nhận quá nhiều ơn mưa móc mà họ đã ban bố cho y trong suốt cuộc đời trước năm 1975.
Tôi sẽ cố gắng trích trưng dẫn một số đoạn trong các bài viết của y để chứng minh y đã đưa là nhiều luận cứ "đầy mâu thuẩn," "dấu đầu lòi đuôi," "tiền hậu bất nhất," chửi đó rồi khen đó. Vào 8 năm trước, tức năm 2009, trước mặt tôi, "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã nêu tên Cố Đại Tướng Cao Văn Viên và cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm để chửi xối xả, thế mà trong bài "Lời trần tình" dưới đây thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại nói ra lời "nghĩa ân" qua lời viết của y như sau: "Riêng với cựu Đại Tướng Khiêm và cựu Đại Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ nghĩa ân," và viết tiếp " Cùng với những sự kiện mà cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ tháng 9/1969 đến tháng 4/1975, và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1975, hai vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia hồi đầu tháng 9 năm 2003 và những năm sau đó, thăm hai vị và gia đình."
Tôi lấy làm ngạc nhiên là theo như lời "Đại tá" Phạm Bá Hoa viết trong phần trên của bài "Lời trần tình"rằng: "Trước khi bắt đầu tôi rất đắn đo, vì muốn ghi lại sự kiện trung thực ít nhất cũng là trung thực với tôi về những gì mà tôi biết và những gì mà tôi làm, tất nhiên là khó tránh khỏi những đụng chạm đến quí vị, đặc biệt là với cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, và cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh," thế thì tại sao vào năm 2003, hai vợ chồng của "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại "xách mặt" tới thăm viếng cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và cố Đại Tướng Cao Văn Viên, và để xin ý kiến để viết hồi ký, theo như lời y viết "Cùng với những sự kiện mà cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ tháng 9/1969 đến tháng 4/1975, và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1975, hai vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia hồi đầu tháng 9 năm 2003 và những năm sau đó, thăm hai vị và gia đình." Tại sao "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại đi làm điều vô liêm sỉ và tán tận lương tâm như vậy? Tại sao "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại có can đảm "nhổ đi rồi liếm lại" như vậy? Tại sao đi chửi người ta, mạt sát người ta, thì cùng lúc đó lại đi hạ mình "nịnh hót" người ta. Quả thật "Đại tá" Phạm Bá Hoa là một tên khốn nạn, vô lại, bỉ ổi bậc nhất trên hành tinh này!
Trích:

Lời trần tình

KÍNH THƯA QUÍ VỊ,

Trước khi bắt đầu tôi rất đắn đo, vì muốn ghi lại sự kiện trung thực ít nhất cũng là trung thực với tôi về những gì mà tôi biết và những gì mà tôi làm, tất nhiên là khó tránh khỏi những đụng chạm đến quí vị, đặc biệt là với cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, và cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh.
Riêng với cựu Đại Tướng Khiêm và cựu Đại Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ nghĩa ân. Tôi không có một thân nhân hay một bạn bè nào quen biết khi vào quân ngũ tháng 05/1954. Tháng 11/1961, đang trong trách nhiệm Trưởng Ban hành quân/Phòng 3 Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tôi được Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang, cử giữ chức Chánh Văn Phòng. Tháng 10 năm 1965, tôi được Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cử giữ chức Chánh Văn Phòng. Nhờ vậy mà tôi có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều vị Tướng Lãnh, nhiều giới chức trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, học hỏi được những căn bản trong tổ chức và quản trị.
Tôi không dám nghĩ đây là một sử liệu, nhưng tôi cố gắng ghi chép đúng theo trí nhớ của tôi, để các sử gia may ra tham khảo được đôi điều trong khoảng thời gian nghiêng ngã của đất nước, mà thuở đó, quyền lực nằm trong tay quí vị lãnh đạo . So với ấn bản lần 1, lần 2, và lần 3, và lần 4, duyệt lại mới nhất vào cuối năm 2010 có vài sắp xếp lại về cách trình bày và bổ túc thêm một số chi tiết, vì 1.600 trang giấy học trò mà tôi lén lút viết lại trong thời gian bị giam ở trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc, lén lút gởi về gia đình cất giữ, và khi đoàn tụ với gia đình tôi vẫn tiếp tục viết, đến nay tôi đã nhận đầy đủ từ Việt Nam gởi sang. Cùng với những sự kiện mà cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ tháng 9/1969 đến tháng 4/1975, và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1975, hai vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia hồi đầu tháng 9 năm 2003 và những năm sau đó, thăm hai vị và gia đình.
Xin quí vị vui lòng, và trân trọng kính chào quí vị.
Viết xong ngày 15 tháng 8 năm 1994. Bổ túc lần 8, mùa hè 2011.Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa (ngưng trích)
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Tôi không biết vì tôi không có ở tù trong các trại tù khổ sai khủng khiếp mà Việt cộng gọi hoa mỹ là "trại cải tạo," do đó tôi xin hỏi các vị cựu tù nhân chính trị Việt Nam H.O. rằng khi quý vị bị Việt cộng giam trong tù, quý vị có được Việt cộng ưu đãi và xử sự một cách nhân đạo bằng cách cho phép quý vị được có cơ hội viết hồi ký hay không hả quý vị? Hay là quý vị phải cực khổ chặt củi, đốn cây, lao động cực nhọc suốt ngày, cơm không đủ ăn, áo không có mà mặc, phải đối diện bịnh tịnh sốt rét, thương hàn, ỉa chảy, bịnh dịch tràn lan, thế thì quý vị có thì giờ rảnh rỗi và có đủ tâm trí để ngồi mà viết hồi ký không hả quý vị? Đó là chưa kể một người tù nhân với cấp bậc "đại tá" như "Đại tá" Phạm Bá Hoa từng nắm giữ các chức vụ cao cấp hàng đầu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 như chánh văn phòng, tham mưu trưởng cho các Tướng Lãnh Việt Nam Cộng Hòa, thì chắc chắn ban quản giáo trại giam phải càng canh chừng nghiêm ngặt, dòm ngó nhiều hơn so với các tù nhân "lính trơn" hay sĩ quan cấp úy phải không thưa quý vị? Thế mà trong bài "Lời trần tình" của "Đại tá" Phạm Bá Hoa ở trên, y lại khoe rằng "vì 1.600 trang giấy học trò mà tôi lén lút viết lại trong thời gian bị giam ở trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc, lén lút gởi về gia đình cất giữ, và khi đoàn tụ với gia đình tôi vẫn tiếp tục viết, đến nay tôi đã nhận đầy đủ từ Việt Nam gởi sang," điều này có đáng tin không hả quý vị?
Tôi có thể tin được chuyện tù nhân có thể viết vài ba trăm trang hồi ký, vài ba trăm bài thơ tù v.v…, nhưng mà cái chuyện đang bị giam tù mà có cách "lén lút" viết tới 1,600 trang giấy học trò, thì thú thật khó mà thuyết phục tôi tin được đó là sự thật. Mà giả sử cho là có viết được 1,600 trang hồi ký giấy học trò, trong khi "Đại tá" Phạm Bá Hoa đang bị giam cầm tận tại trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc khắc nghiệt, xa xôi, hẻo lánh, độc địa như vậy, thế thì làm sao "Đại tá" Phạm Bá Hoa có thể "lén lút" gởi về gia đình 1,600 trang hồi ký giấy học trò để cất giữ cho được? "Đại tá" Phạm Bá Hoa đang bị ở tù, đang bị giam cầm, đang bị "khổ sai," chứ đâu có phải đi du lịch, đi hóng mát, đi giải trí ở trại Nam Hà trên đất Bắc đâu, thế thì tại sao lại đi huyên hoang, "nổ sảng" như vậy? "Đại tá" Phạm Bá Hoa khinh thường trình độ nhận xét và đầu óc phán đoán của độc giả, đồng hương. Đây quả là một sự "lộng ngôn" vô tiền khoáng hậu mà chỉ có "Đại tá" Phạm Bá Hoa "mặt dày mày dạn" mới dám phát ngôn một cách lố bịch như vậy.

Related image

"pinocchio" Phạm Bá Hoa
Qua phim ảnh, tài liệu mà tôi xem được và được nghe kể lại, chuyện "thăm nuôi" là một vấn đề khó khăn, nhiêu khê, tốn kém vô cùng, năm khi mười họa mới được phép đi thăm nuôi một lần, mà mỗi lần thăm nuôi như vậy là bọn quản giáo trại giam kiểm soát rất chặc chẽ từ lúc tới thăm cho đến lúc rời trại, thế thì làm cách nào "Đại tá" Phạm Bá Hoa có thể chuyển tải hết 1,600 trang hồi ký giấy học trò về cho gia đình cất giữ được? Phải cần mấy trăm lần thăm nuội để mới có thể "lén lút" gởi ra hết được số lượng 1,600 trang hồi ký giấy học trò lớn lao như vậy? Té ra "Đại tá" Phạm Bá Hoa ngoài tài điếu đóm làm chánh văn phòng, làm tham mưu trưởng cho các vị Tướng Lãnh, y còn có khả năng làm "điệp viên" có thủ thuật tẩu tán tài liệu "bí mật" nữa, nghe mà "ớn lạnh." Vì quá tin vào các lời lẽ "kinh thiên động địa" như vậy, nên cả cộng đồng người Việt hải ngoại, cả mấy trăm ngàn cựu tù nhân chính trị và gia đình H.O, cả mấy trăm ngàn cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hết lòng tôn thờ, vinh danh, thần tường, khiếp sợ tên "Đại tá" Phạm Bá Hoa này. Chính vì vậy mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa trở nên tự tôn tự đại, tự cho mình là cái rốn của vũ trụ, muốn phán gì cũng được.
Tôi muốn đặt ra thêm ra đây một nghi vấn nữa, nếu "Đại tá" Phạm Bá Hoa nói rằng đã gởi "lén lút" ra 1,600 trang hồi ký giấy học trò cho gia đình cất giữ, thế thì số giấy đưa từ ngoài vào trong tù để viết phải cao nhiều gấp bội. Thế thì tôi muốn biết ai đưa số giấy này vào, kể cá, bút, viết nữa? Làm cách nào để đưa vào trong nhà tù một số lượng giấy, bút, viết lớn lao như vậy, trong khi đang bị giam cầm trong trại tù khắc nghiệt của cộng sản ở Nam Hà đất Bắc? Mọi sự thăm nuôi, mang quà cho tù nhân là một cực hình, đều bị ban quản giáo kiểm soát rất chặc chẽ, gắt gao trước khi trao cho tù nhân, thế thì với số lượng giấy, bút, viết lớn lao như vậy, thì làm sao có thể qua mắt "cú vọ" của ban quản giáo trại giam cho được nếu "Đại tá" Phạm Bá Hoa không có "tay trong," thế thì "tay trong" của Đại tá Phạm Bá Hoa là ai nếu không phải là những "đồng chí" Quân Đội Nhân Dân hay các cán bộ quản giáo cộng sản mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã kết bè, kết đảng với chúng từ lâu. Hỏi tức là trả lời, chính vì vậy mà tôi không sợ mang tiếng là "hồ đồ, chụp mũ" khi cho rằng "Đại tá" Phạm Bá Hoa là một tên phản bội chính phủ miền Nam Việt Nam, phản bội Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để quy phục Việt cộng, nối giáo cho cộng sản Việt Nam kể từ lúc y nằm trong tù. Vì vậy mà khi ra hải ngoại. "Đại tá" Phạm Bá Hoa viết hơn 70 bài Thư Gởi Quân Đội Nhân Dân sặc mùi ca ngợi Quân Đội Nhân Dân và ưu ái với các "lãnh đạo cộng sản." Các bài viết này chính là bằng cớ chứng minh "Đại tá" Phạm Bá Hoa công khai ra mặt công nhận y là một tên "nội gián" của Việt cộng bây giờ mới chính thức xuất đầu lộ diện.

Image result for hèn
Kính thưa Quý Đồng Hương,

Trong buổi phỏng vấn của Ký giả Phạm Diễm Hương của đài Saigon Radio tại Houston, Texas vào ngày 3 tháng 5 năm 2003, "Đại tá" Phạm Bá Hoa" đã trả lời câu hỏi liên quan đến cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu như sau:

Trích:

https://scholarship.rice.edu/b itstream/handle/1911/71363/wrc 02817_xscript.pdf?sequence=26
Ký giả Phạm Diễm Hương hỏi: Thưa ông thế thì đối với ông tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì sao?
"Đại tá" Phạm Bá Hoa trả lời: Ông tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì tôi nghĩ thế này, ông ấy là người chín chắn, là người thận trọng nhưng mà có 1 cái điều tôi nghĩ ông ấy chưa có đủ thời gian cho đến khi ông ấy nhận chức tổng thống đó, ông ấy không đủ trang bị cho mình cái kiến thức của những người lãnh đạo, ông làm tướng cần có cái uy tín, cần cái kiến thức để mà người lính tin tưởng vào ông ấy để chiến thắng địch. Nhưng mà khi ông ấy lên làm tổng thống chưa đủ, cần có thủ đoạn chính trị, tôi nói như vậy thì tôi mới giải thích 1 chút, tôi không quan niệm mọi thủ đoạn đều là xấu, bởi vì trong cuộc đời người ta mà, vạn vật vạn việc đều mang trong nó 2 cái thuộc tính khác nhau, tôi gọi là 1 thuận 1 nghịch, mà 2 cái thuận nghịch này nó cọ sát nhau nó đung đẩy nhau làm cho con người phát triển, xã hội phát triển, đất nước phát triển. Đem nó vào trong chính trị thì chính trị có đối lập, không có chỉ có 1 tức là độc tài đó, kinh tế có cạnh tranh kinh tế mới phát triển, con người có cạnh tranh con người mới phát triển, hay nói hoàn toàn theo cái ý trong sáng của nó, không hề có ý gì xấu trong này, cạnh tranh để phát triển. Trong cái thủ đoạn nó có cái tốt cái xấu, dùng cái thủ đoạn đối với kẻ địch thì là tốt còn dùng thủ đoạn đối với người dân mình, người dưới mình thì là xấu, thành thử ra con người có thủ đoạn chính trị cả tốt cả xấu, tốt đối với dân, xấu đối với địch. Thì tôi cho rằng ông ấy chưa có đủ, có chứ không phải không, tại vì mình chưa qua cái trường lớp, chưa có cái thời gian nào để có 1 cái kiến thức về lãnh đạo. Bởi vì người lãnh đạo, tôi đặt vị trí của người lãnh đạo thì tôi mới nghĩ rằng ông ấy tốt nhất là ông ấy phải, cái ngày mà tối 21 Tây tháng tư năm 1975, ông ấy tuyên bố từ chức, thì lúc ấy tôi cắm trại trong bộ tổng tham mưu, lúc ấy tôi là tham mưu trưởng của tổng cục tiếp vận, thì bị cắm trại trong đó.
Thì tôi thấy cái hay là khi ông ấy phát ngôn gì đó thì ông ấy bắn 1 phát, tôi không phải là người sát sinh, nhưng mà lãnh đạo thì phải như vậy, cái đó là cái uy tín nhất để lại cái bài học cho thế hệ sau này. Vì tôi là người lãnh đạo, tôi bị áp lực lớn của người Mỹ, đúng, tôi bị áp lực từ nhiều phía, nhưng mà tôi không có cách nào làm được, tôi để cho cái tình trạng này, tôi để cho đất nước gần như tan tác rồi, tôi phải chịu trách nhiệm về điều đó, và tự xử mình như vậy rất là hay, ông ấy để đời được cái danh của mình. Tôi quan niệm như vậy nhưng mà chỉ người lãnh đạo thôi…..(ngưng trích)

Đọc qua phần trả lời của "Đại tá" Phạm Bá Hoa tôi nhận thấy y quả thật là một tên "cực kỳ" ngạo mạn, láu cá và hiểm độc vô cùng. Thử hỏi nếu đem so sánh chỗ đứng và vì trí của y thì hắn làm gì có tư cách và trình độ để có ý kiến, ý ruồi được. Y chưa xứng đáng "xách dép cho cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nữa, thì nói chi đến chuyện phê, với phán, thế mà y lại ồn áo lên tiếng chỉ trích, phê bình và phán xét về khả năng lãnh đạo của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, một vị Tướng Lãnh mang tới cấp bậc Trung Tướng từ lâu, cao hơn y tới mấy bậc, và còn là một vị Tổng Thống cả nước, Tổng Tư Lệnh Quân Đội có tới hàng trămTướng Lãnh thuộc quyền, thế mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa này lại "dậu đổ bìm leo, dám lên mặt "thầy đời" bằng cách phê bình "nửa nạc nửa mỡ," vừa khen vừa chê làm ra bộ ta đây là "kẻ cả," khách quan và bao dung, rộng lượng lắm.
Tôi hết chịu đựng nỗi về cái bản tính xỏ lá, mất dạy của "Đại tá" Phạm Bá Hoa này nữa rồi, do đó kể từ đây tôi gọi là "hắn" chứ không còn là "y" nữa.Tôi muốn chửi thẳng vào mặt "Đại tá" Phạm Bá Hoa này lấy tư cách gì mà lại đi đòi hỏi cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải tự tử? Theo lời hắn nói "Thì tôi thấy cái hay là khi ông ấy phát ngôn gì đó thì ông ấy bắn 1 phát, tôi không phải là người sát sinh, nhưng mà lãnh đạo thì phải như vậy," quả là một lời phát biểu của một thằng "đá cá lăn dưa" phản phúc cùng cực!
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Trong phần "Thay Lời Kết" của Hồi Ký Chính trị 1963-1975, "Đại Tá" Phạm Bá Hoa viết những câu nghe sặc mùi ai oán, trách móc những người từng là ân nhân, từng là cấp chỉ huy của hắn, và hắn đã "ngậm miệng, cúi đầu, bưng bô" cho các vị này trong suốt cả cuộc đời hắn, nay hắn vì muốn "lấy điểm" với cộng cộng đồng, muốn lấy lòng với các người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa, nên hắn viết ra những lời chê trách, lên án những vị ân nhân và chủ nhân của hắn như sau:
Trích:

http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/thay-loi-ket.html

Tổ quốc tôi, đất nước tôi, dân tộc tôi, đến thời mạt vận rồi sao!

