Tháng 4 tan hàng: GIỞ NHỮNG TỜ LỊCH CŨ 1975: CÙNG NGÀY THỨ 52 – 30-4-1975, ngày dài nhất của Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối cùng của VNCH.- Mường Giang(30.4black)


Tháng 4 tan hàng
GIỞ NHỮNG TỜ LỊCH CŨ 1975
CÙNG NGÀY THỨ 52 – 30-4-1975, ngày dài nhất của Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối cùng của VNCH.
Mường Giang
Inline image 2
Chiều ngày 28-4-1975, Sài Gòn bỗng dưng mưa buồn tầm tã. Mưa không lớn lắm nhưng sao đi trong mưa lại có cảm giác lạnh lẽo não nùng. Chắc là vì nước sắp mất vào tay cộng sản Bắc Việt, cho nên đất trời cũng buồn lây, như cảm thông cho số phận của đồng bào Miền Nam trước cơn binh lửa, trong giờ hấp hối. Vì buồn quá, cho nên mọi người lúc đó có mặt tại Sài Gòn, đều khóc và những giọt lệ sầu đời, đã biến thành trận mưa nước mắt.Lúc đó đúng 17 giờ 5 phút, trong phòng khánh tiết của Dinh Độc Lập, đang diễn ra buổi lễ bàn giao chức vụ tổng thống VNCH, giữa Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Đây là lần bàn giao tổng thống lần thứ hai xảy ra chưa đầy 10 ngày, trong chính quyền Nam VN, giữa lúc đất nước đã mất hơn hai phần ba lãnh thổ và nguy ngập nhất là nửa triệu quân Bắc Việt đã ập sát Sài Gòn.

Nhưng như hai chục năm qua, việc chống giặc là phận sự của lính, nên lúc đó, hiện diện trong phòng, gần như có đủ mặt văn võ bá quan cũ mới của Nam Triều, chưa kịp chạy. Theo phóng viên Đài Phát Thanh Sài Gòn, mô tả hôm đó, thấy có ba Phó Thủ Tướng Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Hảo, Dương Kích Ngưỡng, Quốc Vụ Khanh Nguyễn Xuân Phong, thêm Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm và nhiều Nghị Sĩ, Dân Biểu như Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Ân, Trần Cao Để, Mã Xái, Hồ Ngọc Cứ, Đinh Văn Đệ, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu..và cả Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là Trần Văn Tiết. Ngoài ra còn có hơn 100 phóng viên và nhiếp ảnh tham dự, làm cho quang cảnh buổi lễ bàn giao thật sôi nổi. Vậy mà Tân Tổng Thống chỉ mới giữ chức chưa đủ hai ngày, thì đã vội vã đầu hàng giặc, khiến cho đất nước và đồng bào, suốt ba chục năm qua, phải chịu cảnh lầm than nhục hận.

Là người của một giai đoạn lịch sử cận đại, vì Dương Văn Minh chỉ trong vòng 12 năm, đã hai lần chủ chốt trong hai biến cố lịch sử trọng đại của cận sử VN. Ngày 1-11-1963 làm sụp đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam. Ngày 30-4-1975, lợi dụng chức vụ tổng thống, bắt cả nước đầu hàng giặc xâm lăng. Nay ngồi đọc lại lời phát biểu của TT Trần Văn Hương, trong buổi lễ bàn giao hôm đó, mới thấy thương xót tận cùng cho người lính chiến VNCH “Một trang sử mới được mở ra, do Đại Tướng Dương Văn Minh viết. Ông Minh nhậm chức lúc này, không những chỉ vì thiện chí, mà còn là can đảm từ bỏ giải pháp quân sự, vì đã chọn con đường hòa giải, hòa hợp để có hòa bình..”

Đúng lúc lễ bàn giao bắt đầu, thì trên bầu trời, phản tặc Nguyễn Thành Trung, lái và hướng dẫn 5 phản lực A37 của VNCH bỏ lại, oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất, đồng thời đặc công Bắc Việt cũng lội vào bờ, chiếm kho tiếp liệu của USAID bỏ lại, sát chân cầu Sài Gòn.

Nhiều người lúc đó, cho là Đại Tướng Dương Văn Minh bị bệnh tâm thần, nên mới tin tưởng là cộng sản Hà Nội sẽ ngưng bắn, trong khi chúng sắp chiếm được miền Nam. Họ nói lúc người Mỹ còn ở VN, có tiềm năng quân sự to lớn, và lúc nào cũng có thể tiêu diệt Bắc Việt dễ dàng, nếu họ muốn. Thế nhưng trong các lần hội nghị, để tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh bằng con đường hòa bình. Trăm lần như một, người Mỹ đều bị Bắc Việt lừa bịp, tới lần cuối cùng bị TT Nixon ra lệnh oanh tạc và phong tỏa Miền Bắc kinh khiếp chưa từng có. Vậy mà sau khi hết bom rơi, Hà Nội vẫn xạo dù chịu ký vào bản hiệp ước ngưng bắn tại Paris tháng 2-1973, nên mấy trăm ngàn bộ đội, thay vì như Mỹ, phải rút hết về bên kia vỹ tuyến 17, thì lại được ở lại tại chỗ, để tiếp tục xâm lăng Miền Nam.

Trong lúc đó, khi Đại Tướng Dương Văn Minh lên nắm quyền Tổng Thống VNCH vào chiều ngày 28-4-1975, thì đất nước đang ở vào giờ thứ 25 hấp hối. Vậy chúng ta có điều kiện gì để mà bắt cộng sản chịu ngưng bắn, để hòa hợp có hòa bình? Nham nhở nhất, là từ sáng ngày 29-4-1975, đài VC lên tiếng phủ nhận luôn chính phủ Dương Văn Minh mới lên tối hôm qua, đồng thời ra lệnh đánh chiếm Gia Định-Sài Gòn.

Sau này Trần Văn Hương có tiết lộ với tác giả ‘L’Adieu à Sài Gòn’ cũng là sử gia người Pháp Jean Larteguy, rằng sự thật Dương Văn Minh cũng giống như ông, chẳng có liên lạc được ai bên phía Bắc Việt, để mà hòa hợp hòa giải. Còn Đại Tướng Minh cho biết là mình đã tin vào lời của Vũ Văn Mẫu. Rốt cục tất cả đều là những người mù sờ voi, sau đó ảo tưởng đẻ ra kế hoạch vĩ đại đề cứu nước cứu dân, trong khi mặt thật là chẳng nắm được gì hết, ngoài bên cạnh có một đám quân sư xôi thịt xúi bậy làm càn.

Nhân ngày kỷ niệm 17 năm quốc hận vào năm 1992, tờ nguyệt sanh Phụ Nữ Diễn Đàn của người Việt hải ngoại, số đặc biệt, có đăng những bài bút chiến, của Bùi Tín, Bùi Văn Tùng, Nguyễn Trần Thiết, Bùi Biên Thùy,..quanh hai chủ đề: ‘Ai là người đầu tiên vào Dinh Độc Lập?’ và ‘Ai là người có thực quyền lúc đó, nhận sự đầu hàng của TT và Nội Các Dương Văn Minh?’