Sau ngày cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lên phi cơ sang Đài Bắc (Đài Loan), đến Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng một quân đội hơn 1.100.000 người, cũng lên phi cơ rời bỏ Việt Nam! …….Ôi! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân lực vì lý tưởng tự do mà chiến đấu, nhưng lại bất hạnh bởi những vị lãnh đạo quyền lực đã không thi hành trách nhiệm khi tổ quốc thật sự lâm nguy! ………. (ngưng trích)

Kính thưa úy Đồng Hương,

Trong một phần của hồi ký Tình phước Long thất thủ, " Đại tá" Phạm Bá Hoa lại lên mặt chê bai khả năng của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, trong khi chức vụ hắn chỉ mới là Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên trong suốt 7 năm, thế mà trong bài hồi ký này hắn lại bày trò chỉ trích, phê bình, đánh giá trình dộ chỉ huy của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên. Càng ngạo mạng, xấc láo, hỗn xước hơn nữa, hắn còn tự động gán ghép cố Trung Tướng Đồng Văn Khuyên bị bịnh "lapsus," thế thì tại sao "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại cúi đầu làm "tôi mọi" cho cố Trung Tướng Đồng Văn Khuyên trong một thời gian dài suốt 7 năm vậy? Mời quý vị đọc nguyên văn bài viết sự xúc phạm đến danh dự cố Trung Tướng Đồng Văn Khuyên của "Đại tá" Phạm Bá Hoa dưới đây:
Trích:
http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/phu-ban-gop-y-bai-viet-c ua-tac-gia-tran.htmlTỉnh Phước Long thất thủ
ngày 7 tháng 1 năm 1975.
Trở lại tình hình hậu Phước Long! Trong buổi chiều cùng ngày 7 tháng 1 năm 1975, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, mời tất cả các đơn vị trưởng trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn và vùng phụ cận đến câu lạc bộ/Bộ Tổng Tham Mưu, để nghe ông tóm tắt diễn biến tình hình toàn tỉnh Phước Long, và ông nói rằng: sự thất thủ của tỉnh này -Trung Tướng Khuyên không nói là điều may, mà ông nói- là giảm đi cái ung nhọt trên cơ thể, vì với khả năng không vận hiện này mà chiến trường Phước Long cần đến thì Bộ Tổng Tham Mưu không thể thỏa mãn nỗi. Câu kết của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, đã làm cho cả hội trường gần như đồng thanh “ồ” lên một tiếng, và tiếp đến là những âm thanh xì xào mà tôi chắc là các cử tọa đang bất mãn về lời sau cùng của Trung Tướng Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Chính bản thân tôi cũng nhận thấy Trung Tướng Khuyên đã không chuẩn bị trước cho buổi họp này, nên đã nói một câu tuy ngắn ngủi nhưng làm đau lòng những chiến sĩ trú phòng cũng như tiếp viện Phước Long còn sống sót, và làm tổn thương vong linh những chiến sĩ đã ngã xuống cho sự sống còn của Phước Long!
Xin nói thêm rằng, ngoài 4 năm phục vụ trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi có gần 7 năm phục vụ dưới quyền trực tiếp của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, thường khi bàn thảo với ông về những quan niệm cùng những kế hoạch cải tiến ngành Tiếp Vận, và qua đó, tôi nhận thấy Trung Tướng Đồng Văn Khuyên là vị Tướng rất có kinh nghiệm trong nhiều lãnh vực hoạt động của quân đội, và một số lãnh vực về kinh tế. Mỗi khi ông đề cập đến vấn đề nào thì ông diễn đạt được những gì ông nghĩ, nhưng có điều là ông nghĩ đến đâu trình bày đến đó chớ không hoàn toàn tuần tự từ A đến Z, nói chung là không mạch lạc. Ông vừa có kinh nghiệm và vừa có nét nhìn xa về tương lai của quân đội, nhưng là nghiêng về quản trị con người, quản trị hành chánh, quản trị tiếp vận, hơn là về chiến lược chiến thuật. Chẳng hạn như chương trình cải tổ sâu rộng về tổ chức và điều hành trong toàn ngành Tiếp Vận trong năm 1973-1974, ông đã dám nghĩ và dám làm trong hoàn cảnh vừa tái tổ chức vừa yểm trợ, và bước đầu được đánh giá là thành công. Nét nhìn xa của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên được thể hiện trong Quỹ Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà tôi trình bày ở một đoạn trong chương bảy.
Vì Trung Tướng Khuyên nghĩ sao thì nói vậy, nói một cách chân thành về những điều mà ông nghĩ, nên tôi và những sĩ quan tham mưu trong Tổng Cục Tiếp Vận có mặt lúc bấy giờ, hiểu và thông cảm về câu nói mà lẽ ra ông không nên nói, cho dẫu điều ông nói có là sự thật đối với khả năng của Bộ Tổng Tham Mưu cũng vậy. Tôi có nghe nói đến “chứng lapsus” và được giải thích rằng, khi người nào có chứng này thì trong những lúc bất chợt “lời nói thường là không đúng như điều đang nghĩ trong đầu”. Không biết có phải Trung Tướng Đồng Văn Khuyên trong trường hợp này vào buổi chiều ngày 7 tháng 1 năm 1975 trong câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu hay không?

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Mời quý vị đọc một phần trong hồi ký "Những Ngày Cuối Cùng," "Trước Giờ Thứ 25, để thấy "Đại tá" Phạm Bá Hoa cứ điên tiết như con chó cắn càn, cứ bấu gấu quần của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mà sủa như sau:

Trích:

Những Ngày Cuối Cùng.

(ngày 21/4 đến 28/4/1975)
*****
Tổng Thống Thiệu từ chức.
……………………………Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống, Thủ Tướng, sát cánh với quân đội và toàn dân chiến đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc thật sự lâm nguy thì hai vị lãnh đạo cao nhất nước, đã kế tiếp nhau chuyển giao chức vụ cho hai vị khác trước cơn dầu sôi lửa bỏng của đất nước nhỏ bé và bất hạnh triền miên này! Sau đó, hai vị đã âm thầm bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn lên. Quí vị bỏ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng. Và quí vị bỏ gần 20 triệu đồng bào mà chính Họ đã từng bỏ phiếu bầu một trong hai vị vào chức vụ Tổng Thống trong hai nhiệm kỳ để lo bảo vệ đất nước, lo chăm sóc người dân. Nói chung là quí vị bỏ lại đằng sau tất cả, để rồi quí vị lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm tối trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài cai trị! Còn gì để nói đây!
Nếu sau này quí vị có nói gì với dân tộc Viêt Nam khốn khổ này, xin quí vị đừng nói rằng quí vị từ chức chỉ vì Hoa Kỳ không còn viện trợ nên không đủ phương tiện để tiếp tục chống cộng sản nữa! Tôi nghĩ, quí vị đừng nói gì cả thì vấn đề sẽ không tệ thêm, vì quí vị là những người lãnh đạo quốc gia! …………..(ngưng trích

Trích:
http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/thay-loi-ket.html

Trước giờ thứ 25.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ngay trước khi tuyên bố từ chức Tổng Thống vào đêm 21 tháng 4 năm 1975, đã “cáo buộc” Hoa Kỳ phản bội đồng minh Việt Nam, bỏ rơi Việt Nam, … và ông hy vọng sự từ chức của ông, Việt Nam Cộng Hòa sẽ được Hoa Kỳ tái viện trợ quân sự … Qua hệ thống truyền thông công cộng trong nước cũng như trên thế giới trong những tháng đầu năm 1975, và đặc biệt là trong 2 tháng cuối cùng của cuộc chiến, họ cung cấp cho khán thính giả trên toàn thế giới -trong đó có chúng ta- hiểu rằng, Hoa Kỳ đang lật trang cuối cùng về sự can dự của họ vào cuộc chiến tranh giữa tự do với độc tài trên lãnh thổ Việt Nam, trong ý nghĩa bại trận về phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Thế mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại “hy vọng” Mỹ sẽ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự sau khi ông từ chức! Chắc chắn là Tổng Thống Thiệu thừa hiểu điều đó hơn ai hết, vì ông là Tổng Thống cho dù Tổng Thống cũng chỉ là một con người, nhưng nhất thiết con người Tổng Thống phải hơn hẳn những người khác chớ, nếu không như vậy thì hóa ra “đồng hạng” sao!
Vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã vì lý do gì đó như bị một áp lực từ hậu trường chính trị chẳng hạn, nên ông đưa ra lời cáo buộc để sang tay cho vị kế nhiệm khi thấy con đường chiến đấu phía trước đầy chông gai nguy hiểm, rồi ung dung bỏ chạy và lại là chạy sớm ra ngoại quốc nữa chớ! Chẳng lẽ Tổng Thống Thiệu nói là bị Mỹ áp lực mà ông phải từ chức thì nghe không ổn, vì ông là Tổng Thống, là vị lãnh đạo quyền lực và quyền uy nhất nước! Nhưng nếu thật sự ông nghĩ hay ông tuyên bố như vậy, thì liệu trong 10 năm trên ngôi vị lãnh đạo quốc gia, có phải thật sự ông người lãnh đạo đất nước Việt Nam hay Hoa Kỳ là người lãnh đạo? Hay là ông chạy trốn trách nhiệm? Vì 10 năm trị vì với đầy đủ quyền lực và quyền uy của một Tổng Thống, chính Tổng Thống chớ không phải Hoa Kỳ đã bao lần ra lệnh cho đơn vị này, chỉ thị đơn vị kia, cổ vũ tại các quân trường, hô hào tại các diễn đàn quan trọng, đều trong nỗ lực khuyến khích thúc đẩy mọi người -nhất là quân nhân- hãy hi sinh thân mình bảo vệ tổ quốc. Vậy mà, khi tổ quốc thật sự lâm nguy thì ông quên hết các mệnh lệnh của ông, của vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội mà ông đã từng dõng dạc tuyên bố, để rồi ông lặng lẽ để lại đằng sau tất cả những gì không phải của ông và gia đình ông!
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng từng tuyên bố rằng: “Đất nước còn thì còn tất cả, đất nước mất thì mất tất cả”. Lời của Tổng Thống rất đúng, và đúng với tất cả công dân Việt Nam Cộng Hòa, ngoại trừ ông và những vị lãnh đạo đầy quyền lực cùng những vị có quân có quyền đã bỏ chạy là không đúng.
Vì các vị có mất gì đâu dù rằng đất nước mất! Nhà ở của quí vị là các dinh thự thuộc tài sản quốc gia, xe đi của quí vị hằng ngày cũng là tài sản quốc gia, cơ sở kinh doanh của quí vị cầm chắc là không do đồng lương thật sự của quí vị tạo nên, vườn tược đất đai đồn điền cũng thế, gia đình và thân nhân cùng chạy theo quí vị, thậm chí có thân nhân của ít nhất là một trong số quí vị chạy ra ngoại quốc bằng Hàng Không Việt Nam do ngân sách quốc gia đài thọ nữa chớ!………..(ngưng trích)
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Cũng trong Hồi Ký Chính trị 1963-1975, "Đại Tá Phạm Bá Hoa" buông giọng trách móc, làm như hắn thương nước yêu dân lắm. Phần trên quý vị có đọc bàii "Lời trần tình" thì quý vị có thấy chỗ "Đại tá" Phạm Bá Hoa viết rằng "Riêng với cựu Đại Tướng Khiêm và cựu Đại Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ nghĩa ân." Rồi cũng trong phần dưới bài này hắn cũng có viết là năm 2003, vợ chồng hắn "xách mặt" tới thăm viếng cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và cố Đại Tướng Cao Văn Viên như sau: "Cùng với những sự kiện mà cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ tháng 9/1969 đến tháng 4/1975, và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1975, hai vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia hồi đầu tháng 9 năm 2003 và những năm sau đó, thăm hai vị và gia đình," thế mà trong bài viết "Hồi Ký Chính Trị 1963-1975" thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa lại buông lời trách móc những vị Tướng Lãnh từng là ân nhân và từng là chỉ huy trực tiếp của hắn như sau:
Trích:
http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/chuong-10-gio-thu-25.htm l

Vậy là, quí vị lãnh đạo nước Việt Mam Cộng Hòa vừa bàn giao chức vụ lãnh đạo quốc gia lẫn quí vị đương kiêm chức vụ lãnh đạo quân đội, đã lần lượt rời bỏ quê hương và dân tộc gần như theo hệ thống quân giai cho dù là hệ thống quân giai ngẫu nhiên cũng vậy:
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội, lên phi cơ đi ngoại quốc!
Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, lên phi cơ đi ngoại quốc!
Đại Tướng Cao Văn Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 15 tháng 10 năm 1965, lên phi cơ đi ngoại quốc!
Đầu giờ thứ 25, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, cũng lên phi cơ đi ngoại quốc!
Và khi vị Tổng Tham Mưu Trưởng và Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, rời bỏ chức vụ để đi ngoại quốc, thì quí vị Tướng Lãnh cùng nhiều vị Trưởng Phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, cũng ra đi! …………………..(ngưng trích)
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Nhục mạ, phỉ báng, mạt sát danh dự của cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiện như trên chưa đủ, "Đại tá" Phạm Bá Hoa này còn coi rẻ, khinh thường phận sự của cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, khi hắn viết trong phần "Thay Lời Kết" rằng
Trích:

http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/thay-loi-ket.html

Đến vị lãnh đạo quốc gia hàng thứ hai là Đại Tướng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Vị Thủ Tướng 5 năm rưỡi, đó là thời gian chỉ đứng sau thời gian của Tổng Thống Ngô Đình Diệm kiêm nhiệm. Cả hai thời gian này cộng lại là 15 năm, và hơn 5 năm còn lại lần lượt chuyền tay nhau giữa 9 vị. Nếu chia đều thì mỗi vị chỉ có mấy tháng cầm quyền chơi! Tôi nói “cầm quyền chơi” là vì chỉ có mấy tháng thì mỗi vị Thủ Tướng chỉ kịp duyệt qua công tác của các Bộ trong chánh phủ là hết thời gian rồi, đâu còn thì giờ để soạn thảo những kế hoạch, những dự án, những mục tiêu quốc gia, nói chung là sách lược quốc gia để phục vụ dân tộc.
Đầu năm 1970, bà Trần Thiện Khiêm, trong cuộc đàm thoại hơn nửa tiếng đồng hồ, bà thuật cho tôi nghe câu chuyện thật ngắn với nội dung như sau:
“.. Trên chuyến bay Sài Gòn-Đà Lạt mà trên phi cơ chỉ có gia đình Tổng Thống Thiệu và gia đình Đại Tướng Khiêm. Tổng Thống Thiệu mời Đại Tướng Khiêm giữ chức Thủ Tướng, bà Khiêm hơi to tiếng khi hỏi lại Tổng Thống Thiệu rằng: Tổng Thống biết anh Khiêm không thích làm chính trị mà còn kêu làm Thủ Tướng, có phải là Tổng Thống muốn anh Khiêm ngồi đó để Tổng Thống làm gì thì làm không? Tổng Thống Thiệu gạt ngang: Chuyện của đàn ông, bà biết gì mà nói”……….(ngưng trích)

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Bây giờ tôi xin trình bày và chứng minh cái "con người thật" của "Đại tá" Phạm Bá Hoa để quý vị nhận chân hắn chỉ là một thằng điếm đàng, xảo ngôn, gian manh, lật lọng, hắn lâu nay dùng "bùa phép chữ nghĩa" và cái "lon lá quá khứ" để đánh lừa quần chúng, hắn viết hồi ký, ký sự tù, hắn làm thơ, hắn diễn thuyết với miệng lưỡi của một thằng "sở khanh chính trị,’ hắn ru ngủ, lấy lòng, thuyết phục biết bao nhiêu người nặng lòng ái quốc, và hắn đã thành công. Hắn đánh trúng yếu điểm của người dân Việt tỵ nạn cũng như của những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, do đó các lời lẽ hắn nói ra, hắn viết ra lúc nào hắn cũng khơi dậy lòng yêu nước thương nòi, hắn làm ra vẻ hắn dũng cảm, anh hùng cương quyết "tử thủ" miền Nam Việt Nam, hắn làm ra bộ hắn không hề có ý định"di tản." Mời quý vị đọc mấy giòng trong bài viết "Thay Lời Kết" thì quý vị thấy "Đại tá" Phạm Bá Hoa diễn xuất thật tài tình khi hắn than thở thảm thiết, làm như hắn "yêu nước thương nòi" dữ dằn lắm. Trong bài viết này hắn đã dùng chữ "chúng tôi" để kéo đám đông vào, làm ra vẻ hắn thuộc về đám đông, và đám đông thuộc về hắn. Đây là một trò "chơi chữ" bần tiện và hèn hạ, tuy nhiên khó qua mắt được những người tỉnh táo và sáng suốt. Hắn đã viết ".“Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi.”

Trích:

http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/chuong-3.html
Thay lời kết

Với quí vị lãnh đạo cũng như quí vị có quân có quyền đã bỏ chạy trước ngày sụp đổ, quí vị có biết là “Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi”, hằng mấy ngàn thương phế binh đã bị quân cộng sản quăng ra khỏi các Tổng Y Viện và quân y viện, hằng trăm ngàn nhà cửa bị cộng sản cướp, xe cộ bị cộng sản đoạt, nhiều chục ngàn gia đình trong số chúng tôi bị cộng sản lùa vợ con vào những nơi mà chúng gọi là “khu kinh tế mới”, hoặc đi lấy chồng vì không nơi nương tựa! Bản thân chúng tôi ít nhất cũng hơn 200.000 người bị lùa vào giam giữ nghiệt ngã trong hơn 200 trại tập trung của cộng sản, đã có nhiều ngàn đồng đội đồng tù của chúng tôi đã bỏ xác trong các vùng sình lầy sông rạch miền Nam, trong các vùng rừng núi hoang vu miền Trung, miền Bắc, đến tận trại tập trung Cổng Trời sát biên giới Việt Nam-Trung Hoa cộng sản! Nghĩa là chúng tôi mất tất cả, đúng như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tiên liệu một cách chính xác “Đất nước mất là mất tất cả!”.
Xin thưa, đoạn trên đây tôi không có ý phiền trách bất cứ vị nào, mà tôi chỉ muốn nói đến một góc nhỏ của sự thật hòa trong nhận thức của một sĩ quan tham dự suốt chiều dài cuộc chiến tranh bảo vệ tự do dân chủ 1954-1975! Tôi quan niệm, nói sự thật không phải là nói xấu, cho dẫu sự thật đó có đắng cay đến mấy cũng vậy. Xin quí vị vui lòng chấp nhận, vì lịch sử phải trung thực, và lịch sử không thể thiếu trong hành trang vào đời của những thế hệ sau chúng ta trên đường phục vụ quê hương dân tộc….. (ngưng trích)
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Có nhiều người muốn viết hồi ký, có người tốt lẫn người xấu, có người thiện tâm lẫn người tà đạo. Người thiện tâm là người muốn viết hồi kỷ lưu lại cho đời với mục đích chia sẻ lại những thành công, thất bại, những kinh nghiệm trong cuộc sống ở nhiều phương diện, lãnh vực, tuy nhiên cũng có kẻ hám danh như " Đại tá" Phạm Bá Hoa này, bày đặt viết hồi ký để khoe khoang, đánh bóng tên tuổi của mình, với mục đích dụ khị một số người đơn sơ, chất phát, dễ tin. Cái loại hội ký kiểu "Đại tá" Phạm Bá Hoa chỉ là một mớ giấy lộn, tạp nhạp, không chứng cớ, không khả tin. Hắn sáng tạo những mẫu chuyện hư cấu nhằm đánh động tâm lý những người ái mộ, cuồng tín. Đọc những trang hồi ký, ký sự tù của "Đại Tá" Phạm Bá Hoa khiến tôi lợm giọng, vì hắn viết về "cái tôi đáng ghét" nhiều quá mà chẳng đưa ra một bằng cớ chứng minh cụ thể. Hắn tự biên tự diễn, tự khoe khoang thành tích "đấu tranh, ái quốc của hắn mà không thấy bằng chứng thuyế phục. Cái xấu xa bẩn thỉu nhất của hắn là chỉ vì hắn muốn nâng cao mình lên mà hắn sát phạt, đạp đổ những vị chỉ huy, những vị chủ nhân của hắn, những người mà suốt đời hắn chỉ biết bưng bô, liếm giày cho họ thôi.
Mời quý vị đọc một phần phỏng vấn giữa ông Lâm Lễ Trinh hỏi cố Đại Tướng Cao Văn Viên liên quan đến hồi ký của "Đại Tá" Phạm Bá Hoa, để từ đây quý vị có thể đánh giá giá trị và chỗ đứng của các lời nói, những bài viết, những hồi ký, những ký sự tù của "Đại tá" Phạm Bá Hoa này có còn đáng để đọc, để nghe, để thưởng lãm nữa hay là không, hay là chỉ nên Delete, bỏ vào sọt rác cho khỏi bẩn mắt. Trên thực tế "Đại tá" Phạm Bá Hoa không có tác phong, không có tư cách, không có đạo đức, không có liêm sỉ, không có nghĩa khí, không có lương tâm, không có uy dũng thì làm sao hắn có thể viết lên những điểu nghĩa khí hay sự thật, trung thực, đàng hoàng được. Chính một người là cấp chỉ huy trực tiếp hắn trong suốt bao năm trường mà còn lên tiếng phản đối hồi ký mà hắn viết là sai sự thật, thế thì độc giả là người ngoại cuộc làm sao lượng định được giá trị sự thật được hắn thổi phồng, hư cấu, đánh bóng.
Trích:

http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/thay-loi-ket.html

Ông Lâm Lễ Trinh hỏi: Việc Tổng thống Thiệu tóm hết quyền bính trong tay, qua mặt Quốc hội và Tối cao Pháp viện, một mình quyết định bỏ Cao Nguyên và Miền Trung là điều có lợi hay hại? Trong quyển hồi ký “Đôi dòng ghi nhớ “ (1994, trang 191-215), cựu Chánh văn phòng của anh là đại tá Phạm Bá Hoa có kể lại cuộc rút quân bi thảm của tướng Phạm Văn Phú theo đường số 7 và nhắc lại hai khẩu lệnh của anh bằng điện thoại cho đương sự ngàỵ 15 và 18.3.1975 bảo gởi phi cơ vận tải C130 cho Quân đoàn 2 và chở các quân dụng đắt tiền khỏi Pleiku “mà không cho biết lý do”. Ông Hoa than phiền Tổng Cục Tiếp vận, thuộc bộ Tổng Tham mưu, không hề được thông báo về tình hình suy sụp ở Cao Nguyên. Anh nghĩ sao về lời than phiền này?
D9a5i Tướng Cao Văn Viên trả lời: Tất nhiên không có lợi. Một cá nhân không thể quyết định đơn phương vận mạng của Đất nước. Ông Phạm Bá Hoa trình bày không đúng về một số sự kiện trong quyển hồi ký mà tôi đã nhận được. Tôi có gởi cho y một bổn The Final Collapse được bổ túc để làm sáng tỏ vấn đề nhưng không thấy y nói gì. Phạm vi cuộc mạn đàm hôm nay không cho phép đi sâu vào chi tiết. Xin để dịp khác.