Mượn lại danh từ của những người cộng sản, trong cuộc đấu võ mồm vô duyên trên, là họ đã biếm xưng lịch sử. Vì thật ra cả bọn chẳng có ai là người đầu tiên bước vào Dinh Độc Lập. Mà từ xa lắc xa lơ, nơi này đã có hằng tá điệp viên cao cấp Bắc Việt như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Thảo, Trần Ngọc Hiển, Lê Đình Ẩn.. bước chân vào.

Riêng việc đầu hàng cộng sản của Dương Văn Minh, thì cũng chẳng có gì là lạ, vì Đại Tướng là Thủ Lãnh của Lực Lượng Thứ Ba, có chủ trương Phản Gian qua lớp võ Hòa Giải, để đầu hàng giặc từ lúc chưa được lên ngôi Tổng Thống vào những ngày cuối tháng 4-1975.

Có khác chăng, là phải đóng kịch đầu hàng như thế nào, để sau này trước tòa án lương tâm và trên trang lịch sử, Tổng Thống Dương Văn Minh, được trắng án và tiếng thơm là người yêu nước, vì đã dám hy sinh ở lại giữa chốn ba quân, trong lúc giặc xâm lăng đã ập sát biên thành.

Vì vậy từ lúc nhận lời đuổi Mỹ, tới khi lên đài ra lệnh cho quân đội buông súng rã ngũ, thời gian từ trưa 29-4-1975 cho tới trưa 30-4-1975, tổng thống không hề chợp mắt. Đây là thời gian dài nhất trong đời làm chính trị của một vị nguyên thủ cuối cùng của VNCH, tuy ngắn ngủi nhưng lại bị tai tiếng nhất trong dòng Việt sử cận đại.

1- Một khoảng thời gian tham chính của Tướng Dương Văn Minh:

Dương Văn Minh sinh năm 1916 tại Long An hoặc Vĩnh Long, Nam Phần. Vốn là bạn thân của Trần Văn Đôn vì cả hai đều học trường tây, nói giỏi tiếng tây và cùng làm quan tây rất sớm, khoảng năm 1940. Ông có một người em ruột tên Dương Thành Nhựt, là sĩ quan cấp Tá của Bắc Việt trước năm 1975, hoạt động trong ngành phản gián tại Miền Nam VN. Ngày 9-3-1945, Pháp bị Nhật đảo chính, nên quan tây Dương Văn Minh lại theo Nhật và được bổ làm Trưởng Ty Mật Thám Vũng Tàu.

Sau tháng 9-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện và rút về xứ Phù Tang. Bởi vậy quan Nhật Dương Văn Minh, bị mật thám tây trả thù, tra tấn đánh tới gãy răng, nhưng ông cứ để vậy, nói là muốn nhớ tới kỷ niệm.

Người đương thời thường gọi ông là Big Minh (Minh bự) hay Minh Sún, để phân biệt với hai tướng Trần Văn Minh (Minh Nhỏ – Tư Lệnh Không Quân) và Nguyễn Văn Minh (Minh Đờn- con nuôi Trần Văn Hương, Tư Lệnh Quân Đoàn III và Biệt Khu Thủ Đô). Theo các nguồn sử liệu trong cũng như ngoài nước, thì suốt thời gian tham chính của ông Dương Văn Minh, từ lúc mới bắt đầu gắn lon Chuẩn Uý (Adjudant) vào năm 1940 tại Trường Võ Bị của Pháp ở Thủ Dầu Một, cho tới khi tự nguyện ra làm Tổng thống cuối cùng của VNCH vào giờ thứ 25, đều là những chuỗi thời gian đầy tai tiếng

A-Đại Tá Dương Văn Minh, Tư Lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu:

Tính đến ngày 5-5-1955, lực lượng phản loạn của Bảy Viễn bị quân đội VNCH gần như đánh tan tại Sài Gòn-Chợ Lớn nhưng vẫn còn một số dư đảng, được quân Pháp che chở, chạy về cố thủ tại các căn cứ của Bình Xuyên, ở Rừng Sát, Long Sơn, Núi Nứa..vốn là miền đất sình lầy trong lưu vực sông Đồng Nai, giữa hai tỉnh Phước Tuy và Gò Công. Do trên, Đại Tá Dương Văn Minh được Tổng thống Ngô Đình Diệm, đề cử làm Tư Lệnh Chiến Dịch Hoàng Diệu, diệt trừ dư đảng Bình Xuyên, khai diễn từ ngày 21-9 tới 24-10-1955. Ngoài ra còn có Trung Tá Nguyễn Khánh làm Tư Lệnh Phó và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hạnh là Tham Mưu Trưởng. Chiến dịch thành công tốt đẹp, đoàn quân chiến thắng khi trở về thủ đô, đã đưa Đại Tá Dương Văn Minh trở thành người hùng của quân đội lúc đó, có nhiều nữ sinh Sài Gòn xinh đẹp vây quanh choàng hoa quanh cổ. Thực tế, lúc đó bộ ba Minh-Khánh-Hạnh và BCH Chiến Dịch đóng tận Rạch Cát-Bà Rịa, để đánh giặc bằng năm ngón tay ban lệnh. Còn công lao đều là xương máu của các đơn vị chiến đấu thuộc Liên Đoàn Bộ Binh Biên Hòa, Bà Rịa, Mỹ Tho, hai Hải Đoàn Xung Phong có Thủy Quân Lục Chiến tùng tháp tuần thám trên sông Lòng Tảo và ba Tiểu Đoàn 1, 5 và 6 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi, Lữ Đoàn Phó Dù chỉ huy.

Nhưng hào quang vừa mới lóe ra chưa được bao lâu, thì tin đồn ba nhân vật Minh, Khánh và Hạnh, đã được Thiếu Tá Ba Nhỏ, rể của Bảy Viễn, dẫn chỉ chỗ chôn giấu những thùy phuy loại 200 lít, đựng đầy vàng y và giấy bạc. Mặc dù nội vụ vẫn còn phủ đầy bí mật từ ấy đến nay, nhưng cũng từ lúc đó, uy tín của Dương Văn Minh đã bị TT Ngô Đình Diệm coi thường, nên không còn tin tưởng như trước nữa. Riêng Nguyễn Hữu Hạnh, theo tài liệu của Nguyễn Chánh Thi, thì sau chiến dịch Hoàng Diệu trở về, Hạnh đã tậu một ngôi biệt thự to lớn xinh đẹp tại đường Hiền Vương Sài Gòn và 100 mẫu vườn chè tại Long Khánh.

Hai ngày cuối cùng của VNCH, thuộc triều đại TT Dương Văn Minh, từ 5 giờ ngày 28-4 tới 11 giờ 30 trưa 30-4-1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh tuy đã hồi hưu từ năm 1974 nhưng được TT Minh phục chức và làm Phụ Tá cho tướng Vĩnh Lộc, Tổng TMT/QLVNCH sau đó là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có.

Trong cuộc đời binh nghiệp, Hạnh rất tầm thường lu mờ nhưng lại là một nhân vật quan trọng không thua kém gì Dương Văn Minh, vì cả hai cùng giữ vai trò then chốt, trong việc giúp cho cộng sản Miền Bắc cưỡng chiếm được VNCH, một cách mau chóng, khi bắt quân lực buông súng đầu hàng. Theo nhiều tài liệu lưu hành, thì Hạnh được Ban Binh Vận của Bắc Việt móc nối và theo chúng từ lâu, qua chỉ đạo của một tên thầy thuốc bắc cũng là chú họ của Hạnh, tên Nguyễn Tấn Thành ở Vĩnh Kim-Cần Thơ. Nhiệm vụ cuối cùng của Nguyễn Hữu Hạnh là thúc đẩy Tổng Thống Dương Văn Minh mau chóng đầu hàng giặc. Hạnh hiện còn sống tại VN và mới cùng Nguyễn Hữu Có, Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Đình Đẩu, được VC cho lên đài phát biểu phỏng vấn, để tuyên truyền tiếp nhân kỷ niệm ba mươi năm quốc hận (30-4-2005), ngày Đệ Tam Quốc Tế xâm lăng VN.

B – Thiếu Tướng Dương Văn Minh, Tư Lệnh Chiến dịch Nguyễn Huệ:

Nhằm mục đích đánh dẹp loạn quân của các tướng Trần Văn Soái và Ba Cụt tại Miền Tây và vùng Đồng Tháp, đồng thời cũng chống lại các lực lượng của Cộng Sản nằm vùng đang lợi dụng thời cơ tái hoạt động. Chiến dịch tảo thanh rất qui mô, mang tên Nguyễn Huệ, với một lực lượng hành quân hùng hậu Hải-Lục-Không Quân, gồm 4 SD Dã-Khinh chiến 4,11,14 và 15, các Trung Đoàn Địa Phương Biệt Lập, Cảnh Sát-Công An, 4 Hải Đoàn Xung Phong, 1 Phân Đội thuộc Phi Đoàn 2 Quan Sát tăng cường thêm 3 máy bay oanh tạc loại Marcel Dassault, 6 Chi đoàn thám thính xa và các Tiểu Đoàn Pháo Binh 3, 4, 21, 22 và 24. Ngoài ra còn có một Tiểu Đoàn Nhảy Dù làm thành phần trừ bị ứng chiến, đóng tại Sa Đéc.

Thiếu Tướng Dương Văn Minh làm Tư Lệnh Chiến dịch, chỉ huy trực tiếp các Đại Tá Dương Văn Đức (Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Miền Tây), Trung Tá Nguyễn Văn Là (Tư Lệnh Khu Chiến Đồng Tháp), Đại Tá Nguyễn Văn Quan (Tư Lệnh Phân Khu Vĩnh Long). Chiến dịch khai diễn từ ngày 1-1-1956 và chấm dứt ngày 31-5-1956. Kết quả, tướng Hòa Hảo là Ba Cụt (Lê Quang Vinh), trúng kế bị bắt ngày 13-4-1956 tại Chắc Cà Đao, cách tỉnh lỵ Long Xuyên chừng 7 km.. Tướng Ba Cụt bị kết án tử hình, lên máy chém tại Cần Thơ, vào sáng thứ sáu ngày 13-7-1956, sau ba lần ra tòa án quân sự đại hình.

Trong tài liệu ‘Les Guerres du Việt Nam’, xuất bản năm 1985, mà tác già là tướng Trần Văn Đôn, một người bạn rất thân với Tướng Minh, đã viết nơi trang 171, cho biết Tướng Ba Cụt bị chặt đầu tại Cần Thơ và chôn ở đây. Nhưng không biết vì lý do gì, Tướng Minh lại ra lệnh cho cận vệ là Nguyễn Văn Nhung, đến tại chỗ đào mồ và phân thây người đã chết.

C-Trung Tướng Dương Văn minh và cái chết của hai ông Diệm-Nhu:

Cuộc binh biến ngày 1-11-1963, ngoài việc tạo cơ hội cho một ít sĩ quan có liên hệ tới biến cố, tự gắn lon thăng chức lẫn nhau, còn gây ra rất nhiều hậu quả xấu cho đất nước, tạo thêm cảnh hỗn loạn triền miên trong xã hội miền Nam, mà kết quả là mất nước vào tay cộng sản xâm lăng, vào ngày 30-4-1975.

Trong biến cố này, Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa là Ngô Đình Diệm, cùng bào đệ Ngô Đình Nhu, bị hạ sát một cách dã man thê thảm, trong lòng chiếc Thiết Vận Xa M113, mang số 80989, trong lúc đang di chuyển trên lộ trình, từ nhà thờ của Cha Tam ở Chợ Lớn, tới Bộ Tổng Tham Mưu.

Suốt mấy chục năm qua, cái nghi vấn về ai đã trực tiếp ra lệnh cho Tướng Mai Hữu Xuân, Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung.cũng vẫn còn trong vòng bí mật. Hiện nay hai ông Xuân và Nhung đã chết, chỉ còn lại Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, cũng đã tới định cư tại Washington vào năm 1993. Ngoài ra còn có Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp và Trung Tá Nguyễn Văn Đầy cũng liên hệ tới vấn đề thảm sát trên, vì hai ông cùng chung phái đoàn, được Tướng Dương Văn Minh, cử đi đón hai ông Diệm và Nhu về Dinh Độc Lập.

Sau này đã có cả núi sách vở tài liệu, viết về cái chết của Vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa. Những tác giả này phần lớn là những người có liên hệ tới nội vụ, hoặc là các ký giả, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước. Có điều tất cả đều có chung một quan điểm, hoặc gián hay trực tiếp, chỉ đích danh Trung Tướng Chủ Tịch Dương Văn Minh, chính là người đã ra lệnh cho phái đoàn gồm Mai Hữu Xuân, Dương Hiếu Nghĩa, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Văn Đầy và Phan Hòa Hiệp, trong lúc đón Tổng Thống Diệm và ông Nhu, rồi sẵn dịp nhổ cỏ tận góc, để diệt trừ hậu hoạn. Tuy nhiên có một điều là không ai dám nói rõ, là hành động của Tướng Minh khi giết hai anh em TT Diệm, là vì để tranh bá đồ vương hay là làm theo lệnh của kẻ khác?