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Bây giờ đến phần tôi chứng minh con người bỉ ổi, trí trá, gian manh, lừa đảo của "Đại tá" Phạm Bá Hoa này để quý nhận chân ra con người quỷ quyệt, bẩn thỉu, nhớp nhúa của hắn sau khi lớp son phấn của hắn bị gỡ xuống. Nảy giờ quý vị đã đọc các lời lẽ chỉ trích, phê bình, trách móc, lên án, sát phạt, bỉ thử, nhục mạ, phỉ báng danh dự của những vị Tướng Lãnh lãnh đạo miền Nam Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 do "Đại tá" Phạm Bá Hoa ném bùn vào họ, với lý do là hắn muốn chứng tỏ hắn là người "yêu nước thương dân," là anh hùng chí khí, là sẵn sàng chết sống với đất nước quê hương chứ không bao giờ có ý "hèn hạ" di tản ra nước ngoài. Tuy nhiên tôi nghĩ là quý vị sẽ thất vọng ề chề khi quý vị đọc ngay chính những lời lẽ hắn viết, những lời nói hắn trả lời trên đài phát thanh, thì từ đó quý vị sẽ khinh bỉ hắn như một con chó ghẻ mà thôi.
Sự thật là trước ngày cộng quân tiến chiếm Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa này đã sắp xếp, dự liệu, tính toán cái chuyện di tản ra nước ngoài từ mấy năm trước rồi. Quý vị đọc tới đây lấy làm ngạc nhiên và không tin lời tôi viết phải không, tôi không trách quý vị vì tôi cũng đang không tin những gì tôi đọc và những điều tôi sắp trích dẫn ra đây, xin quý vị bình tỉnh để rồi "hạ hồi phân giải."
Theo sự ghi chép lại của cuộc phỏng vấn "Đại tá" Phạm Bá Hoa trên đài Saigon Radio do Ký giả Phạm Diễm Hương phụ trách, để trả lời cho câu hỏi là "Và sau cùng thì ông có rời khỏi Việt Nam không, thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa trả lời quanh co, dài dòng, tuy nhiên có một đoạn hắn khai ra là hắn đã chuẩn bị chuyện di tản từ năm 1973, tức trước khi miền Nam rơi vào tay Việt cộng cả 2 năm, và hắn cũng chuẩn bị ra đi vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng vì Việt cộng tiến chiếm vào phi trường Tân Sơn Nhất sớm quá làm hắn bất ngờ, không tiên liệu trước, khiến hắn không thể lấy phi cơ di tản được, Thế thì sơ qua điều này cũng đã chứng minh là "Đại Tá" Phạm Bá Hoa này cũng đã có tính toán, sắp xếp di tản ra khỏi Việt Nam trước khi Việt cộng chiếm Sài Gòn, nhưng xui xẻo cho hắn là Việt cộng tiến chiếm phi trường Tân Sơn Nhất sớm quá khiến hắn không thể lấy phi cơ trốn chạy được, chứ hắn nào có trung thành sống chết mà ở lại với đất nước, quê hương đâu..
Trong các bài viết, hồi ký, ký sự tù hắn thường khoe là hắn muốn ở lại Việt Nam để sống chết với các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, hắn muốn ở lại Việt Nam để gần gũi với các anh Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa mà hắn yêu thương v.v.., thế mà hắn nói một đường thì làm một nẻo, hắn đã tính chuyện di tản khỏi Việt Nam từ trước rồi nhưng bị bất thành mà thôi, nên bắt buộc hắn phải bị kẹt lại và đi ở tù, chứ hắn đã có tính toán quyết tâm di tản ra khỏi Việt Nam từ lâu rồi.
Đây là một phần "Đại tá" Phạm Bá Hoa tiết lộ: "Cho nên đến tối khoảng 3h sáng ngày 30 thì chúng tôi được biết rằng ông tổng thống sẽ tuyên bố trung lập vào lúc 10h sáng thì lúc đó tụi tôi chuẩn bị nhưng không ngờ Cộng sản đã vào Tân Sơn Nhất rồi, chúng tôi không thể lấy phi cơ đi được."

Trích:
GHI LẠI CUỘC PHỎNG VẤN TRÊN SAIGON RADIO
https://scholarship.rice.edu/b itstream/handle/1911/71363/wrc 02817_xscript.pdf?sequence=26

Interviewee: Pham Ba Hoa
Interviewer: Pham Diem Huong
Location: Saigon Radio, Houston, Texas
Date: 2011-03-05

Ký Phạm Diễm Hương hỏi: Và sau cùng thì ông có đi, rời khỏi Việt Nam?
Đại tá Phạm Bá Hoa trả lời: …….Đến khi mà tôi liên lạc với anh Dương Văn Minh, bây giờ anh ấy ở bên ??, 2 đứa lấy 1 chiếc phi cơ đi Singapo khi mà ông Minh tuyên bố trung lập, tôi nói thế này: ông đại tá Ngụy Hồng Đài là con rể đại tướng Dương Văn Minh, lúc đó ảnh là chánh sở của bộ tham mưu của tổng cục tiếp vận thì mà ông tổng thống Minh sắp sửa nhận chức thì ông ấy được biệt phái về bên đó thì tôi liên lạc với anh ấy thì 1 ngày anh ấy cho tôi thông tin 2 lần về những nhận định và quyết định của ông tổng thống ở bên đó là như thế nào, thì ông ấy nói với tôi là có cái giải pháp trung lập, tôi mới nghĩ là có giải pháp trung lập thì trong cái khoảng thời gian chớp nhoáng đó tranh tối tranh sáng thì chúng tôi sẽ ra đi vào lúc đó tôi không muốn đi trước khi mà vấn đề chưa giải quyết, tôi không muốn như vậy……..

Thành ra 2 anh em tôi dự trù chúng tôi và một số anh em nữa sẽ đi sang Singapo, nên vào năm 1973, tôi có chuyến công du tại Singapo tôi quen với anh Chua, người Trung Hoa, thì anh ấy giúp đỡ liên lạc với cơ quan ngoại giao của Úc ở bên đó để sang Úc và chúng tôi được chấp nhận, và anh ấy nói với tôi rằng: “cứ sang đây 1 tuần lễ tôi sẽ lo hết cho anh”. Thì trước kia anh ấy có 1 cơ sở ở tại Sài Gòn, trong cái ngành của tụi tôi anh ấy có 1 cơ sở sản xuất thực phẩm đóng hộp, và có sấy khô trong cái thành phần lương khô đó, thì đó là hướng đi của chúng tôi như vậy nhưng chúng tôi không đi trước khi có 1 giải pháp.

Cho nên đến tối khoảng 3h sáng ngày 30 thì chúng tôi được biết rằng ông tổng thống sẽ tuyên bố trung lập vào lúc 10h sáng thì lúc đó tụi tôi chuẩn bị nhưng không ngờ tụi Cộng sản đã vào Tân Sơn Nhất rồi, chúng tôi không thể lấy phi cơ đi được. Có người nói rằng con người có số mạng, tôi thì không tin nhưng nếu con người có số mạng thì có lẽ tôi cũng có số, cái số ở tù, sau đó tôi vào tù, cho đến ngày 20 tây tháng 7 năm 1984 tôi mới về nhà, 12 năm 2 tháng, 28 ngày và nói cho kỹ nữa là 6 tiếng đồng hồ nữa.

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Trong Hồi Ký Giờ thứ 25, "Đại Tá" Phạm Bá Hoa đã tiết lộ sự thật là hắn đã tính toán, sắp xếp, chuẩn bị, sửa soạn cho việc di tản khỏi Việt Nam trước khi Việt cộng chiếm Sài Gòn, bằng chứng là qua lời thú nhận của hắn, hắn khai rằng hắn liên lạc thường xuyên với Đại tá Nguyễn Hồng Đài, con rễ của Tổng Thống Dương Văn Minh, và hai người đã bàn thảo kế hoạch di tản khỏi Việt Nam trước khi Việt cộng chiếm Sài Gòn, nhưng kế hoạch bị thất bại vì Việt cộng chiếm phi trường Tân Sơn Nhất sớm hơn dự liệu, nên hắn và con rễ của Tổng Thống Dương Văn Minh không thể lấy máy bay di tản được. Như vậy thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa này đâu có tử tế, tốt lành, yêu nước thương dân, sống chết với đất nước, tử thủ tới cùng đâu, bây giờ hắn lại quay ra chửi những người lãnh đạo, chỉ huy hắn là "hèn" trong khi bản thân hắn cũng "hèn" như họ thôi, chỉ khác nhau là họ "hên" nên di tản được, còn hắn "xui" nên bị kẹt lại. Đó là tôi chưa nhắc lại cái phần hắn kể cho tôi nghe là hắn được ông Tướng Lãnh chỉ huy của hắn hứa dẫn hắn di tản, nhưng rồi lại bỏ rơi hắn, chứ hắn đâu có muốn ở lại Việt Nam đâu. Mời quý vị đọc một phần thố lộ của hắn như sau:
Trích:
http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/chuong-10-gio-thu-25.htm l
Tôi điện thoại cho Đại Tá Nguyễn Hồng Đài (con rể của Tổng Thống Dương Văn Minh), nguyên là Chánh Sở Kế Hoạch/ Tổng Cục Tiếp Vận biệt phái về Phủ Tổng Thống:

“Anh Đài. Anh vui lòng trình với Tổng Thống là cho đến lúc này, trong Bộ Tổng Tham Mưu không còn vị Tướng Lãnh nào hết, cũng không ai trách nhiệm bảo vệ bản doanh Tổng Tham Mưu nữa. Tôi trình xin Tổng Thống cử người vào chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Nếu hôm nay không có vị nào vào đây thì bộ tham mưu nhẹ của Tổng Cục Tiếp Vận chúng tôi sẽ sang Biệt Khu Thủ Đô làm việc, vì khách hàng mà tôi yểm trợ chỉ còn Biệt Khu Thủ Đô và một phần lực lượng của Quân Đoàn III thôi”.

“Được rồi, tôi trình "Ông Già" ngay và sau đó sẽ điện thoại anh”.

Một lúc sau, Đại Tá Đài gọi tôi:

“Ông Già" cho biết, lúc 3 giờ chiều nay sẽ có phái đoàn Tướng Lãnh vào nhận chức trong Bộ Tổng Tham Mưu. Anh yên tâm”.

………………………… ………………………… …..
Tiếp đó điện thoại lại reo:

“Đại Tá Hoa tôi nghe”.

“Đài đây anh (Đại Tá Nguyễn Hồng Đài). Lúc 10 giờ sáng nay (tức 30/4/1975) "Ông Già" sẽ công bố giải pháp chính trị, anh theo dõi trên đài phát thanh Sài Gòn nghe”.

“Nhưng mà nội dung giải pháp là gì?

“Trung lập, như tôi nói với anh đó”.

“Vậy là tôi chuẩn bị. Cám ơn anh”.

Đến đây tôi xin mở ngoặc để nói đến 2 điều cho vấn đề được rõ thêm.

Điều thứ nhất. Khoảng năm 1998, tôi có dịp gặp anh Nguyễn Hồng Đài tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Sau khi thăm hỏi nhau, anh xác nhận lời anh đã nói với tôi là đúng như trong quyển Đôi Dòng Ghi Nhớ, nhưng về thời gian thì sai. Anh nói không phải rạng sáng 30 tháng 4 mà là rạng sáng 29 tháng 4, vì tối 29 tháng 4 anh đang trên tàu ra biển. Trí nhớ của tôi vẫn ghi nhận lời anh nói vào rạng sáng 30 tháng 4, vì đây là đêm đầu tiên tôi “bị” ngủ tại nhà sau 3 tuần cắm trại ngủ tại văn phòng tôi (Tổng Cục Tiếp Vận) trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, và tôi tiếp chuyện điện thoại với anh lúc tôi từ cửa sổ nhà tôi nhìn lên bầu trời với những âm thanh gào thét của những chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bao vùng yểm trợ cho trực thăng đưa người di tản. Vì vậy tôi vẫn viết lại đây theo trí nhớ của tôi.
Và điều thứ hai. Khi tôi nói "tôi chuẩn bị", tức là tôi chuẩn bị rời khỏi Việt Nam ngay sau khi Tổng Thống Minh tuyên bố trung lập. Nghĩa là tôi và gia đình dự trù rời khỏi Việt Nam nhưng không đi trước khi có giải pháp chính trị, mà ra đi trong lúc giao thời dù chỉ trong ngắn ngủi. Chúng tôi dự trù 6 gia đình, trong số này có 2 gia đình thuộc phi hành đoàn C130, dùng chiếc C130 sang Singapore để đi Australia, vì tôi được sự giúp đỡ của người bạn gốc Trung Hoa trong công ty INTRACO tại Singapore, nối liên lạc với cơ quan ngoại giao Australia tại đó và đã được đồng ý. Xin đóng ngoặc. …. (ngưng trích)

Kính thưa Quý Đồng Hương,
Cái phần mà tôi trích ra đây nằm trong Hồi Ký giờ thứ 25 của "Đại Tá" Phạm Bá Hoa, tôi xin miễn bàn luận hay nêu lên ý kiến vì tôi muốn dành cho mỗi người trong quý vị tự ngẫm nghĩ. Điều mà tôi muốn nhắn gởi với "Đại tá" Phạm Bá Hoa là hãy tự vấn lương tâm, khi hùng hổ "ném đá" những vị Tướng Lãnh mà hắn từng cúi đầu phục vụ, nếu cho họ là "hèn" thế thì cái bình độc dược xin bác cho để dành tự tử khi Việt cộng vào thành, "Đại tá" Phạm Bá Hoa đã uống hay chưa? hay là hắn nêu ra lý do này lý do nọ để bào chữa cho cái "hèn" của mình. " Đại tá" Phạm Bá Hoa có dám nhìn thẳng vào di ảnh của 5 vị Tướng Lãnh đã tuẩn tiết để xin họ thứ tha cho cái tội "hèn" của mình không? Ngũ Hổ Tướng này họ cũng có vợ, có con như hắn vậy, thế mà tại sao họ chấp nhận cái chết, lý do là họ chỉ "làm" chứ không "nói" như cái "Đại tá" Phạm Bá Hoa.

Trích:

http://rungnui.blogspot.com/20 11/10/chuong-10-gio-thu-25.htm l

Thế là hết !!!

Quân cộng sản chưa thật sự có mặt trong thành phố, nhưng những tốp thanh niên nam nữ đeo băng tay đỏ với súng M16 trên tay và ngồi xe jeep chạy đó đây trong trên đường phố Sài Gòn. Đó là những bọn mà chúng tôi gọi là "cộng sản 30 tháng 4". Dù trong một tầm nhìn hạn hẹp đó, tưởng cũng đủ nói lên một cảnh tượng trong biết bao cảnh tượng đau thương ngập tràn trái tim Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vì chưa tròn trách nhiệm với dân với nước!
Chốc chốc tôi sờ vào chai độc dược trong túi, dự định của tôi khi xin Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh là tôi sẽ sử dụng nếu như tôi bị cộng sản bắt hoặc chưa bắt nhưng chúng sỉ nhục tôi. Nhưng, chiều hôm ấy, tôi đã ném nó vào thùng rác và với khẩu súng lục 9 ly (do ông Johnson, trưởng toán tình báo vùng đồng bằng Cửu Long tặng tôi tại Cần Thơ năm 1968) vào cái giếng ngay sau nhà cô tôi ở đường Thành Thái, sau khi vợ tôi ngồi dưới chân tôi vừa khóc vừa nói như van lơn:
"Anh ơi, trong mọi trường hợp, anh đừng bỏ em và các con nghe anh!".
Tôi tin là vợ tôi không biết gì về chai độc dược trong túi tôi, nhưng có lẽ do cảm tính đặc biệt của người vợ thấu hiểu tính chồng trong hoàn cảnh nghiệt ngã mà nói với chồng bằng cả tâm hồn người vợ người mẹ!……(ngưng trích)
Kính thưa Quý Đồng Hương,
Bài viết cũng khá dài rồi, tôi muốn kết thúc nơi đây bằng một sự kiện liên quan đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trên Blog "Chúng tôi lên tiếng" có đăng tải bài viết "Những vấn đề lịch sử cần được sáng tỏ" của tác giả Trần Việt. Theo văn phong thì tôi cho rằng tác giả Trần Việt là một thằng Việt gian thân cộng, và rất mất dạy và vô liêm sỉ, hắn đã nêu ra một số vấn đề không ngòai chủ đích là nhục mạ và phỉ báng danh dự cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hắn đã nêu lên một số câu hỏi với "Đại tá" Phạm Bá Hoa vì hắn thần tượng và tôn sùng "Đại tá" Phạm Bá Hoa như thánh sống. Trong nhiều câu hỏi, thì có câu hắn nêu lên nhằm chỉ trích bản nhạc "Suy Tôn Ngô Tổng Thống," điều mà tôi muốn nêu ra ở đây là lên án cái tư cách khốn nạn của "Đại tá" Phạm Bá Hoa khi hắn tuyên bố rằng bản nhạc "Suy Tôn Ngô Tổng Thống" là sai trái, là không chính đáng vì không có ai có thể làm tổng thống muôn năm được, do đó vào thời đó hắn không hề chấp nhận hát bản nhạc "Suy Tồn Ngô Tổng Thống."

Lời giải thích và lý luận của hắn chứa đưng một sự khích bác, sỉ nhục đối với vị cố Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa của đất nước, đọc qua lời sự phân tích của hắn cũng đủ thấy được cái dã tâm và thân cộng của hắn. Cái chuyện không ai làm tổng thống muôn năm là điều dĩ nhiên vì đâu có ai sống mãi mãi, đời đời kiếp kiếp được, đó là chưa kể đến việc mọi người đều biết cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm sống độc thân, không vợ không con thì làm gì có chuyện "cha truyền con nối," thế thì cái lý do mà "Đại tá" Phạm Bá Hoa nêu ra chỉ là một cách lý luận "cuồng" để chống đối và sỉ nhục cố Tổng thống Ngô Đình Diệm mà thôi.

Cứ giả sử tin theo lời "Đại tá" Phạm Bá Hoa tuyên bố là trong quá khứ hắn chống lại bản nhạc "Suy Tôn Ngô Tổng Thống" nên hắn không bao giờ hát bài đó cả trong mỗi lúc chào Quốc Kỳ và hát Quốc Ca, thế thì "Đại tá" Phạm Bá Hoa có phải là một thằng lính vô kỷ luật và vi phạm quân kỷ của quân đội hay không, trong khi lệnh của một vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội mà hắn lại làm trái lệnh hay sao? Từ đó tôi cho rằng lời tuyên bố của "Đại tá" Phạm Bá Hoa như trên chỉ là một sự láo khoét và nổ sảng, bịa đặt mà thôi, vì trên trên thực tế ông nội mấy đời của "Đại tá" Phạm Bá Hoa cũng không dám cưỡng lại lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cũng là Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, mà lúc đó "Đại tá" Phạm Bá Hoa chỉ còn làm một người lính nhỏ nhoi mà thôi. Tôi tin rằng sau khi đọc bài viết này, những người dân ái mộ tinh thần chống cộng triệt để của cố Tổng Thống Ngô Đình diệm sẽ có phản ứng và trừng trị thích đáng về việc lộng ngôn và mất dạy của "Đại tá" Phạm Bá Hoa khi dám đi xúc phạm danh dự của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một vị Tổng Thống anh minh và triệt để chống cộng của nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

"Đại tá" Phạm Bá Hoa chỉ trích bản nhạc "Suy Tôn Ngô Tổng Thống" và xúc phạm Tổng Thống Ngô Đình Diệm
http://chungtoilentieng.blogsp ot.com/2012/02/nhung-van-e-cua -lich-su-can-uoc-sang-to.html

photo pbh2_zps82htt4wy.png

Kính thưa Quý Đồng Hương,

Tôi xin chấm dứt bài viết tại đây. Những gì tôi cần nói, cần trình bày thì cũng khá đầy đủ rồi trong lúc này. Dẫu biết rắng khi dính vào những vấn đề "nhạy cảm" như thế này thì chỉ chuốc lấy những phiền toái, rắc rối cho cuộc sống thêm mà thôi, nhưng đứng trước sự phi lý, bất công tôi không thể đóng vai làm làm người câm trong khi tôi còn nói được. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi phản biện, phản hồi hay tranh luận về đề tài này, vì tôi nghĩ rằng nếu tôi không nói lên và đặt vấn đề này ra thì chẳng có ai bỏ công "ngó ngàng" đến, và bởi sự tiêu cực và hờ hửng, hời hợt đó của cộng đồng, khiến cho bọn Việt cộng, Việt gian và cái đám "thổ tả" như "Đại tá" Phạm Bá Hoa này "múa gậy vườn hoang, khinh thường trình độ, sáng suốt và tinh thần đấu tranh của cộng đồng. Chúc quý vị một ngày vui.
Trân trọng,
Ngô Kỷ
ngokycali
714-404-7022

PHỤ ĐÍNH

https://hoquang.org/2015/06/16 /muoi-toi-dai-ac-cua-ho-chi-mi nh-va-dang-cong-san-viet-nam (Bấm Link để đọc trọn bài dài với nhiều chi tiết)

LÊ DUY SAN

MƯỜI TỘI ĐẠI ÁC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THÁNG SÁU 16, 2015 VIETNAMDAILY.NEWS 386 PHẢN HỒI

I/ Tội ác thứ 1: Sát hại ngàn đảng viên của các đảng phái quốc gia.