Mới đây Đại Tá Phạm Bá Hoa, từng là Chánh Văn Phòng của các Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên và cuối cùng là Tham Mưu Trưởng- Tổng Cục Tiếp Vận của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, đây là một nhân vật trực tiếp tham dự gần như hầu hết các biến cố trong đại, trong hậu trường chính trị VNCH từ 1963-1975. Bởi vậy qua tác phẩm ‘Đôi Dòng Ghi Nhớ’, do Ngày Nay xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1994, đã viết: ‘Từ lúc 5 giờ chiều ngày 1-11-1963, khi Đại Uý Bằng, Tùy Viên của TT Diệm gọi điện thoại tới Bộ TTM, yêu cầu Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, tiếp chuyện với TT Diệm.. cho tới khi chiếc thiết vận xa mang xác hai ông Diệm-Nhu về Bộ TTM.’ Sau đó tới chuyện Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu, phỏng vấn TT Dương Văn Minh, có mặt Tướng Trần Văn Đôn tại Pháp. Dịp đó, ông Chiêu yêu cầu TT Minh giải thích câu Mission Accomplie, mà Tướng Xuân đã trình với TT Minh sau khi hai ông Diệm-Nhu bị thảm sát. Và ông Minh đã trả lời: ‘Nhiệm vụ hoàn thành thì báo cáo hoàn thành, chỉ có vậy thôi, ai hiểu sao thì hiểu’.

Sau rốt, ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức, trong tác phẩm ‘Ngày cuối cùng của TT. Ngô Đình Diệm’ cho biết đã đọc được một tài liệu của Tướng Dương Văn Minh, viết cho cộng sản Bắc Việt sau ngày 30-4-1975, xác nhận ông là người đã ra lệnh giết hai ông Diệm-Nhu. Sau này tại hải ngoại, hai ông Minh và Nghĩa có hứa là sẽ để lại hồi ký cho hậu thế rõ khi nhắm mắt nhưng Đại Tướng Minh đã chết từ khuya, vẫn chưa thấy hồi ký xuất hiện, cho nên mọi người tới nay, cũng không biết đâu mà mò.

Trong ‘Đôi dòng ghi nhớ’, tác giả Phạm Bá Hoa, cũng không quên đề cập tới chuyện tiền bạc, có trong cái cặp xách tay của TT Diệm, do Đại Úy tùy viên Đỗ Thọ giữ. Ngoài ra còn số tiền bạc và phẩm vật của đồng bào quyên góp, để ủy lạo các đơn vị quân đội có công trong cuộc chính biến ngày 1-11-1963. Cuối cùng là tiền được tịch thu từ Phủ Tổng Thống và Dinh Gia Long. Tất cả tiền bạc trên, đều có liên quan và là trách nhiệm của các Tướng Minh, Đôn và Khiêm..lúc đó đang là lãnh tụ của Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng và chủ nhân đất nước Miền Nam.

D-Đại Tướng Minh, qua ba năm xáo trộn (1964-1967):

Sau những ngày vinh quang ngắn ngủi của cái được gọi là Cách Mạng (2-11-1963 tới cuối năm 1963), hậu trường chính trị Miền Nam đã trở nên sôi động và rối loạn, vì hiện tượng kiêu tăng-loạn tướng, lạm phát chức tước tự gắn lẫn nhau, làm cho VNCH bỗng dưng có nhiều tướng tá từ trên trời rớt xuống, mà trước đó không ai biết tới tên tuổi mặt mày..

Sài Gòn lại nát bét vì những thanh toán không khoan nhượng, giữa những mưu đồ bất chính, chỉ nhắm tới lợi lộc, bè phái và bản thân, nên tuyệt nhiên đã quên hết những hứa hẹn cao quý, đối với đồng bào Miền Nam, là làm cuộc cách mạng, để thay đổi đời sống của mọi người, từ vật chất cho tới tinh thần. Nói chung là được tự do và no cơm ấm áo, mà chế độ cũ không có hay chưa bao giờ mang tới cho mọi người.

Sài Gòn nhàm chán vì những tấn tuồng lãng nhách, liên tục được diễn trên sân khấu đời, mà đào kép quẩn quanh, từ vai chính tới kéo màn, cũng chỉ là những tên quan tây, xuất thân từ lính tẩy, sống lâu lên lão làng, chứ không có một công trạng gì, đối với đồng bào và đất nước, lúc đó đang gầy héo khổ sở, vì Mỹ cũng như cộng sản Miền Bắc.

Sài Gòn không ai yên giấc được, vì cái cảnh thay đổi như chong chóng, qua những màn phe ta đánh phe ta để chỉnh lý, đảo chính, thay đổi chủ từ quân nhân qua dân sự rồi trở lại quân nhân. Đặc biệt là lần nào cũng có ban bố hiến pháp, ước pháp..Nói chung mạnh ai nấy viết khi trong nắm được quyền. Trong lúc đó, cộng sản đã gia tăng chiến tranh khắp nơi bằng những trận đánh đẫm máu tại Đầm Dơi (An Xuyên), Hiệp Hòa (Hậu Nghĩa), Suối Đá (Tây Ninh), An Lão (Bình Định), Bình Giả (Phước Tuy)..khiến cho dân chúng đã đói nghèo vì bọn sâu quan mọt tướng, nay lại tang thương chết chóc vì cảnh bom đan chiến tranh, do tình trang quốc gia không có chính phủ.

30-1-1964: Khiêm, Nguyễn Khánh và Cao Văn Viên, gây cuộc chính biến đầu tiên để lật đổ triều đại Dương Văn Minh, vào lúc 3 giờ 05 phút sáng. Tham dự có Nhảy Dù, Quân Cảnh, An Ninh Quân Đội và Hai SD 5,7BB làm lực lượng trừ bị.

Kết quả các tướng đầu não trong cuộc binh biến 1-11-1963 như Minh, Đôn, Xuân, Kim, Đính và Vỹ đều bị bắt. Các tướng Đôn, Đính, Xuân, Kim và Vỹ bị kết án theo Pháp, để trung lập hóa miền Nam. Riêng cận vệ của Tướng Minh là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, nói là tự tử bằng dây giầy chết tại trại Hoàng Hoa Thám của Nhảy Dù. Còn tướng Minh được Mỹ can thiệp, nên chỉ bị mất chức lãnh đạo, sau ba tháng cầm quyền nước. Nguyên do chỉ vì ham thể thao và trồng hoa lan, hơn là để ý tới việc trị quốc, bình thiên hạ, trong lúc cả nước đang loạn lạc. Khôi hài nhất trong vở tuồng là cả ba Minh-Khánh-Khiêm đều được Phan Khắc Sửu gắn lon Đại Tướng cao nhất nước (vì Thống Tướng Lê Văn Tỵ đã qua đời). Đặc biệt nhất là Nguyễn Cao Kỳ chưa tới một năm, được Khánh cho lon từ Trung Tá lên tới Thiếu Tướng, nhờ các chiến công hiển hách đã đạt được tại trường đá gà, bàn mạt chược, vũ trường..