Sau khi cướp được chính quyền, ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh ký kết Hiệp Ước Sơ Bộ với Pháp, cho phép quân Pháp đổ bộ vào miền Bắc VN thay thế cho quân đội Trung Hoa (lúc đó đang hậu thuẫn cho VNQDĐ) để tước khí giới quân đội Nhật; nhưng thực ra là để cho Việt Minh rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia nhất là VNQDĐ, một đối thủ không đội trới chung của chúng.

II/ Tội ác thứ 2: Sát hại cả trăm ngàn nông dân, địa chủ phú hào.

Với chủ trương TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO – ĐÀO TẬN GỐC, TRỐC TẬN RỄ, Hồ Chí Minh và bọn lãnh đạo đảng CSVN sau khi cử người đi Liên Sô và Trung Cộng học tập đã phát động phong trào Cải Cách Ruộng Đất với mục đích không những để tiêu diệt giới địa chủ mà còn để bần cùng hóa người dân. Nhiều nông dân có dăm sào ruộng cũng bị liệt vào hàng địa chủ để phải chịu đấu tố đến vong mạng.

III/ Tội ác thứ 3: Tàn sát cả ngàn người trong vụ “ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa”

Sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về những đợt cải cách ruộng đất đẫm máu, các nạn nhân đã tìm những cán bộ thanh toán món nợ máu. Các đảng viên CS được thả về từ nhà tù, được khôi phục quyền hành, khôi phục đảng tịch, cũng liền tìm đến ngay các đồng chí đã vu cáo họ để trả thù.

Dân chúng đã dùng ngay chính sách sửa sai của CSVN để đòi lại chồng con đã bị giết oan uổng, tài sản đã bị cưỡng đoạt bất hợp pháp và đòi quyền được di chuyển tự do vào Nam như đã ghi trong Hiệp định Geneve 1954. Hồ Chí Minh đã phải chính thức ra lịnh đình chỉ mọi vụ hành quyết các địa chủ vào tháng 10 năm 1956.

Và để xoa dịu lòng dân, đảng CSVN cũng đã thả khỏang 12,000 người còn sống trong tù vì bị kết tội địa chủ, cường hào ác bá (trong số này nhiều người bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành). Nhiều vụ nổi dậy, bạo động lớn nhỏ đã xảy ra sau đó. Vụ dân chúng nổi dậy lớn nhất là vụ “Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” ở Nghệ An vào đầu tháng 11 năm 1956.

IV/ Tội ác thứ 4: Khủng bố giết hại hàng chục ngàn dân lành.

Suốt thời gian cuộc chiến từ 1945 đến 1975, Việt Cộng và bè lũ đã sát hại không biết bao nhiêu là dân lành vô tội và những người mà chúng nghi có liên hệ với chính phủ quốc gia bằng cách bằng cách đêm đêm tìm đến để sát hại. Chúng cho đào đường đặt mìn, đắp mô và pháo kích bừa bãi vào Saigòn và các thị xã của các thành phố miền Nam. Chúng cho nổ mìn tại các nhà hàng, vũ trường, quán ăn. Điển hình là vụ VC khủng bố bằng cách cho nổ mìn tại nhà hàng nổi Mỷ Cảnh và Vũ trường Tự Do tại Saigon và quán Đỏ ở thị xã Bạc Liêu vào năm 1965 làm chết cả chục người và cả trăm người khác bị thương. Dã man nhất là vụ pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy.

V/ Tội ác thứ 5: Sát hại trên 5,000 thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968. Sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, lợi dụng hưu chiến trong dịp Tết Nguyên Đán, Quân đội Cộng Sản Hà Nội và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, con đẻ của Cộng Sản Hà Nội đã bất thình lình tấn công tại nhiều thành phố của miền Nam Việt Nam, trong đó có Sài Gòn và Huế. Chúng chiếm được Huế và tưởng là đã “giải phóng” vĩnh viễn được thành phố này nên Lực Lượng Cách Mạng Huế cùng với Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê văn Hảo đã họp hội nghị để thành lập một Chính Quyền Cách Mạng, với mục đích tổ chức việc quản trị thành phố và chuẩn bị chống lại sữ phản công của quân đội VNCH. Ngày 15 tháng 2 năm 1968 Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế được thành lập và Lê Văn Hảo đảm nhiệm chức vụ chủ tịch.”

Sau khi Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế được thành lập, chúng ra thông cáo yêu cầu tất cả các quân cán chính của chính quyền VNCH phải ra trình diện rồi bắt giữ họ. Chúng cho những tên cộng sản nằm vùng như anh em Hòang Phủ Ngọc Tường, Hòang Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân v.v…đi lùng bắt những người trốn tránh không chịu ra trình diện và những người chúng nghi là thành phần “phản động. Nhiều người bị giết ngay tại nhà, trước ngõ hoặc trên đường phố và được chúng chôn ngay tại chỗ.

Trong 28 ngày chiếm giữ Huế, bọn Việt Cộng (bộ đội Bắc Việt và quân đội Gỉai Phóng Miền Nam) ngày nào cũng đi lùng bắt giết các quân nhân VNCH nghỉ phép về nhà ăn Tết và viên chức của VNCH. Những người dân thường không theo chúng, chúng cũng bắt và giam giữ tại nhiều nơi khác nhau. Số người bị bắt giam vào khỏang gần 10,000 người.

VI/ Tội ác thứ 6: Cướp tài sản của nhân dân miền Nam sau năm 1975.

Sau tháng 4 năm 1975, đảng CSVN đã cướp 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam tức của nhân dân miền Nam đem về Bắc chia nhau. Ngòai ra với những chính sách đổi tiền, mỗi gia đình chỉ được phép đổi có 100 ngàn đồng tiền VNCH để lấy $200 tiền VC cũng như chính sách đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, chính sách kinh tế mới, cho đi vược biên bác chính thức, đảng Cộng Sản VN đã cướp trắng trợn không biết là bao nhiêu vàng bạc, của cải, nhà cửa của đồng bào miền Nam và cũng kể từ đó, đảng Cộng Sản Việt Nam đã được nhân dân miền Nam gọi là đảng Cướp, thật không sai chút nào.

Ngày nay chúng (bọn CSVN) còn cướp cả đất đai của các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành v.v…và đất đai của nhân dân cả hai miền Nam, Bắc vì thế mới có những vụ giáo dân xứ Thái Hà biểu tình phản đối ở Hà Nội, giáo dân Tam Tòa mit tinh cầu nguyện ở Vinh, vụ dân oan khiếu kiện ở Saigon v.v…

VII/ Tội ác thứ 7: Giam giữ bất hợp pháp cả 100,000 quân dân miền Nam.

Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Viêt Nam, bọn Việt Cộng đã bắt cả trăm ngàn quân cán chính của VNCH đi “học tập cải tạo” thực chất là đi tù không thời hạn. Có nhiều người đi tù tới 17 năm mới được thả về. Nhiều người đã chết trong trại “Cải tạo” vì bệnh tật, vì đói khát, vì bị hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần. Thực ra mục đích của Việt Cộng khi đưa ra chính sách này là muốn cô lập những người mà chúng coi là nguy hiểm cho chế độ.

Theo sự ước tính của các nhà nghiên cứu đáng tin cậy và đã được phổ biến thì có vào khỏang 150 trại tù “cải tạo” và con số tù “cải tạo” (8) vào khỏang 150,000 người (tính trung bình mỗi trại tù 1,000 tù nhân). Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm.

VIII/ Tôi ác thứ 8: Tước đọat quyền sinh sống của nhân dân miền Nam khiến cả nửa triệu người phải bỏ nước ra đi và bỏ mạng trên biển cả.

Sau năm 1975, không phải chỉ những người phục vụ trong chính quyền miền Nam như quân nhân, công chức bị Việt Cộng trả thù bằng cách cho đi tù mà chúng gọi là cho đi “học tập cải tạo mà ngay cả thường dân cũng không thóat khỏi. Với các chính sách “đánh tư sản mại bản’, “cải tạo công thương nghiệp”, “kinh tế mới”, “hộ khẩu”, “hợp tác xã” v.v…bọn Việt Cộng đã tước đọat hết tài sản của người dân miền Nam kể cả quyền sinh sống của họ khiến cả triệu người đã phải bỏ nước ra đi tìm sự sống.

Người dân miền Nam có thể chịu cực khổ nếu con cái họ có tương lai. Nhưng họ không thể nhìn con cái họ trở thành những con vật trong xã hội Cộng sản Việt Nam, một xã hội đầy bất công và thù hận. Vì thế chỉ còn một con đường duy nhật là vượt biên. Nếu may thoát được thì con cái họ còn có hy vọng có được một tương lai tốt đẹp hay ít nhất cũng có được một cuộc sống đáng sống. Bởi vậy họ đã liều mình vượt biên bằng đường bộ qua Cam-pu-chia, đến Thái Lan hay vượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân. Tới nơi nào cũng được, bất chấp sự bắt bớ của công an, cướp bóc, hãm hiếp của hải tặc hay bão tố trên biển cả, miễn là ra khỏi được cái điạ ngục khủng khiếp đó là Việt Nam.

IX/ Tội ác thứ 9: Đánh thuê cho Nga Tầu khiến cả triệu người dân chết vì chiến tranh.

Việt Cộng Hà Nội nghe theo quan thầy Liên Sô, Trung Cộng xâm chiếm miền Nam VN tức VNCH không phải là để bảo vệ lãnh thổ mà là để thi hành nghĩa vụ quốc tế của đảng Cộng Sản Nga Tầu. Chính Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” và “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại. Năm 1976 Lê Duẫn ngang nhiên áp đặt Chủ Nghĩa Cộng Sản lên đầu toàn dân VN, đổi tên đảng Lao Động (lừa bịp dân lúc trước vì dân không thích cộng sản) thành đảng csvn. Lê Duẩn nói “ Ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi Việt Nam”.

X/ Tội ác thứ 10: Bán nước và làm nô lệ cho Tầu.

Năm 1958, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung quốc và tôn trong hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Năm 1979, sau khi bị Tầu dàn 200,000 quân vượt qua biên giới tiến công, tàn phá bình địa vùng biên giới trong đó có Động Tam Thanh thuộc Lạng Sơn, Việt Nam mất khoảng 789 km vuông vùng biên giới. Tới ngày 30 tháng 12 năm 1999, Bọn lãnh đạo VNCS lại bí mật cắt nhượng thêm dọc biên giới khoảng 1300km chiều dài và từ 2 đến 12 km chiều rộng dâng cho Trung Cộng. Tính ra Việt Nam mất khỏang 15,000 km vuông miền biên giới Cao Bằng Lạng Sơn. Ải Nam Quan cũng bị sát nhập vào Tầu. Động Tam Thanh, thị xã Đồng Đăng, Thác Bản Giốc và hang Pắc Bó, mà trước kia Hồ Chí Minh dùng làm nơi trú ẩn trong lúc thời chiến tranh với Pháp, cách Tầu 50 km nay cũng nằm sát kề biên giới.

Tóm lại, kể từ ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn cướp được chính quyền từ tay Thủ Tướng Trần Trọng Kim, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm 10 tội đại ác sau:

1/ Sát hại ngàn đảng viên của các đảng phái quốc gia

2/ Sát hại cả trăm ngàn nông dân, địa chủ phú hào

3/ Tàn sát cả ngàn người trong vụ “ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa”

4/ Khủng bố giết hại hàng chục ngàn dân lành.

5/ Sát hại trên 5,000 thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968.

6/ Cướp tài sản của nhân dân miền Nam sau năm 1975.

7/ Giam giữ bất hợp pháp cả 100,000 quân dân miền Nam.

8/ Tước đọat quyền sinh sống của nhân dân miền Nam khiến cả nửa triệu người phải bỏ nước ra đi và bỏ mạng trên biển cả.

9/ Đánh thuê cho Nga Tầu khiến cả triệu người dân chết vì chiến tranh.

10/ Bán nước và làm nô lệ cho Tầu.

Ngòai 10 tội đại ác này, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam còn phạm cả trăm ngàn tội ác khác trong suốt cuộc chiến từ 1945 đến 1975 và cho đến bây giờ chúng vẫn còn đang tiếp tục gây tội ác cho dân tộc Việt Nam.


http://vuottuongluaonline.com/ 2017/05/24/tam-muoi-nam-toi-ac -cua-cong-san-va-hoa-giai-dan- toc/

Tám mươi năm tội ác của Cộng sản và Hòa Giải Dân Tộc

VTL May 24, 2017 0 Comment
http://hon-viet.co.uk/DoNgocUy en_TamMuoiNamToiAcCuaCongsanVa HoaGiaiDanToc.htm
Tám mươi năm tội ác của Cộng sản và Hòa Giải Dân Tộc
DoNgocUyen.jpg
Đỗ Ngọc Uyển
Nghị Viện Âu Châu Lên Án Các Chế Độ Cộng Sản
Năm 1996, Nghị Viện Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết số 1906 để đưa ra những biện pháp nhằm tháo gỡ những di sản độc hại của những hệ thống cộng sản chuyên chế trước đây. Về phương diện định chế, những di sản này gồm: tập trung quyền hành tối đa, quân sự hoá các tổ chức dân sự, chế độ quan liêu, sự độc quyền và quy luật hoá tối đa mọi sinh hoạt xã hội. Về phương diện xã hội, những di sản này gồm: chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa tuân thủ mù quáng và những khuôn mẫu suy tư độc đoán.
Riêng tại Việt Nam, ngoài các di sản kể trên, cộng sản còn để lại nhiều di sản độc hại khác. Đó là sự phá hoại nền đạo lý và nếp sống văn hoá nhân văn, nhân bản truyền thống của dân tộc, và thay thế vào đó bằng một thứ văn hoá xã hội chủ nghĩa rừng rú, phi nhân tính. Những vụ con cái đấu tố cha mẹ; vợ chồng, anh chị em đấu tố nhau… một cách man rợ trong thời kỳ “Cải Cách Ruộng Đất” từ 1953 đến 1956 là những hành vi vô luân vượt ra ngoài sự tưởng tượng của những kẻ vô đạo nhất. Đây là tội phá hoại văn hiến, một tội chống lại quốc gia tức phản quốc của Hồ Chí Minh. Không có cái công nào có thể chuộc được cái tội này. Những di sản độc hại này đã di căn vào toàn bộ cơ thể xã hội hôm nay, và còn tiếp tục gây tác hại cho tới khi nào cộng sản còn thống trị đất nước.
Tham chiếu Nghị Quyết trên đây, năm 2006, Nghị Viện Âu Châu đã thông qua thêm Nghị Quyết số 1481 nhằm tố cáo và lên án những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền của những chế độ cộng sản đã cai trị ở Trung Âu và Đông Âu trong thế kỷ 20 và các chế độ cộng sản còn đang tiếp tục thống trị tại bốn quốc gia trên thế giới trong thế kỷ 21 gồm Trung Cộng, Việt Cộng, Hàn Cộng và Cuba. Tất cả những chế độ cộng sản này – không có ngoại trừ – đã có một đặc tính chung là những vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền.
Những vi phạm nhân quyền của các chế độ cộng sản bao gồm những vụ ám sát và xử tử các cá nhân và tập thể, giết người trong các trại tập trung, bỏ đói, bắt lưu đầy, tra tấn, hành hạ, bắt làm lao nô, khủng bố thể chất và tinh thần, bách hại tôn giáo và chủng tộc; vi phạm tự do lương tâm, tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do báo chí và thiếu vắng đa nguyên chính trị.
Nghị Viện Âu Châu nhận định rằng – sau sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Trung và Đông Âu – đã không có một cuộc điều tra sâu rộng của cộng đồng quốc tế về những tội ác của các chế độ này. Và hơn nữa, những thủ phạm đã gây ra những tội ác cũng không bị mang ra xét xử tại một toà án hình sự quốc tế như trường hợp các thủ phạm đã gây những tội ác khủng khiếp của chế độ Đức Quốc Xã. Do đó, sự hiểu biết về những tội ác của cộng sản trong công chúng rất hạn chế, và những chế độ cộng sản còn sót lại vẫn tiếp tục phạm những tội ác chống nhân quyền.
Nghị Viện Âu Châu tin rằng sự hiểu biết thấu đáo về lịch sử là một trong những điều kiện tiên quyết để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn nữa, việc thẩm định mang tính đạo đức và sự lên án những tội ác mà cộng sản đã phạm giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục các thế hệ trẻ sau này. Quan điểm minh bạch về quá khứ sẽ soi sáng cho những hành động của cộng đồng thế giới trong tương lai.
Những chế độ cộng sản còn thống trị tại vài quốc gia trên thế giới vẫn tiếp tục vi phạm những tội ác chống nhân quyền. Những quốc gia trên thế giới không nên vì quyền lợi của quốc gia mình mà tránh né lên án những tội ác chống nhân quyền của các chế độ cộng sản toàn trị còn hiện hữu trên thế giới. Nghị Viên Âu Châu lên án mạnh mẽ những vi phạm nhân quyền của các chế độ cộng sản còn sót lại này.
Nghị Viện Âu Châu xác tín rằng quan điểm minh bạch của cộng đồng thế giới khi thảo luận và lên án những tội ác mà các chế độ cộng sản đã vi phạm là một bổn phận của đạo đức và không được trì hoãn lâu hơn nữa.
Nghị Viện Âu Châu cũng tin rằng những quan điểm minh bạch của cộng đồng thế giới đối với những tội ác mà các chế độ cộng sản đã vi phạm sẽ mở ra con đường hoà giải sau này. Và hy vọng rằng quan điểm minh bạch trên đây sẽ khuyến khích các sử gia trên toàn thế giới hãy tiếp tục tra cứu để thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác mà cộng sản đã phạm.
Tám Mươi Năm Tội Ác Của Cộng Sản Việt Nam
Theo tinh thần của hai nghị quyết trên đây, việc thảo luận và lên án những tội ác mà cộng sản Viêt Nam đã phạm đối với dân tộc Việt Nam trong 80 năm nay là bổn phận của lương tri và đạo đức của mọi người Việt Nam. Việc tra cứu và thẩm định một cách chính xác và khách quan những tội ác của cộng sản Việt Nam và đưa những chánh phạm ra xét xử trước ánh sáng của công lý là một thể hiện công bằng và minh bạch để đưa đến hoà giải và thống nhất ý chí và tư tưởng của dân tộc đã bị phân hoá và chia rẽ bởi những tội ác và những di sản độc hại mà chế độ cộng sản đã để lại cho xã hội Việt Nam trong gần một thế kỷ kể từ năm 1930 đến nay.
Hệ thống luật pháp quốc gia không dự liệu những tội ác của CS đối với dân tộc Việt Nam bởi vì đây là những tội đại hình có tính quốc tế (international crimes). Những tội ác của cộng sản Việt Nam thuộc bốn nhóm tội ác đã được dự liệu tại Đạo Luật Rome (The Rome Statute) gồm:
1) Tội Ác Xâm Lược (The Crime of Aggression);
2) Những Tội Ác Chiến Tranh (War Crimes);
3) Tội Ác Diệt Chủng (The Crime of Genocide);
4) Những Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity).
Sau đây xin lược kê và phân loại – theo bốn nhóm tội ác nói trên – một số tội ác của CSVN trong 80 năm nay.
I – Tội Ác Xâm Lược VNCH
Theo công pháp quốc tế, Việt Nam Cộng Hoà hội đủ tám tiêu chuẩn của một quốc gia độc lập:
1- VNCH có một lãnh thổ có biên cương được quốc tế công nhận.
2- VNCH là ngôi nhà chung của 22 triệu người Việt sinh sống trong đó.
3- VNCH có một nền kinh tế thị trường có tổ chức; có hoạt động nội thương, ngoại thương và phát hành tiền tệ.
4- VNCH có một bộ giáo dục và một hệ thống giáo dục miễn phí từ bậc tiểu học đến đại học; ngoài ra còn có một hệ thống các trường cao đẳng chuyên nghiệp.
5- VNCH có một hệ thống chuyên chở quốc nội và quốc ngoại gồm đường bộ, xa lộ, thiết lộ, đường thuỷ, đường hàng không; các bến xe, bến cảng và các phi trường để chuyên chở hành khách và hàng hoá trong nội địa và ra ngoại quốc.
6- VNCH có một chính phủ dân cử gồm ba nghành: hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập với quyền lực cân bằng và kiểm soát lẫn nhau; có một quân lực gồm một triệu quân nhân dưới cờ với hải lục không quân để bảo vệ tổ quốc và một lực lượng cảnh sát gồm hơn 200.000 nhân viên để giữ gìn trật tự và bảo vệ an ninh cho dân chúng.
7- VNCH là một quốc gia độc lập và có chủ quyền tuyệt đối trên lãnh thổ của quốc gia.
8- VNCH đã thiết lập liên lạc ngoại giao với gần một trăm quốc gia trên thế giới, có toà đại sứ tại tất cả các quốc gia này kể cả tại bốn quốc gia thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Mỹ và Trung Hoa Quốc Gia. VNCH là thành viên của nhiều tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc và cũng đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế.
Chiếu theo tám tiêu chuẩn được công pháp quốc tế công nhận trên đây, Việt Nam Cộng Hoà đương nhiên là một một quốc gia độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Do đó, khi cộng sản Miền Bắc xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà bằng vũ lực trong tháng 4/1975, chúng đã phạm Tội Ác Xâm Lược. Cuộc xâm lược này là một tội ác có tính quốc tế (international crime) với sự yểm trợ và tiếp vận của khối Đệ Tam Quốc Tế nằm trong chủ chương bành trướng của chủ nghĩa công sản ra khắp thế giới. Điều này xoá bỏ luận điệu cho rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc nội chiến mà có người đã so sánh một cách ngớ ngẩn với cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ. Thực chất, đây là một cuộc xâm lăng của khối cộng sản quốc tế được uỷ nhiệm cho bọn bán nước, tay sai, Việt gian cộng sản.
II – Tội Ác Chiến Tranh
Khi xâm lăng VNCH, cộng sản Bắc Việt đã phạm rất nhiều tôi ác chiến tranh được dự liệu tai Điều 8 của Đạo Luật Rome. Sau đây chỉ liệt kê tượng trưng năm tội ác của chúng:
1 – Tội Ác Giết Người Có Chủ Tâm (Wilful killing)
a) Trong một bài nghiên cứu với tựa đề “Đàn Áp tại Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Hành Hình và Phối Trí Dân Cư” “Repression in the Socialist Republic of Vietnam: Execution and Population Relocation” được phổ biến năm 1990, tác giả Jacqueline Desbarats đã xử dụng những nguồn tin chính thức của CSVN và phỏng vấn hơn 800 người Việt Nam tỵ nạn tại Pháp và Hoa Kỳ trong bốn năm để lấy tài liệu viết bài nghiên cứu này và ước tính rằng đã có ít nhất là 100,000 công dân của VNCH đã bị hành quyết tức khắc một cách phi pháp. “Extrajudicial, or summary, execution.” Tác giả đã nghiên cứu kỹ các hồ sơ và tìm thấy bằng chứng rằng cộng sản đã có một chương trình giết người có chủ tâm sau tháng 4/1975.
Sau tháng 4/1975, các uỷ ban quân quản và các toà án nhân dân được dựng lên trong khắp các thành phố tại Miền Nam VN để thi hành chương trình giết người phi pháp mà cộng sản đã hoạch định từ trước. Hai phần ba trong số 100.000 nạn nhân đã bị giết trong hai năm 1975 và 1976, số còn lại bi giết trong 8 năm tiếp theo. Những nạn nhân bị giết là những nhân viên của chính quyền VNCH gồm: các tỉnh trưởng, các quận trưởng, các thị trưởng, các thành phần cao cấp trong quân đội, các nhân viên cảnh sát, các nhân viên hành chánh và các thành phần tình báo. Những nạn nhân cũng gồm một số các nhà tư sản mại bản, một số các nhà lãnh đạo cộng đồng và tôn giáo, một số người Hoà Hảo, một số người tìm cách vượt biên và một số lớn những người tìm cách trốn khỏi các trại tù “cải tạo”. Cộng sản đã đưa ra lý lẽ mơ hồ như chống đối nhà nước để kết tội và hành quyết ngay tức khắc. Ngay cả những người từ chối ghi danh đi “cải tạo” cũng bị kết tội và bị hành quyết. Con số 100.000 nạn nhân này nhiều gấp 5 lần số tù binh người Ba Lan bị hành quyết tập thể tai khu rừng Katyn trong tháng 3/1940 theo lệnh của Stalin.
Những vụ giết người có chủ tâm này đã được tính toán từ trước và không có một bảo đảm tối thiểu của một tiến trình luật pháp nào cả. Đây là một tội ác chiến tranh.
b) Trong tết Mậu Thân năm 1968, cộng sản đã tấn công và chiếm giữ được cố đô Huế trong 25 ngày. Ngay khi chiếm được thành phố, chúng cho bọn nằm vùng đi lùng sục từng nhà, tìm giết những người mà chúng có tên trong sổ đen. Tiếp sau đó, chúng lập những cái gọi là chính quyền cách mạng; chúng ra lệnh cho dân chúng đến trình diện; chúng giam giữ; sau đó chúng mang đi giết và thủ tiêu. Chúng lập những cái gọi là toà án nhân dân để kết án tử hình những người mà chúng cho là “chống đối cách mạng”; sau đó chúng cũng giết và thủ tiêu. Sau hết, trên đường tháo chạy khỏi Huế, chúng bắt một số người đi theo; chúng giết và thủ tiêu những người này. Sau này, dân chúng và chính quyền đã tìm được 22 hố chôn tập thể. Những nơi có nhiều hố chôn tập thể được biết đến nhiều nhất là trường tiểu học Gia Hội, Cồn Thông, Phú Thứ, Bãi Dâu, Khe Đá Mài… Tại Khe Đá Mài, vào tháng 9/1969, đã tìm thấy hơn 400 bộ hài cốt chỉ còn sọ và xương; da và thịt đã bị rã nát và bị nước cuốn trôi đi mất. Thân nhân các nạn nhân đã nhận diện được là nhờ những thẻ căn cước bọc nhựa, các giây chuyền và kỷ vật mang theo.
Tất cả các nạn nhân tìm thấy trong các hố chôn tập thể đều bị trói giật cánh khuỷu bằng dây điện thoại hay dây kẽm gai. Có nhiều nạn nhân chết trong tư thế đứng hay ngồi; điều đó chứng tỏ rằng họ đã bị chôn sống. Tại Huế, có hơn 4.000 gia đình có thân nhân bị giết hoặc mất tích. Con số hơn 6.000 nạn nhân đã bị cộng sản thảm sát và thủ tiêu trong tết Mậu Thân năm 1968 là con số ước tính có xác xuất cao. Đây là những vụ giết người có chủ tâm và là tội ác chiến tranh.
2 – Tội Ác Tấn Công Có Chủ Tâm Vào Dân Chúng hoặc Những Cá Nhân Không Tham Gia Vào Cuộc Chiến
a) Trong cuộc hành quân triệt thoái khỏi cao nguyên trung phần vào tháng 3/1975 của Quân Đoàn II QLVNCH trên Tỉnh Lộ 7B, đã có khoảng 200.000 thường dân di tản theo quân đội. Cộng quân đã pháo kích và bắn trực xạ vào đoàn người chạy loạn. Chúng đuổi theo, tấn công liên tiếp một cách man rợ vào đoàn người này trong chín ngày đêm suốt theo chiều dài của Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku tới Tuy Hoà. Chỉ có khoảng 40.000 người dân đã thoát được tầm đạn sát hại của chúng. Chúng đã giết 160.000 đồng bào vô tội gồm người già, đàn bà và trẻ nhỏ. Những xác chết này không ai chôn cất, nằm phơi sương nắng ngoài trời, làm mồi cho chim chóc và muông thú. Số nạn nhân này nhiều gấp hai lần số nạn nhân của quả bom nguyên tử thả xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản ngày 6-8-1945.
b) Trên QL1 giữa Quảng Trị và Huế có một đoạn đường được đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng” vì những tội ác kính hoàng mà cộng quân đã gây cho người dân Quảng Trị. Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, người dân Quảng Trị chạy giặc cộng sản trên đoạn đường này đã bị cộng quân pháo kích như mưa bằng súng cối 61 ly và B40. Trên một đoạn đường dài 9km, nhầy nhụa máu, đầy những xác chết không toàn thây. Khi đi tìm kiếm và lượm xác, người ta đã thấy thi hài một cháu nhỏ đang ngậm vú thi hài người mẹ. Tuy không có con số thống kê chính xác, nhưng số nạn nhân được ước tính cũng phải trên mười ngàn người gồm người già, đàn bà và trẻ em. Đây là tội ác tấn công có chủ tâm vào dân chúng và là một tội ác chiến tranh.
3 – Tội Ác Pháo Kích Vào Các Thành Phố, Thị Xã…Để Giết Dân
Trong cuộc chiến xâm lăng VNCH kéo dài 20 năm, Việt Cộng đã pháo kích hàng ngàn lần vào các thành phố, thị xã, quận lỵ…để giết dân lành. Điển hình nhất là cuộc pháo kích của Việt Cộng vào trường tiểu học Cai Lậy. Buổi sáng ngày 9-3-1973, khi hàng trăm học sinh của trường tiểu học tại thị trấn Cai Lậy đang xếp hàng để vào lớp học thì Việt cộng pháo kích vào sân trường bằng súng cối 82 ly. Trận pháo kích man rợ này đã giết chết 34 cháu và làm bị thương cho 70 cháu. Cuộc pháo kích giết các cháu nhỏ một cách dã man này đã gây kinh hoàng và phẫn nộ cho toàn dân Miền Nam. Đây là một tội ác chiến tranh.
4 – Tội Ác Phá Hoại Những Di Tích Lịch Sử
Sau ngày 30-4-1975, quân xâm lăng cộng sản đã phá huỷ những di tích lịch sử của VNCH. Chúng đập phá và san thành bình địa nhiều nghĩa trang được xây dựng đã hàng trăm năm. Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi tại Saigòn, nơi chôn cất nhiều danh nhân và nhân vật lịch sử của Miền Nam Việt Nam, đã bị cộng sản san thành bình địa và xây trên đó một công viên mang tên Lê Văn Tám, một cái tên do tên cán bộ tuyên truyền Trần Huy Liệu phịa ra để tuyên truyền bịp bợm, lừa gạt lịch sử.
Với thú tính hận thù giai cấp, cộng sản đã phá huỷ hơn 50 nghĩa trang Quân Đội VNCH trong toàn Miền Nam Việt Nam. Chúng đào bới, lấy hài cốt mang đi thủ tiêu và san thành bình địa tất cả các nghĩa trang này.
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là Nghĩa Trang Quốc Gia của VNCH, nơi chôn cất 16.000 anh hùng tử sĩ QLVNCH, cũng bị cộng sản chủ tâm triệt hạ. Nghĩa Trang Quốc Gia này là một tập thể kiến trúc nhất quán – đậm vẻ văn hoá truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam – từ cổng tam quan đến đền tử sĩ và nghĩa dũng đài cùng với cảnh quan tổng thể. Cộng quân đã không phá huỷ và san thành bình địa Nghĩa Trang này mà chúng tìm cách phá hoại tinh vi hơn. Chúng giật sập và mang đi thủ tiêu Bức Tượng Thương Tiếc, một bức tượng đã đi vào huyền thoại của lịch sử. Chúng không cho thân nhân thăm viếng, tảo mộ. Chúng chủ tâm để cho Nghĩa Trang bị hoang phế. Chúng đập phá các mộ bia, san bằng các ngôi mộ. Chúng đập phá Nghĩa Dũng Đài. Chúng để cho Nghĩa Trang bị lấn chiếm mất hơn một nửa diện tích. Và sau hết, để biến Nghĩa Trang Quốc Gia này thành một nghĩa địa dân sự và cải danh thành nghĩa địa Bình An, ngày 27-11-2006, tên thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định cho nguỵ quyền tỉnh Bình Dương: “Chỉ đạo việc quản lý nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của chính phủ.”
Phá huỷ và triệt hạ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, một Nghĩa Trang Quốc Gia, một di sản lịch sử, không chỉ là tội ác chiến tranh mà còn là tội phá hoại văn vật.
5- Tội Cướp Bóc (Pillaging)
Khi xâm lăng VNCH, cộng sản đã hành sử như một lũ thổ phỉ đi ăn cướp.
a) Chúng cướp 16 tấn vàng trong ngân khố quốc gia của VNCH. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chuyên chở số vàng ăn cướp này ra ngoài Bắc và dấm dúi chia nhau như quân cướp chia của ăn cướp
b) Chúng cướp tất cả các kho tàng dự trữ của VNCH và chuyên chở ngày đêm về Miền Bắc bằng đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không trong nhiều tháng trời.
c) Chúng ăn cướp nhà của ba triệu người vượt biên và chia cho nhau.
d) Chúng cưỡng bức 1.5 triệu người dân thành thị đi lưu đày tại những “vùng kinh tế mới” để cướp nhà và chia cho nhau.
e) Chúng bắt người dân phải hiến nhà cho chúng trước khi xuất cảnh.
f) Chúng hạ thấp trị giá đồng tiền của VNCH và tổ chức đổi tiền hai lần để cướp tiền của dân. Mỗi lần đổi tiền, chúng chỉ trả lại cho người dân một số ít để chi tiêu trong một thời gian ngắn và chúng cướp sạch số còn lại.
g) Chúng cướp tiền của dân chúng ký thác tại các ngân hàng
h) Chúng tổ chức đánh tư sản mại bản để cướp tài sản, cướp cửa hàng và kho hàng của thương gia.
i) Chúng cướp các nhà máy, các xí nghiệp của tư nhân để thành lập các hợp tác xã của chúng
j) Chúng ăn cướp bất động sản của các tôn giáo.
k) Chúng dùng luật lệ rừng rú của chúng để cướp tất cả thổ cư và nhà của dân.
l) Chúng cướp ruộng của nông dân qua thủ đoạn “hợp tác hoá nông nghiệp.”
m) Chúng cướp đất tha ma, đất nghĩa địa
Tóm lại, bọn cộng phỉ đã cướp trắng tài sản quốc gia của VNCH và của cải của toàn dân Miền Nam Việt Nam đã chắt chiu, dành dụm hàng bao nhiêu đời. Toàn dân Miền Nam đã bị bần cùng hoá. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chia nhau của ăn cướp và chúng đã trở thành những tên tư bản đỏ hàng trăm triệu dollars. Những bức hình chụp những đồ vật trang trí trong “dinh thự” tại Hà Nội của tên đầu sỏ cộng sản Lê Khả Phiêu – mới đưọc đưa lên hệ thống internet toàn cầu – toàn là những thứ đi ăn cướp của Miền Nam. Đây là một tội ác chiến tranh
III – Tội Ác Diệt Chủng
Điều 6 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa Tội Ác Diệt Chủng là những hành động có chủ tâm tiêu diệt toàn phần hay một phần, một nhóm dân tộc, sắc tộc, bộ tộc hay tôn giáo. Những hành động đó gồm: (a) Giết các thành phần của nhóm; (b) Gây thương tích trầm trọng về thể chất và tinh thần cho các thành phần của nhóm; (c) Chủ tâm gây tác hại đến điều kiện sống với âm mưu tiêu diệt toàn thể hay một phần của nhóm.
Theo định nghĩa trên đây thì vụ “Cải Cách Ruộng Đất” tại Miền Bắc là tội ác diệt chủng của Hồ chí Minh nhằm tiêu diệt bốn thành phần – trí, phú, địa, hào – trong xã hội Miền Bắc. Đầu năm 1950, từ khu rừng núi Bắc Việt, Hồ Chí Minh đã bí mật đi Liên Xô để cầu viện. Tại đây, Hồ Chí Minh đã gặp Stalin và Mao Trạch Đông. Stalin đã ra lệnh cho Hồ phải “Cải Cách Ruộng Đất.” Sau khi trở về Bắc Việt, Hồ đã tự tay viết hai báo cáo bằng Nga ngữ về kế hoạch “Cải Cách Ruông Đất” gửi Stalin để xin chỉ thị.
Năm 1953 là năm bắt đầu kế hoạch “Cải Cách Ruộng Đất.” Từng đoàn cố vấn Tầu và các đội cải cách – đã được Tầu huấn luyện – đằng đằng sát khí, mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu đổ về các vùng quê để “phóng tay phát động quần chúng” thực hiện kế hoạch giết người. Theo lệnh của cố vấn Tầu, người bị Hồ Chí Minh cho bắn chết đầu tiên trong đợt thí điểm là Bà Nguyễn Thị Năm tức Bà Cát Thanh Long, một người yêu nước, chủ một đồn điền ở tỉnh Thái Nguyên và là ân nhân của cộng sản. Bà Năm đã từng giúp đỡ tiền bạc, nuôi dưỡng, che giấu những tên đầu sỏ cộng sản như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, Hoàng Quốc Việt… khi chúng còn sống chui nhủi trong rừng. Trong cuộc đấu tố Bà Nguyễn Thị Năm, những nông dân bị chỉ định ra đấu tố Bà Năm không một người nào kết tội người đàn bà phúc hậu và cũng là ân nhân của họ về những tội mà cộng sản bịa đặt cho Bà. Nhưng cuối cùng, theo lệnh của cố vấn Tầu, cộng sản vẫn bày trò gian sảo để bắn chết người đàn bà ân nhân của chúng.