Từ đó vận mệnh của quốc gia được chuyền tay qua Khánh-Khiêm, tới Thiệu-Kỳ, rồi Thiệu-Khiêm-Viên. Cuối cùng lúc tàn cuộc, vào giờ thứ 25, khi quyền lực của đất nước bị vắt chanh bỏ vỏ, quăng tung tóe bên vệ đường, được phe nhóm thân cộng trong cái gọi là ‘lực lượng thứ ba’, lượm nhét vào tay Đại Tướng Dương Văn Minh, để kết thúc ‘Mission Accomplie’, mà ai muốn nghĩ gì cũng được, trừ lịch sử và bia miệng.

E-Đại Tướng Minh, lãnh tụ lực lượng thứ ba:

Sau khi nắm trọn quyền nước trong tay, Khánh bắt các tướng cùng phe với Minh đầy lên Pleiku. Đồng thời giải tán Thượng Hội Đồng Quốc Gia, bắt Dương Văn Minh lưu vong sang Thái Lan, cho tới khi Khánh mất quyền phải bốc một nắm đất quê hương sang Mỹ. Dưới thời TT. Nguyễn Văn Thiệu đệ nhị cộng hòa, Thủ Tướng Trần Văn Hương vì nghĩ tình đồng hương và thầy trò cũ, nên đã đề nghị với chính phủ, cho phép Tướng Minh, từ Thái Lan hồi hương về VN.

Bây giờ thì bí mật đã vén màn, nên ai cũng biết, dù VC tại miền nam theo tinh thần Hiệp Định Geneve 1954, phải tập kết hết về Bắc. Nhưng mặt thật, Hồ Chí Minh vẫn để lại một số lớn cán binh nằm vùng. Riêng số cán bộ Việt Minh cũ, không chịu tập kết nhưng lòng vẫn hướng về Bắc và thân cộng sản, dù đang sống trong lãnh thổ VNCH.

Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa bị sụp đổ, hậu trường chính trị Miền Nam đã trở thành sân khấu lộ thiên, để thiên hạ diễn tập và múa may quay cuồng, qua cái rổ tự dân chủ tả bính lù, được các khoa bảng trí thức vay mượn cấp vá từ đủ mọi khuynh hướng cộng sản cũng như tư bản, làm cho những người còn chút hơi hướng con người, phải lợm giọng, đó là chưa nói tới sứ chán ghét của hầu hết mọi tầng lớp đồng bào, đang sống thầm lặng bên lề thế sự, vì sự lo toan mệt nghỉ của chén cơm manh áo.

Hiện tượng trên, chính là dịp may, giúp cho những thành phần đang bất mãn với chính phủ, mà đa số là những kẻ một thời giàu có ăn sung mặc sướng, nhờ tổ tiên cha mẹ đã hợp tác với thực dân Pháp qua 100 năm đô hộ. Số này gần như trắng tay khi nước nhà được độc lập từ năm 1955, bởi vậy ăn không được thì phá, bằng cách theo Pháp, theo Cộng, để tìm đủ mọi cách giúp Bắc Việt chiếm trọn miền Nam.

Đây là cơ hội để chúng làm mưa gió trên chính trường, tạo hoàn cảnh thuận lợi qua bình phong dân chủ tự do, để hợp thức hóa, giúp bọn nằm vùng của Bắc Việt lộ mặt. Chính bọn này đã bày mưu thiết kế, gây chia rẽ giữa đồng bào và chính quyền, gây dư luận quốc tế, gieo rắc sự hỗn loạn tại hậu phương, làm chao đảo tinh thần chiến đấu của ba quân đang hy sinh xương máu chống ngăn xâm lăng ngoài chiến trường.

Ba thành phần kể trên, tuy không bao giờ hòa hợp hòa giải chính họ với nhau, nhưng vẫn mập mờ xài chung một danh xưng là ‘lực lương thứ ba’, mà mục đích chung là phản gián, một trong những kế hoạch của Bộ Chính Trị Hà Nội đề ra, trong cuộc xâm lăng miền nam, bằng vũ lực của cả khối cộng sản quốc tế, trong đó có các đảng cộng sản Ý, Pháp, Anh và Hoa Kỳ.

Sau ngày VN bị nhuộm đỏ hoàn toàn từ Bắc chí Nam, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ‘ma’ bị Bắc Việt giải thể và quăng vào thùng rác. Chính Trương Như Tảng, một thời là bộ trưởng bù nhìn của mặt trận bịp, trốn thoát được qua Pháp xin tị nạn cộng sản, rồi viết: ‘Mémoires D’un VC’’, hay những kẻ bị vắt chanh bỏ vỏ như Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Trần Bửu Kiếm..cũng đã vạch mặt cái hữu danh, vô thực, trên trời dưới biển của nhóm ‘Lực Lượng Thứ Ba’ y chang ‘Khối thứ ba’ của thế giới lúc đó, do Ấn Độ làm thủ lãnh, thực chất chỉ bợ đít cộng sản, Liên Xô-Trung Cộng và cả VC. Đối với những kẻ một thời hưởng đủ ân sủng của miền Nam, sau đó trở cờ, có lẽ tiêu biểu nhất là Linh Mục Nguyễn Viết Khai, là người có liên hệ tới TT. Diệm khi còn sinh tiền. Trên tờ Đối Diện số 21, Khai viết: ‘Trong 3319 triệu người trên thế giới, khối cộng chiếm 1500 triệu người còn Thiên Chúa Giáo vỏn vẹn chỉ có 613 triệu người.. Lạy Chúa, xin Chúa tha thứ cho chúng con. Tại sao muốn đem trứng chọi với đá?’.

Sau cùng vì nhóm trên, thấy Đại Tướng Dương Văn Minh luôn có đường lối tư tưởng hợp với họ. Hơn nữa lúc đó, ông là người có lon to nhất nước, nếu tính theo thâm niên, lại đang bất mãn với chính quyền. Ngoài ra ông là người sinh trưởng tại miền nam, tính tính ba phải, nên rất thích hợp giữ vai lãnh tụ, dù chưa có bao giờ có một cuộc bầu chọn chính thức.

Sau ngày hiệp định ngưng bắn được Hoa Kỳ và Bắc Việt dàn dựng sau tháng 2-1973, lực lượng thứ ba công khai đánh phá chính quyền VNCH, trên các tờ báo cộng sản trá hình, được phát hành tại Sài Gòn như Hành Trình, Đối Diện, Trình Bày, Tin Văn, Lập Trường, luôn đề cao vai trò lãnh tụ của Tướng Minh, dù ông ta vẫn như thuở nào chỉ thích quần vợt và trồng đủ các loại hoa lan quý hiếm, trong ngôi biệt thự giàu có sang trọng, có thể sánh với cac bậc hào phú đương thời.