Cuộc đấu tố dã man này mà cộng sản gọi là “Cuộc Cách Mạng Long Trời Lở Đất” kéo dài từ năm 1953 tới năm 1956 đã giết và bức hại 5% – chỉ tiêu do Mao Trạch Đông đặt ra – của 14 triệu nông dân Miền Bắc tức 700.000 người, trong số này có hơn 200,000 người bị chúng xử tử, số còn lại bị chúng đưa đi tù vô thời hạn. Những nạn nhân này là những nông dân chân chỉ đã quanh năm suốt tháng cúi mặt xuống những cánh đồng ngập nước, đổi từng bát mồ hôi lấy những hạt gạo để nuôi cả dân tộc. Khắp nông thôn Miền Bắc ảm đạm, thê lương, trắng xoá khăn tang, đẫm máu và nước mắt trong cơn say máu hận thù giai cấp của Hồ Chí Minh và đồng đảng.
Giết giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong.
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng.
Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt.
Tố Hữu
Trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất”, ngoài tội ác diệt chủng, Hồ Chí Minh còn phạm một tội đại hình theo luật pháp quốc gia: Tội phản quốc, Việt gian. Đi nhận lệnh ngoại bang về giết đồng bào.
IV- Tội Ác chống Nhân Loại
Điều 7 của Đạo Luật Rome đã liệt kê và định nghĩa 11 tội ác chống nhân loại. Trong gần một thế kỷ nay, cộng sản đã phạm ít nhất là 7 trong số 11 tội ác nói trên như sau:
1-Tội Ác Lưu Đầy hoặc Cưỡng Bức Di Dân
“Deportation or Forcible transfer of Population”
Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa Tội Ác Lưu Đầy hoặc Cưỡng Bức
Di Dân như sau: “Cưỡng bức người ta ra khỏi nơi cư trú hợp pháp bằng cách trục xuất hay bằng những biện pháp bạo lực bất kể đến luật pháp quốc tế.”
Theo định nghĩa trên đây thì cộng sản đã phạm tội ác chống nhân loại khi chúng cưỡng bức người dân Miền Nam đi những “khu kinh tế mới.” Những thành phần mà cộng sản cưỡng bức đi vùng kinh tế mới gồm: 1) Những người không có việc làm và có khó khăn về kinh tế; 2) Những người có việc làm nhưng tạm thời có khó khăn và không có gì bảo đảm trong tương lai; 3) Gia đình các quân nhân và công chức VNCH có thân nhân đã và đang bị cải tạo; 4) Những người có phương tiện sản xuất và trang cụ.
Để thực hiện kế hoạch tội ác này, cộng sản vừa phủ dụ vừa cưỡng bức. Cộng sản khoe khoang rằng trong năm đầu tiên chúng đã đưa được nửa triệu người Saigon đi các vùng kinh tế mới và 80% trong số này là ra đi tình nguyện; như vậy có nghĩa là 100.000 người Saigon đã bị cộng sản cưỡng bức đi lưu đày tại các vùng kinh tế mới. Người dân Miền Nam đã âm thầm chống lại kế hoạch lưu đày này và cộng sản đã đe doạ sẽ bỏ tù hoặc đưa đi “cải tạo” những người chống đối. Người dân Miền Nam vẫn tiếp tục kiên trì chống đối và cộng sản cũng gia tăng cưỡng bức bằng cách tống xuất khỏi thành phố và tịch biên tài sản. Tuy nhiên, trước sự chống đối âm thầm nhưng cương quyết của người dân Miền Nam, cuối cùng thì cộng sản đã phải chấm dứt tội ác đưa người dân Miền Nam đi lưu đày tại những “khu kinh tế mới” sớm hơn theo kế hoặch dự trù của chúng.
Một trong những âm mưu thâm hiểm của cộng sản khi cưỡng bức người dân Saigon đi vùng kinh tế mới là để cướp nhà và đưa gần một triệu người của chúng từ Miền Bắc cùng với cái thứ văn hóa rừng rú xã hội chủ nghĩa vào phá hoại nền văn hoá nhân văn, nhân bản truyền thống của Hòn Ngọc Viễn Đông. Cuối cùng thì cộng sản đã đưa được ít nhất là 1.5 triệu người Miền Nam đi lưu đày tại những khu “kinh tế mới.”
2-Tội Giết Người (Murder)
Sau đây chỉ liệt kê một số ít những trường hợp giết người của cộng sản được biết đến nhiều nhất.
* Trong quãng thời gian từ 1945 đến 1954, cộng sản đã giết khoảng 50.000 đảng viên của các đảng phái quốc gia, trong đó có một số người được biết đến nhiều như: Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Đào Chu Khải, Trương Tử Anh, Lý Đông A và nhà văn Khái Hưng.
* Hai nhân vật quan trọng thuộc nhóm Bảo Hoàng là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi (cùng với con trai là Ngô Đình Huân) bị giết ngày 6-9-1945.
* Ba nhân vật nổi tiếng của Nhóm Đệ Tứ gồm Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch bị bắt ngày 10-8 1945 và bị mang đi chôn sống tại Bình Thuận. Tạ Thu Thâu bị giết tháng 9-1945 tại Quảng Ngãi.
* Các nhân sĩ và lãnh tụ chính trị của Miền Nam gồm: Ông Bùi Quang Chiêu cùng với bốn người con trai bị bắt tại Chợ Đệm ngày 29-9-1945, bị đem đi giết và bị thủ tiêu mất xác; Ông Hồ Văn Ngà bị bắt trong đêm khuya, bị đâm chết và bị thả trôi sông thuộc vùng Kim Quy, Đá Bạc, Rạch Giá; Ông Hồ Vĩnh Ký bị giết tại Dĩ An, Biên Hoà; Ông Huỳnh Văn Phương bị giết tại Tân An, Long An; Ông Phan Văn Chánh bị giết tại Sông Mao, Bình Thuận…
* Theo nguồn tin của Cao Đài Giáo cho biết thì chỉ trong ba tuần lễ kể từ ngày 19-8-1945, tại Quảng Ngãi, cộng sản đã giết 2791 tín đồ Cao Đài gồm đủ thành phần kể cả đàn bà và trẻ nhỏ. Số tín đồ Cao Đài bị giết trong toàn Miền Nam trong năm 1945 là khoảng 10.000 người.
* Đêm 16-4-1947, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị cộng sản phục bắt tại Đốc Vàng Hạ; từ đó đến nay không có tin tức gì về Ngài. Theo thống kê của phật giáo Hoà Hảo thì cộng sản đã giết và chôn tập thể khoảng 10.000 tín đồ Hoà Hảo
* Đêm 11-2-1957, Cô Nông Thị Xuân – người bị bắt làm nô lệ tình dục cho Hồ Chí Minh trong hơn hai năm – bị giết bằng búa đập vào đầu tại Phủ Chủ Tịch của Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Xác bị thủ tiêu. Hồ Chí Minh là chánh phạm vụ này và tên bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn là tòng phạm. Cô Nông Thị Xuân đã bị ép buộc mang thai (forced pregnancy) và đẻ ra một đứa con trai được Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Tất Trung, hiện đang sống tại Hà Nội.
3 – Tội Hiếp Dâm và Ép Buộc Mang Thai
“Rape and Forced Pregnancy”
Theo Hiệp Định Geneve 1954, quân cộng sản phải rút về phía bắc vĩ tuyến 17. Trước khi rút khỏi những vùng do chúng kiểm soát tại Miền Nam, cộng sản đã tổ chức cho cán binh, cán bộ của chúng hiếp dâm tập thể – dưới hình thức hôn nhân giả mạo – tất cả những người con gái độc thân cho tới khi mang thai trước khi chúng ra đi. Khi đến tiếp thu những vùng này, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam đã thấy có rất nhiều phụ nữ có con sơ sinh hoặc có thai nhưng không có chồng. Đây là tội ác chống nhân loại man rợ của quân cộng sản vô nhân tính.
4 – Tội Ác Bắt Làm Nô Lệ
(Enslavement)
Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa tội ác bắt làm nô lệ như sau: Bắt làm nô lệ có nghĩa là xử dụng quyền lực để tước đoạt quyền tư hữu của một người gồm cả việc xử dụng quyền lực để buôn người, đặc biệt là đối với đàn bà và trẻ em. Căn cứ vào định nghĩa trên, cộng sản đã phạm các tội ác chống nhân loại sau đây:
– Xuất cảng hàng trăm ngàn lao động để kiếm lời là một hình thức buôn người
– Tổ chức hàng chục ngàn cuộc hôn nhân trá hình để đưa đàn bà Việt Nam đi làm nô lệ tình dục cho đàn ông nước ngoài để kiếm lời là tội buôn người.
– Bán hàng ngàn trẻ em và thiếu nữ vào các động điếm tại Cam Bốt và các nước trong vùng Đông Nam Á để kiếm lời là tội buôn người.
– Bắt hàng triệu người tù trong các trại “cải tạo” sản xuất hàng hoá để bán ra ngoài thị trường là phạm tội tước đoạt quyền tư hữu của con người, bởi vì những sản phẩm này do người tù sản xuất ra là thuộc quyền sở hữu của họ nhưng đã bị cộng sản tước đoạt và đem bán. Những người tù này đã bị đối xử như những nô lệ lao động thời trung cổ.
5 – Tội Giam Người hoặc Tước Đoạt Tự Do Thân Thể Một Cách Nghiêm Trọng, Vi Phạm Những Quy Luật Căn Bản của Luật Pháp Quốc Tế “Imprisonment or severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law”
Theo các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm đã được phổ biến tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì sau khi chiếm được Miền Nam Việt Nam, Cộng sản đã đưa 1.000.000 quân dân cán chính của VNCH vào tù trong ít nhất 150 trại “cải tạo” trong rừng núi từ Nam ra Bắc. Có nhiều người đã bị giam cầm tới 17 năm và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đa số thời gian bị giam giữ là từ ba tới 10 năm. Nếu lấy con số trung bình là bẩy năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu người là bẩy triệu nằm. Tội ác này vượt xa tội ác một nghìn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm của bọn giặc Tây cộng lại. Đây là một sự giam cầm phi pháp, không qua một thủ tục pháp lý nào cả, (Imprisonment without formal charges or trial).
6 – Tội Thủ Tiêu Mất Tích Người “Enforced Disappearance of persons”
Cũng theo tài liệu nghiên cứu nói trên, trong thời gian giam cầm phi pháp 1.000.000 quân dân cán chính VNCH trong ít nhất là 150 trại “cải tạo”, cộng sản là thủ phạm đã gây ra những cái chết bằng tra tấn, hành hạ, bỏ đói, bắt làm khổ sai quá sức, xử bắn… cho ít nhất là 165,000 người. Cộng sản không thông báo tin tức cho gia đình người chết; giấu kín nơi chôn cất suốt 34 năm nay; không cho thân nhân bốc mộ, mang hài cốt về quê quán. Đây là tội thủ tiêu mất tích người và là tội ác chống nhân loại. Ngoài ra, đây còn là môt hành vi độc ác (inhuman act), phi nhân tính với chủ tâm gây đau khổ tinh thần triền miên suốt đời cho thân nhân các người chết; đây cũng là một tội ác chống nhân loại. Một trăm sáu mươi lăm ngàn quân dân cán chính VNCH đã chết dưới đòn thù của cộng sản trong các “trại cải tạo” phải được tôn vinh là những người đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia dân tộc
7 – Tội Đàn Áp chống Lại Một Nhóm hay Một Tập Thể có Tính Danh về … Tôn Giáo … “Persecution against identifiable group or collectivity on…religious…”
Điều 7 của Đạo Luật Rome đã định nghĩa hành động đàn áp (persecution) như sau: “đàn áp là sự tước đoạt có chủ tâm và thô bạo những quyền căn bản trái với luật pháp quốc tế.”
Căn cứ vào định nghĩa trên đây thì việc nguỵ quyền cộng sản đã và đang đàn áp một cách quy mô và có hệ thống các tôn giáo tại Việt Nam là một tội ác chống loài người. Tội ác này đã và đang được cộng đồng thế giới đặc biêt quan tâm. Trên các trang nhà của các tổ chức như: Human Rights Watch, The United States Commission on International Religious Freedom, The Committee for Religious Freedom in Vietnam… đều theo rõi và phổ biến tin tức về những vụ đàn áp tôn giáo thường xuyên tại Việt Nam.
Năm 2004, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đưa nguỵ quyền cộng sản vào danh sách “Những Nước Đặc Biệt Quan Tâm” “Countries of Particular Concern – CPC” vì lý do Đàn Áp Tôn Giáo. Nhưng năm 2006, Tổng Thống George W, Bush – vì những quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ – đã rút nguỵ quyền cộng sản ra khỏi danh sách CPC. Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, hàng năm Uỷ Ban Quốc Tế về Tự Do Tôn Giáo của Hoa Kỳ (The U.S. Commission on International Religious Freedom) cũng yêu cầu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa Việt cộng trở lại danh sách CPC.
Ngoài những tội ác thuộc bốn nhóm tội ác có tính quốc tế được dư liệu tại Đạo Luật Rome trên đây, Việt cộng còn là thủ phạm của những siêu tội ác vượt ra ngoài sự tưởng tượng của con người. Sau đây là hai trường hợp điển hình.
1) Một cách bán chính thức, cộng sản thu vàng của dân để tổ chức những cuộc vượt biên. Khi thuyền vượt biên ra đến hải phận quốc tế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo, bắn chìm thuyền và giết hết những người đã nộp tiền cho chúng. Đây là một tội ác cướp của giết người có chủ tâm, có dự mưu của những băng đảng sống ngoài vòng pháp luật. Tên công an Nguyễn Tấn Dũng là một trong những thủ phạm của những vụ cướp của, giết người dã man này.
2) Sự quyết tâm trả thù một cách phi pháp (extrajudicial retribution) của Việt Cộng đối với đồng bào Miền Nam đã xô đẩy trên ba triệu người Miền Nam phải rời bỏ quê cha đất tổ, lao ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, gây ra những cái chết thảm cho hơn 700.000 thuyền nhân trên Biển Đông và hàng chục ngàn bộ nhân chết trong rừng. Thảm hoạ chưa từng có trong lịch sử loài người này đã gây bàng hoàng và đánh thức lương tri nhân loại từng ngày trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước. Thế giới đã nhìn rõ bộ mặt phi nhân của cộng sản và đã mở rộng vòng tay nhân ái để cứu hàng triệu người Việt Nam chạy trốn cộng sản. Bọn tội phạm CS đang tìm cách xoá bỏ tội ác này bằng cách áp lực chính phủ Nam Dương xoá bỏ di tích trại tỵ nạn Galang, một di tích lịch sử, nơi tạm trú của hơn 200.000 thuyền nhân trước khi được đi định cư tại một nước thứ ba. Đây là chứng tích lịch sử của siêu tội ác của cộng sản đối với đồng bào của chúng mà ngày nay chúng gọi là khúc ruột ngàn dặm và kêu gọi hoà hợp hoà giải với chúng. Lịch sử sẽ không tha tội cho chúng.
Trúc trên rừng cũng không ghi hết 80 năm tội ác của Hồ Chí Minh và đồng đảng đối với dân tộc Việt Nam. Phần trình bày sơ lược một số tội ác của cộng sản trên đây là để chỉ đích danh từng tội ác của chúng trong bốn nhóm tội ác nghiêm trọng đươc cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm và được dự liệu tại Đạo Luật Rome. Sau này, khi một toà án thụ lý và xét xử những tên chánh phạm CS, phòng công tố của toà án sẽ điều tra đầy đủ những tội ác của chúng.
Tội ác của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam không chỉ là những tội ác hình sự mà còn là những tội ác lịch sử. Các sử gia Việt Nam có nhiệm vụ truy cứu và thẩm định những tội ác lịch sử của chúng. Đây là một nhiệm vụ quan trọng để làm sáng tỏ những sự thật lịch sử đã bị những thủ đoạn tuyên truyền gian manh của cộng sản xuyên tạc và bóp méo trong 80 năm nay. Về phương diện pháp lý, những thủ phạm phải bị mang ra xét xử tại một toà án đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế về công lý bởi vì những tội ác của cộng sản là những tội ác mang tính quốc tế.
Để Hoà Giải Dân Tộc:
Phải Mang Bọn Tội Phạm Việt Cộng Ra Trước Công Lý
Mang bọn tội phạm Việt Cộng ra xét xử trước ánh sáng công lý là điều cần thiết bới vì công lý là một thành tố không thể thiếu trong tiến trình hoà giải và đoàn kết dân tộc. Đây chính là điều mà Cộng Hoà Nam Phi và Căm Bốt đã và đang làm sau khi đã xoá bỏ được chế độ phân biệt chủng tộc tai Nam Phi và chế độ diệt chủng Khờ Me Đỏ tại Căm Bốt. Công lý cũng cần thiết để xoá bỏ chu kỳ bạo lực, sự thù hận và sự trả thù vô luật pháp. Ngoài ra, công lý còn cần thiết trong việc tái lập những quan hệ hoà bình và bình thường giữa những người đã phải sồng dưới chế độ khủng bố của Việt Cộng. Và sau hết công lý còn cần thiết để trả lại danh dư cho những nạn nhân còn sống sót và gia đình của những nạn nhân đã chết. Tóm lại, để hoà giải dân tộc, phải mang kẻ phạm tội ra trước công lý và mang công lý tới nạn nhân.
Lần đầu tiên trên thế giới đã có một toà án hình sự có tính quốc tế đang xét xử bọn tội phạm cộng sản. Đó là Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt có tên Anh ngữ là “Extraordinary Chambers in The Courts of Cambodia” đang xét xử bọn tội phạm cộng sản Khờ Me Đỏ tại Nam Vang.
Dân tôc Căm Bốt đã bị phân hoá và chia rẽ vì những di sản độc hại và những tội ác có tính quốc tế mà bè lũ cộng sản Khờ Me Đỏ đã phạm trong những năm chúng thống trị đất nước Căm Bốt. Để hoà giải và đoàn kết dân tộc, năm 1997, chính phủ Cam Bốt đã yêu cầu Liên Hiệp Quốc trợ giúp thành lập một toà án để xét xử các lãnh tụ Khờ Me Đỏ. Năm 2001, Quốc Hội Cam Bốt đã thông qua một đạo luật thành lập một toà án để xét xử những tội ác nghiêm trọng mà Khờ Me Đỏ đã phạm trong thời gian từ 1975 tới 1979. Chính phủ Cam Bốt nhấn mạnh rằng vì lợi ích hoà giải của dân tộc Cam Bốt, toà án phải được mở ra trên lãnh thổ Cam Bốt. Và để đáp ứng được những tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế, chính phủ Cam Bốt sẽ mời các thẩm phán và công tố viên ngoại quốc để cùng làm việc với các thẩm phán và công tố viên người Cam Bốt. Tháng 6-2003, Liên Hiệp Quốc và Cam Bốt đã đạt được thoả thuận cuối cùng về cách thức mà cộng đồng quốc tế sẽ trợ giúp và tham dự vào Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt.
Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt được thành lập bởi Chính Phủ Cam Bốt và Liên Hiệp Quốc, nhưng toà án này hoàn toàn độc lập và hoạt động theo những tiêu chuẩn quốc tế. Ngày 31-7-2007, các đồng thẩm phán điều tra (the co-investigating judges) đã ban hành lệnh bắt giữ đầu tiên và năm thủ phạm đã bị bắt giam gồm những tên sau đây.
*Kaing Guek Eav, Alias Duch, cựu trưởng trại tù S-21, bị kết tội ác chống nhân loại.
*Nuon Chea, cựu chủ tịch quốc hội, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.
* Ieng Sary, cựu bộ trưởng ngoại giao, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.
* Ieng Thirith, cựu bộ trưởng xã hội, bị kết tội ác chống nhân loại.
* Khiêu Samphan, cựu thủ tướng, bị kết tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh.
Phiên toà đầu tiên xử thủ phạm Kaing Guek Eav, Alias Duch đã mở ra ngày 17-2-2009 và vẫn còn đang tiếp diễn. Thủ phạm tiếp theo sẽ bị mang ra xử là Nuon chea.
Tám mươi năm tội ác của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam đã hiển nhiên, không thể chối cãi. Ít nhất là một triệu nạn nhân đã bị giết dưới tay Hồ Chí Minh và đồng đảng như đã được ghi nhận tại Đài Tưởng Niệm Một Trăm Triệu Nạn Nhân Của Chủ Nghĩa Cộng Sản tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ. Con số một triệu nạn nhân này là con số ước tính của người ngoại quốc còn thiếu sót rất xa so với con số ước tính của người Việt Nam ít nhất là năm triệu nạn nhân.
Sau khi chế độ CS bị thanh toán, ngoài công việc rất khó khăn và lâu dài là phải tháo gỡ và tẩy sạch những di sản độc hại của chế độc cộng sản đã di căn vào mọi ngõ ngách trong đời sống tại xã hội Việt Nam hôm nay, việc thành lập một toà án hình sự có tính quốc tế – như Toà Án Đặc Biệt Cam Bốt – trên lãnh thổ Việt Nam để xét xử bọn chánh phạm cộng sản là điều tiên quyết trong tiến trình hoà giải dân tộc. Đó là con đường công chính duy nhất đưa đến hoà giải để thống nhất ý chí và tư tưởng của dân tộc đã bị phân hoá và chia rẽ bởi những di sản độc hại của chế độ cộng sản và để tái xây dựng một Quốc Gia Việt Nam văn minh, dân chủ, pháp trị và đoàn kết để phát triển đất nước và chống lại những âm mưu bành trướng ngàn đời từ phương Bắc.
Sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác, chế độ phi nhân Việt Cộng sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát. Khi đó, một Đài Tưởng Niệm phải được dựng lên trên đất nước để tưởng niệm năm triệu nạn nhân của cộng sản. Ngoài ra, còn phải xây một Viện Bảo Tàng Tội Ác của Cộng Sản để làm bài học lịch sử cho các thế hệ tương lai. Trong khi chờ đợi, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản lớn nhất trên thế giới tại Hoa Kỳ nên góp công sức để xây – tại một khu Little Saigon – một Đài Tưởng Niệm Năm Triệu Nạn Nhân của Cộng Sản. Đây là một trách nhiệm lịch của Việt quốc gia.
Sau hết, cần phải chính danh một cái danh xưng đã bị lộng giả thành chân từ nhiều năm nay: Những người cộng sản già thường được đồng đảng của họ tung hô là “những nhà Kách mạng não thành”. Đây là một nguỵ danh để che giấu cái bản chất thực của chúng. Chính danh tức bản chất thực của chúng là những tên Việt gian già, tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế, những tên tội phạm quốc tế đã đi gây tội ác khắp ba nước Đông Dương dưới cái chiêu bài đi làm “nhiệm vụ quốc tế.” Chúng chính là thủ phạm đã gây tội ác phân hoá và chia rẽ dân tộc suốt 80 năm nay. Những người cộng sản đã cướp và duy trì chính quyền bằng bạo lực cách mạng vô sản – tức bằng khủng bố – tại Việt Nam hôm nay không có tư cách gì để đứng ra kêu gọi hoà hợp hoà giải dân tộc. Chỗ đứng – sớm hay muộn – của các người là trước vành móng ngựa như chỗ đứng của bọn tội phạm cộng sản Khờ Me Đỏ hiện nay. Những người chủ trương hoà hợp hoà giải với cộng sản trong bất cứ điều kiện nào cũng là những kẻ đồng loã với những tội ác của chúng.
Đỗ Ngọc Uyển
(Khóa 4 Thủ Đức/Binh Chủng TT)
Tháng 8 năm 2009
San Jose, California
Tài liệu tham khảo:
– The Rome Statute of the ICC
– Repression in the Socialist Republic of Vietnam
– international law, international courts and tribunals
– defining an independent country
– Resolution 1096 and Resolution 1481 of the Council of Europe Parliamentary
http://opinionjournal.com/bes t/?id=110010372, The Wall Street Journal, From The WSJ Opinion Archives By James Taranto
http://ongvove.wordpress.com/ 2009/04/22/triet-thoai-cao-ngu yen-cuoc-hanh-quan-pha-san san /-
http://www.rfa.org/ Vietnames e/in_depth/city_of_Hue_25_dead ly_days_40_years_ago_TGiao-200 80131.html
– Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp của Minh Võ
– Hồ sơ đen Cộng Sản Việt Nam (le dossier noir du communisme) do Nguyên Văn chuyển ngữ
– Katyn Massacre

Các tài liệu dưới là của Việt cộng, tôi trích ra dưới đây để chứng minh cho tên cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa thấy là "Quân Đội Nhân Dân" là công cụ của đảng cộng sản Việt Nam, do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Bọn "Quân Đội Nhân Dân" có nhiệm vụ bảo vệ đảng cộng sản và bảo vệ Chủ Nghĩa Xã Hội, chứ không hề bảo vệ dân tộc, đất nước.

Trích:

http://hoinguoidibien.vn/chuye n-dong-24h/dang-lanh-dao-nhan- to-quyet-dinh-thang-loi-su-tru ong-thanh-cua-qdnd-3017.aspx

Đảng lãnh đạo – Nhân tố quyết định thắng lợi, sự trưởng thành của QĐND

16:34 2014/12/19 – Nguồn: Chinhphu.vn
(UVS). Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944-22/12/2014), trên Cổng TTĐT Chính phủ có giới thiệu bài viết tựa đề: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi và sự trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam” của Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương. VSU xin giới thiệu với bạn đọc Hội Người đi biển Việt Nam.

Trong suốt 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND) luôn thể hiện rõ sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; đoàn kết, gắn bó, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là kết quả tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định từ rất sớm và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Đó là sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ… bằng một cơ chế, phương thức chặt chẽ, phù hợp. Trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên (năm 1930), Đảng chỉ rõ phải nhanh chóng "Tổ chức ra quân đội công nông". Trong Nghị quyết Đội tự vệ (năm 1935), Đảng xác định : "Luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực", "Các đội trưởng và đảng đại biểu phải hợp tác mà chỉ huy". Trong lãnh đạo xây dựng, phát triển lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Đảng xác định phải làm cho các đội du kích đi đúng "con đường chính trị" của Đảng… Đầu năm 1944, trước yêu cầu thành lập đội quân chủ lực quốc gia, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp : "Tổ chức của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo". Thi hành đúng Chỉ thị của Bác Hồ, chi bộ Đảng của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, lãnh đạo đội thực hiện các nhiệm vụ một cách tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt.

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân đội ta có sự phát triển nhanh về lực lượng. Để giữ vững sự lãnh đạo, Đảng tiếp tục nghiên cứu xác lập, triển khai cơ chế lãnh đạo quân đội: Thành lập Trung ương Quân uỷ (tháng 01-1946); thành lập các cấp uỷ từ quân khu đến chi uỷ; đặt chế độ hai thủ trưởng (quân sự, chính trị) để chỉ huy đơn vị từ cấp khu đến trung đội; lập chế độ chính trị uỷ viên đại diện Đảng phụ trách trong quân đội (tháng 10/1948). Từ thực tiễn tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong kháng chiến, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) đã ban hành Nghị quyết 07 ngày 20/5/1952, về thực hiện chế độ tập thể Đảng uỷ lãnh đạo toàn diện, thủ trưởng chính trị phân công thực hiện theo chức trách, nhằm thực hiện sự lãnh đạo tập thể, thống nhất của Đảng về mọi mặt công tác.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cơ chế trên tiếp tục được thực hiện; nhờ đó, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội luôn được giữ vững, tăng cường và phát huy được sức mạnh chiến đấu "càng đánh, càng mạnh, càng thắng lợi". Các đơn vị trong toàn quân đều nhận thức đầy đủ và chấp hành nghiêm, thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy được sức mạnh lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng phát huy cao độ trí tuệ, sự sáng tạo của thủ trưởng qu thủ trưởng quân sự, thủ trưởng chính trị phân công thực hiện theo chức trách, nhằm thực hiện sự lãnh đạo tập thể, thống nhất của Đảng về mọi mặt công tác. ………..(ngưng trích)

http://tapchiqptd.vn/vi/van-de -chung/day-manh-xay-dung-quan- doi-nhan-dan-cach-mang-chinh-q uy-tinh-nhue-tung-buoc-hien-da i/8781.htm
Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Trên cơ sở đánh giá khách quan, khoa học tình hình thế giới, khu vực và xuất phát từ yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng…”. Đây là quan điểm cơ bản của Đảng ta về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đòi hỏi toàn quân phải quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao.

lich09483758.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gắn Huân chương Sao Vàng lên lá cờ truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

Thực hiện phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã có nhiều đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp để xây dựng Quân đội. Nổi bật là, chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng được nâng cao. Bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân được giữ vững và tăng cường, đảm bảo cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tổ chức lực lượng Quân đội theo hướng: tinh, gọn, mạnh, có sức cơ động cao; bảo đảm cân đối giữa các quân chủng, binh chủng, giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên; tổ chức một số lực lượng mới, điều chỉnh thế bố trí lực lượng phù hợp trên các vùng, miền, nhất là các khu vực trọng điểm về quốc phòng – an ninh, vùng biên giới, biển, đảo……………...(ngưng trích)

Trích:

ĐỪNG bấm Link này vì khi bấm vào Link thì tự động Download xuống máy 24 trang thì mới coi được (không cần thiết lắm, tùy ý quý vị.) Tuy nhiên ông Phạm Bá Hoa hay "phe" của ông ta thì cũng nên bấm vào Link để đọc toàn bộ 24 trang tài liệu này để nắm vững về Quân Đội Nhân Dân thuộc về đảng cộng sản, chứ không như ông nghĩ là chúng chỉ là "lính" thuần túy, một sự hiểu biết quá nông cạn, lố lịch, ngu xuẩn của một chức vụ đại tá VNCH như ông Phạm Bá Hoa.

http://mt.gov.vn/Dang/tin-tuc/ 1122/46740/quy-dinh-cua-bch-tr ung-uong-ve-to-chuc-dang-trong -quan-doi-nhan-dan-viet-nam-.a spx

Quy định của BCH Trung ương về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt

photo css2_zpss4im8fsd.jpg
………………………… ………………………… ….

http://www.qdnd.vn/quoc-phong- an-ninh/tin-tuc/lanh-dao-dang- nha-nuoc-quan-doi-va-cac-co-qu an-don-vi-dia-phuong-chuc-mung -bao-quan-doi-nhan-dan-nhan-ng ay-bao-chi-cach-mang-viet-nam- 510509

logo.png

21/06/2017 19:41
print

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và các cơ quan, đơn vị, địa phương chúc mừng Báo Quân đội nhân dân nhân Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam

QĐND Online – Nhân dịp kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 / 21-6-2017), trong những ngày qua, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội; đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương; các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội đã đến thăm và chúc mừng Báo Quân đội nhân dân.

Theo đó, sáng 15-6, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm và chúc mừng Báo Quân đội nhân dân (QĐND). Cùng đi với đồng chí Bộ trưởng có Thiếu tướng Lê Hiền Vân, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT) Quân đội nhân dân Việt Nam; đại diện các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng và TCCT.

Đại tướng Ngô Xuân Lịch tặng hoa chúc mừng Báo QĐND nhân kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà

Chiều 16-6, đồng chí Hoàng Trung Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã đến thăm, chúc mừng Báo QĐND. Cùng đi với đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội có đại diện lãnh đạo Hội đồng nhân dân thành phố và Ban Tuyên giáo Thành ủy.

Đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội tặng hoa chúc mừng Báo QĐND nhân kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà

Cũng nhân dịp này, các đồng chí: Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Văn Nên, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh văn phòng Trung ương Đảng; Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; Mai Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, cùng nhiều đồng chí lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội đã gửi lẵng hoa chúc mừng Báo QĐND nhân ngày 21-6. Cùng với đó, đã có gần 200 đoàn của các địa phương, cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội đã đến chúc mừng Báo QĐND.
Nhân kỷ niệm 92 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội; đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và các cơ quan, đơn vị đã gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến toàn thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên, công nhân viên, chiến sĩ và người lao động Báo QĐND; đồng thời mong muốn Báo QĐND tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của tờ báo chiến sĩ – tờ báo vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và Anh hùng Lao động, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, Quân đội, nhân dân và đông đảo bạn đọc.
Trân trọng gửi tới bạn đọc một số hình ảnh đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương; các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội tới chúc mừng Báo QĐND nhân dịp Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam:


Đoàn đại biểu Bộ Công an.

https://vi.wikipedia.org/wiki/ Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh% C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_N am

Quân đội Nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”.[5] Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái. Ngoài việc bảo vệ tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Danh xưng

Tên gọi "Quân đội Nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Một tên khác được nhân dân yêu mến đặt cho là "bộ đội cụ Hồ". Trong báo chí Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là QĐND hoặc QĐNDVN. Việc lấy tên là "Quân đội nhân dân" với mục đích thể hiện và giữ vững bản chất giai cấp cùng yếu tố dân tộc của quân đội, một yếu tố trọng yếu của quân đội, đây là đội quân có nguồn gốc nhân dân, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thống nhất và bản sắc dân tộc.[7] Tên gọi qua các thời kỳː[8]

  • Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tháng 12 năm 1944)
  • Việt Nam Giải phóng quân (tháng 5 năm 1945)
  • Vệ quốc đoàn (tháng 11 năm 1945)
  • Quân đội Quốc gia Việt Nam (tháng 5 năm 1946)
  • Quân đội nhân dân Việt Nam (Từ năm 1950)

Nhiệm vụ

Quân đội nhân dân Việt Nam có 03 nhiệm vụ, bao gồm: chiến đấu, công tác phục vụ nhân dânsản xuất để hoàn thành mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị của Tổ quốc, bảo vệ bản sắc dân tộc.

Chiến đấu

Đây là nhiệm vụ then chốt của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Quân đội được tổ chức có hai thành phần:

  • Quân đội thường trực làm nòng cốt cùng lực lượng rộng rãi quần chúng vũ trang
  • Ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.[10]

Hướng tổ chức là tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài phù hợp, thường xuyên thực hành huấn luyện, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vững vàng bản chất chính trị, nắm chắc tình hình đất nước, khu vực và quốc tế để có các biện pháp tác chiến phù hợp, đẩy mạnh hợp tác quốc tế.[9]

Công tác phục vụ nhân dân

Trong công tác, Quân đội nhân dân luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững chắc và tin cậy của chính quyền với nhân dân. Quân đội còn có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của chính quyền, phản bác lại các luận điểm bóp méo, bôi nhọ, không đúng sự thật. Bên cạnh đó, quân đội là một trong các lực lượng nòng cốt trong công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của nhân dân.[10] Công tác tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân luôn được quân đội coi trọng. Giải quyết hậu quả chiến tranh bao gồm rà, phá bom mìn, tẩy độc môi trường và các chính sách hậu chiến là một trong các trụ cột trong công tác quân đội. Tại những khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quân đội chịu cả trách nhiệm phổ cập giáo dục và chăm sóc y tế với người dân.[9] Để hoàn thành nhiệm vụ công tác phục vụ nhân dân, quân đội có các phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Hành trình Quân đội chung tay vì sức khỏe cộng đồng”, “Mái ấm cho người nghèo biên giới, hải đảo”, “Trái tim cho em”; khám, chữa bệnh miễn phí; thăm, tặng quà các đối tượng chính sách, người nghèo…

http://dantri.com.vn/xa-hoi/ba c-ho-voi-quan-doi-nhan-dan-vie t-nam-qua-nhung-buc-anh-135684 0803.htm

Bác Hồ với Quân đội nhân dân Việt Nam qua những bức ảnh

Chia sẻ

Dân trí Từ đội tuyên truyền giải phóng quân đến những cuộc trường chinh vĩ đại giải phóng dân tộc đều mang đậm dấu ấn của vị Cha già dân tộc – người luôn dõi theo từng bước phát triển của lực lượng vũ trang chính quy – Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tinh Cao Bằng) với 34 chiến sĩ. Đây được coi là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam – lực lượng vũ trang “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ”.
Trong 68 năm hình thành và phát triển, Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sinh thời, Bác Hồ đã dành những tình cảm yêu mến đối với những người “đầu sóng ngọn gió”, ngày đêm chịu đựng gian khổ và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Dù bận nhiều công việc, Người vẫn dành thời gian chăm sóc và giáo dục, rèn luyện các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các chiến dịch lớn, Bác luôn dành thời gian đi thăm, động viên các đơn vị bộ đội. Và sau mỗi chiến dịch, mỗi thắng – bại của cuộc trường chinh vĩ đại, Người luôn kịp thời động viên, biểu dương các cá nhân, đơn vị lập công xuất sắc và phê bình những việc của tốt của cán bộ, chiến sĩ.
Ngay cả khi trước lúc đi xa, người để lại di chúc căn dặn Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân ta phải làm tốt chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã hi sinh một phần xương máu cho sự nghiệp cứu nước.
Sự quan tâm của Bác đối với lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bình dị nhưng chứa chan tình cảm của vị Cha già dân tộc. Và cũng vinh dự và tự hào thay, lực lượng chính quy, tinh nhuệ này đã được gọi với cái tên hết sức thân mật – Bộ đội cụ Hồ.
Bác Hồ với Quân đội nhân dân Việt Nam qua những bức ảnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước họp bàn quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ

Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc
Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc
Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 16 tại Đền Hùng (Phú Thọ): "các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"

Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ đơn vị 600 tại Na Đỏong, Trung Sơn, Yên Sơn năm 1953
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ đơn vị 600 tại Na Đỏong, Trung Sơn, Yên Sơn năm 1953

với cán bộ chiến sĩ quân đoàn 1146
với cán bộ chiến sĩ quân đoàn 1146

Bác Hồ quan sát trận địa ở chiến dịch Biên giới 1950
Bác Hồ quan sát trận địa ở chiến dịch Biên giới 1950

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ pháo phòng không năm 1950
Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ pháo phòng không năm 1950

Với cán bộ, chiến sĩ quân khu 4 năm 1957
Với cán bộ, chiến sĩ quân khu 4 năm 1957

Với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938
Với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938

Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ bộ đội tỉnh Cao Bằng
Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ bộ đội tỉnh Cao Bằng

Thăm một đơn vị Hải quân năm 1954
Thăm một đơn vị Hải quân năm 1954

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957

Thăm bộ đội Hải quân bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Ninh năm 1957
Thăm bộ đội Hải quân bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Ninh năm 1957

Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng bộ đội giải phóng miền Nam ngày 20/12/1962
Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng bộ đội giải phóng miền Nam ngày 20/12/1962
Tặng Huy hiệu cho các chiến sĩ lập công xuất sắc
Tặng Huy hiệu cho các chiến sĩ lập công xuất sắc
Giản dị đến tham dự triển lãm công binh
Giản dị đến tham dự triển lãm công binh
Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957
Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957
Thăm đơn vị đảm bảo kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không - Không quân vào Tết Đinh Mùi
Thăm đơn vị đảm bảo kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không – Không quân vào Tết Đinh Mùi
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 768 - lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 768 – lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966
Bác đến thăm một cán bộ phòng không tại xã Phú Cường, Sóc Sơn, Hà Nội tháng 12/1967
Bác đến thăm một cán bộ phòng không tại xã Phú Cường, Sóc Sơn, Hà Nội tháng 12/1967
Tặng quà Tết và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng năm 1967
Tặng quà Tết và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng năm 1967
Nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ kỹ thuật xưởng máy bay A3 ngày 25/9/1966
Nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ kỹ thuật xưởng máy bay A3 ngày 25/9/1966
Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 209

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 209
Bác Hồ ăn cơm cùng bộ đội Hải quân
Bác Hồ ăn cơm cùng bộ đội Hải quân
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

http://www.bqllang.gov.vn/tin- tuc/tin-tong-hop/4124-chu-tich -ho-chi-minh-voi-quan-doi-nhan -dan-viet-nam-anh-hung-phan-10 .html

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng (Phần 10)

Được đăng ngày Thứ năm, 27 Tháng 8 2015 06:54
CT HCM VOI QDND phan 10 anh
Người đến thăm các chiến sĩ của Lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội (1966).