II- 30/4/1975 : Ngày dài nhất của Tổng Thống Dương Văn Minh:

Ba chục năm qua, kể từ ngày Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH buông súng rã ngũ, giúp cho cộng sản Bắc Việt kết thúc sớm cuộc chiến xâm lăng Miền Nam, cũng kể từ đó, đã có nhiều tài liệu của mọi phía liên hệ tới cuộc chiến, vén màn bí mật những uẩn khúc một thời, mà người Việt đọc tới, cứ tưởng như đang trong mộng, vì tất cả đều do bàn tay lông lá của ngoại bang dàn dựng.

Riêng về sự nghiệp của tổng thống cuối cùng của VNCH là Dương Văn Minh, cũng có rất nhiều nhưng chỉ có các bài viết của ký giả Pierre Denicron, ‘SaiGon et Moi’ của cựu đại sứ Pháp là J.M.Mérillon và ‘Decent Interval’ của Frank Sneep..là viết rõ ràng nhất.

Theo ‘Những Ngày Cuối Cùng VNCH’ của Nguyễn Khắc Ngữ xuất bản sau năm 1975 tại Canada, thì ngay khi Bắc Việt vừa chiếm được Cao Nguyên Trung Phần (QDII) ngày 24-3-1975. Nhận thấy thời cơ đã tới, Phạm Văn Đồng ra lệnh cho Lực Lượng Thứ Ba (LLTB) ở Sài Gòn, công khai ra mặt chống đối Chính Phủ VNCH, qua trung gian Đại Sứ Pháp ở Hà Nội lúc đó là Phillipe Richer. Đồng nói: ‘Thế nào? bao giờ người Pháp mới hành động? giờ đã đến lúc các bạn ông trong phe thứ ba ở Sài Gòn, ra khỏi sự dè đặt, công khai lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, để lập chính phủ mới trung lập, mới có đủ tư cách nói chuyện thương thuyết với chúng tôi’. Đó chính là lý do mà Đại sứ Pháp tại Sài Gòn, J.M.Mérillon, tiếp xúc với LLTB, áp lực Mỹ thay ngựa hết TT. Thiệu tới TT.Hương và tìm đủ mọi cách đưa Dương Văn Minh lên ghế Tổng Thống VNCH.

A-Những ngày chuẩn bị lên ngôi vua:

Người Pháp hết bị Nhật rồi tới VN đánh đuổi ra khỏi Đông Dương một cách nhục nhã và thảm bại vào năm 1955, nhưng De Gaulle và thực dân lúc nào cũng hằng nuôi ảo vọng trở lại làm trùm miền đất này. Bởi vậy không lúc nào chúng bỏ quên mọi cơ hội, rình rập và chợp thời cơ để trục lợi. Ý đồ lưu manh trên, đã được Mérillon nói một cách công khai và hãnh diện, trong tác phẩm của mình. Đó chính là những ngày cuối tháng 4-1975, giữa lúc VNCH đang hấp hối vì Hoa Kỳ phản bội, đại bàng bỏ trốn, Việt gian đâm sau lưng, tạo dịp tốt ngàn năm một thuở, cho Pháp nhảy vào ăn ké hốt hụi chót, được hay thua, cũng không bị lỗ vốn.

Cũng theo lời kể của vị cựu đại sứ Pháp, kể từ ngày 18-4-1975, Hoa Kỳ coi như đã dứt khoát bỏ VN, qua vai trò của đại sứ Martin. Nói chung người Mỹ nhờ Pháp thay thế, lo giùm hậu sự cho cái xác của VNCH, đang hấp hối chờ chôn. Bởi vậy Mérillon đã liên hệ khắp nơi, kể cả phái đoàn của Bắc Việt trá hình là VC, do Phan Hiền cầm đầu, được Mỹ bảo vệ và cho ở làm gián điệp, nơi trại David nằm trong phi trường Tân Sơn Nhất, để xúc tiến thành lập một chính phủ MA mới tại VNCH, gồm ba thành phần Quốc Gia, Cộng sản và Trung Lập, như lệnh của Phạm Văn Đồng.

Đảng đối lập tức Lực lượng thứ ba lúc đó, gồm có thủ lãnh là Đại Tướng Dương Văn Minh, hợp với Huỳnh Tấn Mẩm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung..được Mérillon tiếp kiến ngày 22-4-1975 nhưng tất cả lũ đều là bọn hề, không có một chút tiếng tăm gì trên trường chính trị lúc đó, ngoài vai trò làm tay sai phá hoại, nên bị đuổi về vì không đủ điều kiện để lọt vào mắt của Bắc Bộ Phủ. Riêng Dương Văn Minh được giữ lại, chờ nói chuyện với Hà Nội, qua đường dây chuyển tiếp của Tòa đại sứ Pháp tại Sài Gòn-Tân Gia Ba-Bắc Việt, do Võ Đông Giang làm trung gian.

Trong lúc chờ đợi, Đại sứ Pháp dâng lên tổng thống tương kế sách bình thiên hạ, trung lập hóa miền Nam, chung qui cũng vẫn là việc Pháp, Trung Cộng và Nhật sẽ thay chân Mỹ làm chủ nhân ông VNCH.

Để Miền Nam mau chết, Hoa Kỳ đã quyết định cắt đứt hết mọi quân viện, khiến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cắt đứt luôn sự liên hệ với Tòa Đại Sứ. Bởi vậy, trong đêm 20-4-1975, thân hành đại sứ Martin phải vào Dinh Độc Lập, áp lực TT phải từ chức tức khắc, bằng tối hậu thư của CS Bắc Việt gửi Mỹ.

Một cuộc họp khẩn cấp đã diễn ra trong nội cung, ngoại trừ một số đã bỏ chạy, coi như còn lại đều có mặt. Văn võ bá quan lúc đó đã chia làm hai phe, mà mai mỉa nhất thành phần chủ hòa lại là những chóp bu, bao nhiêu năm cứ ngồi trên đầu thiên hạ như Khiêm, Viên, Quang, Toàn. Các đại bàng áp lực tổng thống Thiệu phải từ chức, để cùng nhau ra đi, như thế mới có hệ thống quân giai. Theo luật pháp quốc gia, cũng như Hiến Pháp và Quốc Hội, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay thế chức vụ TT. Nhưng cụ Trần Văn Hương, từ trước tới nay vốn nổi tiếng diều hâu, điếc không sợ sấm dù là sấm Chúa hay Phật, một nhân vật chống Cộng cực đoan, tuổi tuy già nhưng đầu óc tỉnh táo và cương quyết. Cho nên ông đâu phải là nhân vật tuyển của thực dân Pháp và giặc xâm lăng Bắc Việt. Bởi vậy Dương Văn Minh được mời ra cứu nước, đó cũng là bài bản tuồng tích đã được sắp xếp, đâu có gì lạ.

Để áp lực với tổng thống Hương nhường ngôi cho Dương Văn Minh, tối 24-4-1975, cộng sản lại ra thông cáo :

1- Trần Văn Hương bù nhìn của Nguyễn Văn Thiệu, phải ra đi.