Thư gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm 15 nǎm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1959)
Các đồng chí,
Hôm nay quân đội ta vừa đúng 15 tuổi. Nhân dịp này, tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ gửi các đồng chí lời chào mừng thân ái nhất.
Mười lǎm nǎm qua, quân đội ta đã vượt mọi khó khǎn, làm tròn nhiệm vụ và đã lập được nhiều thành tích vẻ vang. Trong kháng chiến, quân đội ta đã chiến đấu anh dũng, đánh thắng quân xâm lược. Trong hoà bình, quân đội ta đã ra sức học tập, công tác, sản xuất, giúp đỡ nhân dân, bảo vệ đất nước. Như thế là rất tốt. Tôi vui lòng khen ngợi các đồng chí.
Hiện nay miền Bắc chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách thắng lợi. Nhưng nước ta còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Ở miền Nam đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đang ra sức đàn áp, khủng bố đồng bào, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, tǎng cường binh bị, chuẩn bị gây chiến tranh mới. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu hung ác của kẻ thù.
Tất cả cán bộ và chiến sĩ của các lực lượng vũ trang nhân dân đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa.
– Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và vǎn hoá, ra sức công tác và lao động tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.
– Phải trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết, khiêm tốn, hết lòng vì Đảng, vì dân.
– Phải nâng cao chí khí chiến đấu, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình.
Hôm nay chúng ta vui vẻ kỷ niệm 15 nǎm thành lập lực lượng vũ trang nhân dân, tôi chúc các đồng chí tiếp tục hǎng hái thi đua, lập nhiều thành tích mới, để chào mừng một cách xứng đáng ngày 30 nǎm thành lập Đảng yêu quý của chúng ta.
Chào thân ái
Ngày 22 tháng 12 nǎm 1959
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân Dân, số 3783, ngày 8-8-1964.
Bài nói trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi (22-12-1964)
Thưa các đồng chí,
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ thân ái khen ngợi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân vũ trang và dân quân, tự vệ trong cả nước đã lập được nhiều thành tích và có nhiều tiến bộ trong chiến đấu, học tập, công tác và sản xuất.
Tôi vui mừng hoan nghênh đồng chí Đại tướng Kim Tsang Bông và các đồng chí trong Đoàn đại biểu quân sự nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên anh em, chúc cuộc đi thǎm hữu nghị của các đồng chí thành công tốt đẹp.
Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng.
Mới ra đời, với gậy tầy, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công. Lên mười tuổi thì cùng toàn dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ giúp sức.
Quân đội ta anh dũng trong kháng chiến mà cũng anh dũng trong hoà bình. Đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, đập tan mọi hành động khiêu khích, phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai. Đã giáng trả lại đế quốc Mỹ những đòn đích đáng như ngày 5 tháng 8 nǎm 1964 vừa qua.
Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển vǎn hoá, làm tròn trách nhiệm của một quân đội cách mạng.
Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khǎn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau.
Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả, luôn luôn đoàn kết với nhân dân và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa anh em, với nhân dân các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục.
Cán bộ và chiến sĩ phải luôn luôn khiêm tốn, luôn luôn cố gắng hơn nữa. Phải phát huy bản chất và truyền thống cách mạng. Phải học tập tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân miền Nam anh dũng trong cuộc kháng chiến cứu nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.
Kẻ địch còn nhiều âm mưu thâm độc. Toàn dân và toàn quân ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, hǎng hái thi đua yêu nước với tinh thần "mỗi người làm việc bằng hai" để xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm cơ sở vững mạnh cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Thắng lợi nhất định sẽ về ta

ĐỪNG bấm Link này vì khi bấm vào Link thì tự động Download xuống máy 24 trang thì mới coi được (không cần thiết lắm, tùy ý quý vị.) Tuy nhiên ông Phạm Bá Hoa hay "phe" của ông ta thì cũng nên bấm vào Link để đọc toàn bộ 24 trang tài liệu này để nắm vững về Quân Đội Nhân Dân thuộc về đảng cộng sản, chứ không như ông nghĩ là chúng chỉ là "lính" thuần túy, một sự hiểu biết quá nông cạn, lố lịch, ngu xuẩn của một chức vụ đại tá VNCH như ông Phạm Bá Hoa.

http://mt.gov.vn/Dang/tin-tuc/ 1122/46740/quy-dinh-cua-bch-tr ung-uong-ve-to-chuc-dang-trong -quan-doi-nhan-dan-viet-nam-.a spx

Quy định của BCH Trung ương về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt

photo css2_zpss4im8fsd.jpg
photo ccs3_zps6mnnlydg.jpg

photo css3_zpse8wj0ck6.jpg

photo css4_zpsczbv7nqe.jpg

photo css5_zpszwbhit07.jpg

………………………… ………………………… ………..
photo css6_zpsq7jvkrf1.jpg

http://www.hvct.edu.vn/chuong- vi-to-chuc-dang-trong-quan-doi -nhan-dan-viet-nam-va-cong-an- nhan-dan-viet-nam.aspx?tabid=4 98&a=813&pid=1

Điều lệ Đảng

Chương VI: Tổ chức Đảng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và Công an Nhân dân Việt Nam

Điều 25:

1. Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; xây dựng Quân đội và Công an trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tham gia xây dựng đất nước.
2. Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam hoạt động theo Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước .
3. Các ban của cấp ủy đảng theo chức năng giúp cấp ủy hướng dẫn, kiểm tra công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam .
Điều 26:
1. Đảng ủy Quân sự Trung ương (gọi tắt là Quân ủy Trung ương) do Bộ Chính trị chỉ định, gồm một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong quân đội và một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác ngoài Quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị .
2. Quân ủy Trung ương nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; lãnh đạo mọi mặt trong Quân đội.
3. Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương. ở mỗi cấp có cơ quan chính trị và cán bộ chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng cùng cấp và sự chỉ đạo của cơ quan chính trị cấp trên.
Điều 27:
1. Cấp ủy đảng trong bộ đội chủ lực và bộ đội biên phòng ở cấp nào do Đại hội cấp đó bầu, lãnh đạo các đơn vị thuộc cấp mình về mọi mặt; trường hợp đặc biệt do cấp ủy cấp trên chỉ định.
2. Đảng ủy quân khu gồm các đồng chí công tác trong đảng bộ quân khu do đại hội cùng cấp bầu và các đồng chí bí thư tỉnh, thành ủy trên địa bàn quân khu được chỉ định tham gia; lãnh đạo thực hiện nghị quyết của cấp trên, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; phối hợp với cấp ủy địa phương thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trong quân khu.
3. Tổ chức đảng quân sự địa phương cấp đó về mọi mặt, đồng thời chấp hành nghị quyết của đảng ủy quân sự cấp trên về nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và công tác quân sự địa phương. Cơ quan chính trị cấp trên phối hợp với cấp ủy địa phương chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong lực lượng vũ trang địa phương.
4. Đảng ủy quân sự tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã gồm các đồng chí công tác trong đảng bộ quân sự địa phương do đại hội cùng cấp bầu, đồng chí bí thư cấp ủy địa phương và một số đồng chí ngoài đảng bộ quân sự địa phương được chỉ định tham gia theo quy định của Bộ Chính trị.
Điều 28:
1. Đảng ủy Công an Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định gồm một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong Công an nhân dân và một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác ngoài Công an nhân dân, một số đồng chí công tác thuộc Đảng bộ Công an Trung ương, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị . Đảng ủy Công an Trung ương nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, chính sách, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; lãnh đạo mọi mặt công tác trong công an.
2. Cấp ủy công an cấp nào do đại hội cấp đó bầu, trường hợp thật cần thiết do cấp ủy cấp trên chỉ định. Cấp ủy lãnh đạo các đơn vị thuộc cấp mình về mọi mặt.
3. Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong các đơn vị thuộc đảng bộ công an hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Công an Trung ương; phối hợp với cấp ủy địa phương chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong lực lượng công an địa phương.
4. Cơ quan xây dựng lực lượng công an mỗi cấp đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, công tác quần chúng trong đảng bộ, hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng cùng cấp và sự chỉ đạo của cơ quan xây dựng lực lượng cấp trên.
Điều 29:
1. Tổ chức đảng công an nhân dân địa phương cấp nào đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy đó, đồng thời chấp hành nghị quyết của đảng ủy công an cấp trên về giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; lãnh đạo xây dựng lực lượng công an nhân dân ở địa phương và xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh.
2. Đảng ủy công an tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã do đại hội cùng cấp bầu và đồng chí ủy viên thường vụ cấp tỉnh, thành, huyện, quận, thị ủy được chỉ định tham gia……… (Bấm vào Link trên đọc trọn bài)

http://nguyentandung.org/dang- lanh-dao-nhan-to-quyet-dinh-th ang-loi-su-truong-thanh-cua-qd nd.html

Đảng lãnh đạo – Nhân tố quyết định thắng lợi, sự trưởng thành của QĐND

Thứ năm, 18/12/2014, 18:12 (GMT+7)

(Chính trị) – Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944-22/12/2014), Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết có tựa đề: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi và sự trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam” của Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương.

Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương

Trong suốt 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND) luôn thể hiện rõ sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; đoàn kết, gắn bó, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là kết quả tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định.

Trong suốt 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND) luôn thể hiện rõ sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; đoàn kết, gắn bó, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo, cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định từ rất sớm và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Đó là sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ… bằng một cơ chế, phương thức chặt chẽ, phù hợp. Trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên (năm 1930), Đảng chỉ rõ phải nhanh chóng “Tổ chức ra quân đội công nông”. Trong Nghị quyết Đội tự vệ (năm 1935), Đảng xác định : “Luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực”, “Các đội trưởng và đảng đại biểu phải hợp tác mà chỉ huy”. Trong lãnh đạo xây dựng, phát triển lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, Đảng xác định phải làm cho các đội du kích đi đúng “con đường chính trị” của Đảng… Đầu năm 1944, trước yêu cầu thành lập đội quân chủ lực quốc gia, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp : “Tổ chức của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo”. Thi hành đúng Chỉ thị của Bác Hồ, chi bộ Đảng của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, lãnh đạo đội thực hiện các nhiệm vụ một cách tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt……
………..(Bấm Link trên đọc trọn bài)

http://www.tapchicongsan.org.v n/Home/Binh-luan/2016/42527/Xa y-dung-Quan-doi-nhan-dan-Viet- Nam-cach-mang-vung-manh.aspx

BÌNH LUẬN

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, vững mạnh về chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
15/12/2016 21:55′Gửi bài nàyIn bài này
quandoi15-12.jpgQuân ủy Trung ương quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (Ảnh: mod.gov.vn)
TCCS – Vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới vào thực tiễn Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vấn đề xây dựng bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam là tất yếu khách quan và phải được tiến hành thường xuyên.

Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhờ vậy, cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là cơ sở, nền tảng để Quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nhiệm vụ quốc tế.
Trong những năm tới, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất cao. Vì vậy, để Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, càng phải quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội cách mạng, vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước”(1).
Nhận thức rõ tính tất yếu khách quan, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của vấn đề xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, vững mạnh về chính trị, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, vững mạnh về chính trị trong tình hình mới: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”(2).

Quan điểm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng là sự kế thừa và phát triển quan điểm xây dựng Quân đội cách mạng trong quá trình xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam trong hơn 70 năm qua, đồng thời, dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới; xuất phát từ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng; từ bản chất, truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; từ sự kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng quân đội cách mạng của các nước xã hội chủ nghĩa và từ thực tiễn xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được thể hiện ở nhiều nội dung, trong đó quan trọng nhất là luôn bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hệ tư tưởng Mác – Lê-nin luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của Quân đội; xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng trong Quân đội thực sự vững mạnh. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng không chỉ bảo đảm cho Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mà còn làm cơ sở xây dựng các đơn vị vững mạnh toàn diện, nhằm nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng phải trải qua quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện lâu dài của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị – xã hội, của nhân dân các dân tộc Việt Nam và trực tiếp là thông qua hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; hoạt động thực tiễn thực hiện chức năng của “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất” của cán bộ, chiến sĩ và các tổ chức trong Quân đội.
Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng là quá trình nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cơ bản, quyết định sự hình thành và phát triển bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo đảm cho Quân đội luôn luôn vững mạnh về chính trị, biểu hiện ở việc: Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân; các mối quan hệ trong nội bộ Quân đội, nhất là quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ; mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi sâu sắc. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định rõ mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(3).

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Quân đội phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch; tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn…

http://thanhnienduongsat.vn/ne ws/huong-dan-dieu-le-doan-khoa -x/phan-thu-5-to-chuc-doan-tro ng-qdnd-va-cand-viet-nam-1063. html

Phần thứ 5: Tổ chức Đoàn trong QĐND và CAND Việt Nam

Đăng lúc: Thứ tư – 09/07/2014 08:16

PHẦN THỨ NĂM
TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

A- TỔ CHỨC ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

I – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

1- Tổ chức Đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Tổ chức và hoạt động của Đoàn trong quân đội thực hiện theo Điều lệ Đoàn, nghị quyết của Đại hội Đoàn toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, quy định của Bộ Quốc phòng, chỉ thị của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và sự hướng dẫn của Ban công tác Thanh niên Quân đội. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong quân đội chỉ tổ chức ở đơn vị cơ sở: cấp trung đoàn, lữ đoàn và tương đương trở xuống đến các đại đội, trung đội và tương đương.

2- Công tác thanh niên trong quân đội do Quân ủy Trung ương lãnh đạo; sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Tổng cục Chính trị và hướng dẫn của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; ở mỗi cấp đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chỉ đạo, quản lý điều hành của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị cùng cấp; sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chính trị cấp trên và của cơ quan chính trị cùng cấp.

3- Để giúp cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên cơ quan chính trị lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác thanh niên, từ cấp trung đoàn (lữ đoàn) và tương đương trở lên đến toàn quân có trợ lý thanh niên và Ban Công tác thanh niên do chủ nhiệm chính trị cùng cấp trực tiếp chỉ đạo.
Ban công tác thanh niên (trợ lý thanh niên) có hai chức năng chủ yếu: Nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chủ trương, biện pháp và kế hoạch công tác thanh niên; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động công tác đoàn và phong trào thanh niên các đơn vị trực thuộc.

II- TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐOÀN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

1- Về tổ chức:

– Tổ chức Đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ tổ chức ở đơn vị cơ sở: được thành lập ở trung đoàn, lữ đoàn và tương đương; ở tiểu đoàn, đại đội độc lập và tương đương; ở các hệ, tiểu đoàn quản lý học viên, đại đội hoặc các phòng, khoa, ban và đơn vị tương đương ở các học viện, nhà trường; các phòng, cục ở các cơ quan; các kho, trạm độc lập; các bệnh viện, xí nghiệp, nhà máy quốc phòng, các công ty sản xuất kinh doanh trong quân đội.

– Tổ chức Đoàn thuộc bộ chỉ huy quân sự, bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc, cơ chế tổ chức Đoàn trong quân đội; chịu sự phối hợp quản lý, hướng dẫn của tổ chức Đoàn trong quân đội và tổ chức Đoàn địa phương về đoàn số, đoàn phí; phát huy vai trò của cán bộ, đoàn viên thanh niên xung kích, sáng tạo góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng quân sự ở địa phương, có quyền bầu cử, ứng cử vào các cấp bộ đoàn địa phương.,…………………. ..(bấm Link trên đọc trọn bài)

Bấm Link đọc
http://vnuf.edu.vn/en/tin-tuc- su-kien/tin-tuc-chung?p_p_id=1 01&p_p_lifecycle=0&p_p_state=n ormal&p_p_mode=view&p_p_col_id =column-1&p_p_col_count=1&_101 _struts_action=%2Fasset_publis her%2Fview_content&_101_assetE ntryId=1712333&_101_type=conte nt&_101_urlTitle=ky-niem-72-na m-ngay-thanh-lap-quan-%C4%91oi -nhan-dan-viet-nam-22-12-1944- 22-12-2016-va-27-nam-ngay-hoi- quoc-phong-toan-dan-22-12-1989 -22-12-2016-

Kỷ niệm 72 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2016) và 27 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2016)

21 tháng 12, 2016

image004.jpg?t=1482337363093

http://dangcongsan.vn/thoi-su/ bo-tong-tham-muu-quan-doi-nhan -dan-viet-nam-ky-niem-70-nam-t hanh-lap-320744.html

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BÁO ĐIỆN TỬ
14:55 07/09/2015
print

Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam kỷ niệm 70 năm thành lập

Sáng 7/9, tại Hà Nội, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập (7/9/1945 – 7/9/2015) và đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất – phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước trao tặng.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến dự và phát biểu tại buổi lễ.

Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trần Đại Quang, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an; Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội tham dự buổi lễ.

Cùng dự có Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cùng các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi lẵng hoa chúc mừng.

1%201%20CT%20Tr%C6%B0%C6%A1ng%20T%E1%BA%A5n%20Sang.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: Trọng Đức – TTXVN

Diễn văn kỷ niệm do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trình bày nêu rõ: Cách đây 70 năm, ngày 7/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng Tham mưu cho đồng chí Hoàng Văn Thái. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “…Bộ Tổng Tham mưu là cơ quan tham mưu quân sự cơ mật của Đoàn thể, là cơ quan đầu não của quân đội, có nhiệm vụ: Tổ chức, huấn luyện quân đội cho giỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng; bày mưu kế khôn khéo; tổ cức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng”.

http://vnexpress.net/photo/tho i-su/bo-tong-tham-muu-dau-nao- cua-quan-doi-nhan-dan-viet-nam -3260578.html

VnExpress logo

Thứ sáu, 7/8/2015 | 19:55 GMT+7
|

Bộ Tổng tham mưu – Đầu não của Quân đội nhân dân Việt Nam

Bộ Tổng tham mưu là cơ quan tham mưu quân sự cơ mật của quân đội, có nhiệm vụ tổ chức huấn luyện quân sự, nắm bắt tình hình địch và ta, bày mưu kế đấu tranh với địch…
TCLSQS-so-8-2015-PB-2-copy-5-1438939112_680x0.jpg
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được khai sinh, kẻ thù bao vây bốn phía nhằm hạ bệ chính quyền non trẻ. Để bảo vệ chính quyền cách mạng, cách đây tròn 70 năm, ngày 7/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị thành lập Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.

TCLSQS-so-8-2015-PB-2-copy-4-1438939112_680x0.jpg
"Bộ Tổng tham mưu là cơ quan tham mưu quân sự cơ mật của Đoàn thể, là cơ quan đầu não của quân đội, có nhiệm vụ tổ chức huấn luyện quân sự cho giỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng", Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Hoàng Văn Thái khi giao nhiệm vụ cho ông. Trong ảnh là ngôi nhà số 16 phố Ri-ki-ê, nay là số 18 Nguyễn Du, Hà Nội – trụ sở đầu tiên của cơ quan Bộ Tổng tham mưu.

TCLSQS-so-8-2015-PB-2-copy-3-1438939111_680x0.jpg
Ông Hoàng Văn Thái là người được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong buổi giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ta vừa giành được độc lập, tự do, cả nước đang tích cực xây dựng quân giải phóng và tự vệ để cùng toàn dân giữ gìn độc lập, tự do”, cho nên Chính phủ lâm thời quyết định tổ chức Bộ Tổng tham mưu để “chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước”.

TCLSQS-so-8-2015-PB-2-copy-2-1438939111_680x0.jpg
Bám sát chỉ đạo của Trung ương và căn cứ vào thực tiễn chiến trường, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Cục Tác chiến, Cục Quân huấn tích cực nghiên cứu cách đánh địch để từ đó đề ra nội dung và phương pháp huấn luyện bộ đội phù hợp.
Trong chiến đấu, các lực lượng tham gia phải tuân thủ phương châm “bí mật, bất ngờ, vận động nhanh, bám sát địch, xung phong mạnh, đánh nhanh giải quyết nhanh”. Trong trường hợp tương quan lực lượng không có lợi thì tổ chức rút lui. Khi lui quân phải thu dọn chiến trường nhanh, lợi dụng địa hình, địa vật để thoát khỏi trận địa, tránh pháo địch. Để đánh đường không hiệu quả, Bộ Tổng tham mưu khuyến khích các lực lượng tổ chức đánh khơi ngòi, dụ địch tới và chủ động đánh khi chúng vừa đổ bộ.
Ngoài chỉ đạo làm tốt công tác nắm địch, Bộ Tổng tham mưu còn yêu cầu các đơn vị chú trọng huấn luyện cho bộ đội chiến thuật tập kích, đánh địch đang vận động, đánh địch đổ bộ đường không, đánh xe tăng, xe bọc thép, đánh giáp lá cà, đánh đêm; bắn máy bay bằng súng bộ binh…

TCLSQS-so-8-2015-PB-2-copy-1438939113_680x0.jpg
Từ sở chỉ huy Bộ Tổng tham mưu, những vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh của đất nước đã được bàn thảo, quyết định. Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn đồng hành cùng với Bộ Tổng tham mưu thực hiện nhiệm vụ.
Với những chỉ đạo chiến lược xuất sắc, Bộ Tổng tham mưu đã hoàn thành nhiệm vụ, góp phần đánh đuổi được mọi kẻ thù, trong đó có hai đế quốc hùng mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

TCLSQS-so-8-2015-PB-211-copy-6-1438939742_680x0.jpg
Sau khi cả nước độc lập, thống nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa đế quốc và các thế lực vẫn chống phá. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Bộ Tổng tham mưu là xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực tham gia xây dựng kinh tế và làm nhiệm vụ quốc tế.
Trong ảnh là Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng kiểm tra thực hiện nhiệm vụ quốc phòng kết hợp với kinh tế tại quân chủng Hải quân tháng 12/1976.

TCLSQS-so-8-2015-PB-211-copy-5-1438939114_680x0.jpg
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê cùng cán bộ Bộ Tổng tham mưu hội đàm với Đại tướng G.Vecxi, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ về vấn đề tù binh và người Mỹ mất tích.

TCLSQS-so-8-2015-PB-211-copy-4-1438939114_680x0.jpg
Bộ Tổng tham mưu cũng đã chỉ đạo cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên toàn tuyến biên giới Tây Nam giành thắng lợi. Trong ảnh là ông Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng và đoàn cán bộ Bộ Tổng tham mưu trên đường đến các đơn vị truyền đạt quyết tâm tác chiến chiến lược tại mặt trận biên giới Tây Nam tháng 12/1978.

TCLSQS-so-8-2015-PB-211-copy-3-1438939113_680x0.jpg
Cán bộ Bộ Tổng tham mưu báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về kế hoạch chiến lược bảo vệ Tổ quốc thời kỳ "đất nước vừa có hòa bình vừa có thể xảy ra chiến tranh".
"Trong chiến tranh, Bộ tổng tham mưu để chiến đấu, đấu tranh giải phóng dân tộc, trực tiếp chỉ huy các chiến dịch đi đến thắng lợi. Còn trong thời bình, Bộ tổng tham mưu có nhiệm vụ tham mưu để bảo vệ Tổ quốc, giữ được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước", Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Văn Tuấn cho hay.

Hoàng Thùy
Ảnh: Viện Lịch sử Quân sự

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s