2-Mỹ phải rút khỏi VN.

3-Không chấp nhận các cơ cấu của VNCH hiện tại.

Như vậy việc Dương Văn Minh lên làm tổng thống, nếu có, là do ý của cộng sản Hà Nội, chứ không phải do Hiến Pháp VNCH quyết định. Ý đồ cướp nước của giặc đã công khai rõ ràng như ban ngày, vậy mà Tướng Minh và phe nhóm vẫn mù tịt. Khôi hài nhất là việc ông đại sứ Pháp, cứ liên tục thúc hối Tổng Thống Trần Văn Hương mau từ chức, để Dương Văn Minh kịp cứu dân cứu nước?

Nhưng cụ Hương tuy tuổi già chứ không lẩm cẩm, hơn nữa lại là thầy của Dương Văn Minh, nên đâu có lạ gì tánh tình và nhân phẩm của người học trò mình. Theo ‘Saigon et Moi’, chính cụ Hương đã trả lời thẳng với Mérillon như sau ‘Nước Pháp luôn hái nho trái mùa, tưởng chọn ai, chứ Dương Văn Minh không phải là hạng người dùng được, trong lúc dầu sôi lửa bỏng’.

Do các lý do trên, TT Hương không muốn trở thành một tội nhân thiên cổ đối với lịch sử, nên đã khôn khéo trao quyền quyết định cho Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện. Cuối cùng Tướng Minh được chỉ định làm Tổng Thống thứ tư của VNCH, vào lúc 20 giờ 45′ đêm 27-4-1975, với tỷ số 132/02. Rồi lễ bàn giao được diễn ra tại phòng khánh tiết, Dinh Độc Lập lúc 17 giờ 01 phút, chiều ngày 28-4-1975. Lần nửa Việt sử cận đại lại được lật sang trang nhưng vô cùng ngắn ngủi, vì Tổng Thống Dương Văn Minh, chỉ nắm quyền chưa tới 48 giờ, thì mất nước.

B/ 30-4-1975, Ngày dài nhất của Tổng Thống Dương Văn Minh:

Theo các tác phẩm dẫn thượng, thì suốt 40 giờ tham chính, TT Minh và nội các của ông, hoàn toàn làm việc tại Dinh Hoa Lan và dưới sự chỉ đạo kiểm soát của Đại sứ Pháp gần như 24/24.

Jean Larteguy, tác giả ‘L’adieu à Saigon’, có viết rằng cụ Hương trước khi mất, cho tác giả biết, cả ông, Dương Văn Minh lẫn Vũ Văn Mẫu, đều chẳng liên lạc được gì với cộng sản Bắc Việt.

Điều này cho thấy ông Dương Văn Minh cùng phe nhóm, chẳng có một kế hoạch nào để giải quyết cuộc chiến, mà mặt thật chỉ là những người bị cộng sản Bắc Việt lừa bịp, phỉnh gạt mà thôi. Bởi vậy khi Dương Văn Minh vừa đăng quang xong lúc 17 giờ ngày 28-4-1975, lập tức VC cho Nguyễn Thành Trung oanh tạc phi trường, đồng thời trở mặt tức khắc.

Trong trại David vào đêm 28-4-1975, Võ Đông Giang bảo thẳng với phái đoàn thương thuyết của Dương Văn Minh, gồm Chân Tín, Châu Tâm Luân và Trần Ngọc Liễng ‘giờ tấn công đã sẵn sàng, giờ Dương Văn Minh chỉ có hai điều kiện: Đầu hàng hay không Đầu hàng‘. Cả ba sứ giả bị giữ lại làm con tin.

Sáng sớm ngày 29-4-1975, Hà Nội lập tức ra thông cáo, đòi tổng thống Minh cùng nội các từ chức, giao Miền Nam cho chúng, ban lệnh đuổi Mỹ, ngưng bắn và đầu hàng vô điều kiện.

Trong lúc ngoài vòng đai thủ đô, các đại đơn vị còn lại của QLVNCH đang tử chiến, để ngăn giặc khắp năm cửa ô, thì Sài Gòn đã hỗn loạn vì sự trốn chạy của Mỹ bằng trực thăng trên mái nhà. Nhiều phi công vì ham sống, đã bỏ chiến đấu, bỏ đồng đội đang tử chiến dưới đất, để bay sang tận Thái Lan, trả máy bay cho Mỹ để được tới định cư ở Hoa Kỳ. Theo W.W.Monyer trong ‘Vietnammese Airforce (1955-1975), thì Mỹ đã thu hồi lại được 132 phi cơ đủ loại, theo lệnh của Phụ tá Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lúc đó là R. Armitage và E.V Marbod. Các đại bàng lớn nhỏ lần lượt chắp cánh tung trời, từ TT Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên, Quang rồi Đồng Văn Khuyên, Vĩnh Lộc, Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Văn Toàn..đều ra đi. Tóm lại giặc đang còn tận Biên Hòa, Bến Cát, Long Thành, Củ Chi và Long An..thì Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư Lệnh KQ,HQ, BTL QDIII và Biệt Khu Thủ Đô đã tan hàng, khiến Tổng Thống Minh như cua gãy càng, đành gọi bọn sâu bọ Nguyễn Hữu Hạnh, Triệu Quốc Mạnh vào dinh, cho mang lon trở lại, để giúp ngài có đủ can đảm đầu hàng giặc. Tổng thống đã thức trọn đêm, cho tới sáng 30-4-1975, để quyết định một sự kiện lịch sử, mà thật ra khả năng của ông, vốn không bao giờ có thể vói tới được.

Từ 7 giờ sáng ngày 30-4-1975, Nguyễn Hữu Thái tới Chùa Ấn Quang, yêu cầu Thượng Tọa Trí Quang, dùng uy tín khuyên Dương Văn Minh đầu hàng. Chính cuộc điện đàm ngắn ngủi giữa Trí Quang, Nguyễn Hữu Thái và bộ ba Minh, Mẫu và Lý Quý Chung, khiến Dương Văn Minh, quyết định đầu hàng giặc sau một đêm dài thức trắng để bàn luận với đại sứ Pháp (Theo Những Ngày Cuối Cùng của Nguyễn Khắc Ngữ).

Cuốn băng đầu hàng cộng sản, được thực hiện lúc 9 giờ sáng ngày 30-4-1975, tại dinh Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, sau đó được công bố trên đài phát thanh Sài Gòn. Còn tên tướng VC nằm vùng Nguyễn Hữu Hạnh, thì nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, đọc nhật lệnh bắt các đơn vị đang chiến đấu với giặc buông súng, đầu hàng.

Hai chiếc tăng T54 do Liên Xô chế tạo, mang số 804 và 390, trong Đại Đội Chiến xa của Bùi Quang Thận, ủi sập cổng Dinh Độc Lập. Tên sinh viên nằm vùng Nguyễn Hữu Thái, dẫn đường cho bộ đội Bắc Việt, lên sân thượng tước bỏ Là Cờ Vàng Ba Sọc Đó của Quốc Dân VN, rồi treo vào đó là cờ Dỏm của cái gọi là Mặt Trận GPMN. Tất cả các sự kiện diễn ra lúc 12 giờ 30 ngày 30-4-1975.

Từ đó người VN chịu cảnh đổi đời. Tất cả đều bị Rợ Hồ gọi là Ngụy, lính tráng là Ngụy quân, công chức là Ngụy quyền và đồng bào Miền Nam cũng thành Ngụy Dân. Nhờ Tổng Thống Minh kịp thời đầu hàng, tránh cho Sài Gòn còn nguyên vẹn, kể cả 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia do Nguyễn Văn Hảo giữ, giúp cho Bắc Bộ Phủ, thâu tóm trọn vẹn tài sản của dân chúng và công khố nhà nước một cách đầy đủ. Từ đó nhờ công cách mạng giải phóng, nên người Việt từ bắc vào nam, chịu chung cảnh người thành vượn, đói rách thảm thê, không có bút mực nào diễn tả cho trọn vẹn.

Cũng từ đó dân chúng căm hờn, đổ hết mọi trách nhiệm cho ông Dương Văn Minh, một tổng thống cuối cùng của VNCH, vì ngu muội khiến cho dân chúng lầm than dưới chế độ bạo tàn của đệ tam quốc tế, tạo cơ hội cho đảng cộng sản VN, đem đất đai biển đảo, tài nguyên quốc gia, nhượng bán cho kẻ thù không đội trời chung của dân tộc là Trung Cộng. Thế là cuộc bút chiến xảy ra công khai trên báo chí hải ngoại giữa hai phe thương và ghét Dương Văn Minh.

Người ta trách ông Minh không phải là trách ông đã ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng giặc, nhưng trách ông, tự biết mình là người rất ấu trĩ về chính trị, từng là bại tướng của Khánh, Khiêm, Thiệu nhiều lần. Tài năng như vậy, mà dám xung phong ra nhận lãnh trách nhiệm cứu nước trong giờ thứ 25, khiến cho nước non phải thảm nhục.

Người ta trách ông Minh ham sống sợ chết, không biết hành sử xứng đáng với cương vị và thân phận của mình. Đường đường là một Đại Tướng, lãnh tụ phe thứ ba và trên hết là Tổng Thống của một nước nhưng ông Dương Văn Minh, đã cố tình làm ngơ, các gương trung liệt nghĩa khí của người xưa, gương anh hùng bất khuất của thuộc hạ trước mắt ‘Chết để giữ tròn khí tiết, chết vinh hơn sống nhục ‘.

Thật vậy hoàn cảnh của tướng Minh, đâu khác gì thảm trạng của hai tướng giữ thành Bình Định, vào năm Tân Dậu 1801. Lúc đó thành bị Tây Sơn vây hãm lâm vào cảnh tuyệt lộ, trong không lương ngoài chẳng binh cứu. Trong nổi tuyệt cùng, Võ Tánh và Ngô Tùng Chu đã viết thư cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu ‘Phận ta làm chủ tướng, thì đành liều chết dưới cờ. Còn tướng sĩ không có tội tình gì, không nên giết hại’. Sau đó Võ Tánh tự đốt chết, còn Ngô Tùng Châu uống thuốc độc chết.

Trưa 30-4-1975, khi TT Minh ra lệnh QLVNCH buông súng đầu hàng. Nhiều binh sĩ đang chiến đấu tại mặt trận đã tự tử chết, vì họ không muốn đối mặt với kẻ thù tàn ác dã man. Các tướng lãnh Phạm Văn Phú (Tư Lệnh QD2), Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh QD4), Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó QD4), Lê Nguyên Vỹ (Tư lệnh SD5BB), Trần Văn Hai (Tư Lệnh SD7BB)..kẻ trước người sau, quyên sinh để bảo toàn khí tiết cho quân đội Miền Nam nói chung và danh dự của một cấp chỉ huy, lúc sa cơ thất thế.

Trái lại Đại Tướng cũng là Tổng Thống Dương Văn Minh, khúm núm ra trình diện trước các tên cán binh tép riu của Bắc Việt như Bùi Quang Thận, Đại Đội Trưởng, DD Chiến Xa, để rồi bị tên chủ nhiệm chính tri của đoàn xe tăng mang số 203, tên Lê Văn Minh nạt nộ: ‘các anh đã bị bắt, không có bàn giao gì cả’.

Mới đây đào hát cởi truồng một thời phản chiến Jane Fonda, vì muốn quảng cáo cho một tùy bút nói về chuyện tình của mình, đã lên đài CBS, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu, để nhận tội phản quốc với Hoa Kỳ, khi ả sang Bắc Việt, vào năm 1972, ngồi trên các khẩu cao xạ chửi Mỹ. Câu chuyện khôi hài của đám con buôn chính trị thập thành cũng chẳng có gì lạ nhưng đối với người Việt tị nạn, thì lại có một ý nghĩa, vì ít ra cô đào hát còn có can đảm nhận sự sai lầm của mình. Trong lúc đó thử hỏi những kẻ từng đâm sau lưng người lính đã hy sinh cho họ, hiện nay đang sống nơi hải ngoại, có ai dám muối mặt như Fonda để nhận sai trái năm nào, dù thời gian tới 30 năm và mặt nào phản chiến, phản tặc, tới nay ai cũng đều biết.

Thanh niên nam nữ, miền Nam VN, thế hệ sinh từ 1900 về sau, thường mượn tư tưởng làm trai của Nguyễn Công Trứ, để làm hành trang xử thế khi vào đời:

‘Đã mang tiếng đứng trong trời đất

phải có danh gì với núi sông’.

Còn ông Dương Văn Minh lại là một nhân vật lớn của lịch sử, tại sao không vì lịch sử, mà lưu lại cho hậu thế cái khí tiết ‘Nhất Tướng Công Thành, Vạn Cốt Khô?’

Thì ra con người cũng có năm bảy hạng người .

TÀI LIỆU THAM KHẢO :

– Những ngày cuối cùng của VNCH -Nguyễn Khắc Ngữ

– VN. Niên Biểu Nhân vật Chí của Chánh Đạo

– Nam Kỳ Lục Tỉnh (IV) của Hứa Hoành

– Đôi dòng ghi nhớ của Phạm bá Hoa

– QLVNCH trong giai đoạn hình thành của Bộ TTM.

– Những bí mật cuộc cách mạng 1-11-1963 của Lê Tử Hùng

– Hồi ký của Nguyễn Chánh Thi

– Les Guerres du VietNam của Trần văn Đôn

– Saigon et Moi của Mérillon

– sách vở bao chí KBC,PNDD,TP..

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s