TRẬN BAN MÊ THUỘT NGÀY THỨ HAI (Bùi Anh Trinh)(30.4black)

TRẬN BAN MÊ THUỘT NGÀY THỨ HAI

Bùi Anh Trinh

*( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ần của Chiến tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh ).

Ngày 11-3

Lúc 2 giờ sáng, Liên đoàn 21/BĐQ báo tin cho Đại tá Luật là đã đến làng Đạt Lý, cách trung tâm thành phố 5 cây số. Nhưng sự thực đây chỉ là trung đội thám báo đi dò dường từ Buôn Hô tới Đạt Lý là nơi có đặt 2 khẩu 105 ly của Tiểu đoàn 231 Pháo binh. Cho tới lúc này tình hình tại Đạt Lý hoàn toàn yên tĩnh.

– Lúc 4 giờ sáng BCH Liên đoàn 21 BĐQ báo cho Đại tá Luật là quân Liên đoàn đã tới bìa thành phố. ( Sự thực cũng chỉ là đại đội trinh sát mới tới Đạt Lý, tại đây có 1 trung đội Pháo binh của SĐ 23 BB vẫn còn an toàn trong căn cứ Chư Pao; còn đại quân của Liên đoàn đang trên đường di chuyển từ Buôn Hô về BMT, cánh quân cuối cùng đến nơi vào mờ sáng ngày 12-3 ).

– Lúc 6 giờ 30 sáng, pháo binh CSVN bắt đầu nả pháo liên tục vào BCH Tiểu khu và BTL Sư đoàn 23 BB.

– Lúc 7 giờ sáng, Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 CSVN cùng với 16 xe tăng tiến vào Hậu cứ BTL/SĐ 23 BB, đại bác của các xe tăng CSVN bắn thẳng vào BTL. SĐ23. Lúc này tại hậu cứ của BTL/SĐ.23 có 1 đại đội Bộ binh thuộc tiểu đoàn 3/53 với lính cơ hữu tại hậu cứ BTL, cùng với Trung đội công vụ của Tiểu Khu Đắc Lắc và lính cơ hữu của BCH Tiểu khu ( Lính cơ hữu của BCH/TK chỉ trang bị súng Carbin M.2 ).

– Lúc 7 giờ 30 sáng, xe tăng và quân của Trung đoàn 95.B/ CSVN đã bao vây vị trí của BTL/SĐ 23, cách khoảng 300 mét. Lúc này phía VNCH chỉ có 1 khẩu súng chống tăng là khẩu 106 ly không giật được đặt trên 1 xe tăng M.113, đây là loại vũ khí chống tăng duy nhất của Bộ binh VNCH, có thể bắn xe tăng địch ở tầm trên 200 m. Còn loại M.72 chỉ bắn có hiệu quả ở tầm gần, dưới 50 mét ( Bắn bên hông mới có thể làm đứt xích xe tăng, còn bắn phía trước mặt xe thì không ăn thua, bắn phía sau bên phải có thể làm cháy xe do trúng bình xăng ).

– Lúc 7 giờ 45 sáng, xe tăng CSVN tiến vào dinh Tỉnh trưởng Đắc Lắc đang được 1 trung đội ĐPQ trấn giữ, 2 xe tăng bị hạ ngay cổng vào tư dinh bằng súng M.72. ( Nghĩa là tầm bắn dưới 50 m. Tuy nhiên M.72 chỉ làm xe tăng T.54 đứt xích chứ không bị cháy cho nên 2 chiếc T.54 trở thành 2 lô cốt của 2 khẩu đại liên 12 ly 8, làm chủ khu vực trận địa toàn nội vi tư dinh ). Trung đội ĐPQ/VNCH rút lui khỏi tư dinh.

Kế bên tư dinh là BTL/Sư đoàn 23 BB, Bộ chỉ huy đầu não của quân VNCH tại BMT. Hạ được BTL/SĐ có nghĩa là hạ được BMT. Tuy nhiên lúc đó lực lượng chính của quân VNCH tại BMT không phải là BTL/SĐ 23 VNCH mà là Trung đoàn 53 thuộc SĐ 23 VNCH đang nằm tại Căn cứ B.50, cạnh phi trường Phụng Dực.

– Lúc 10 giờ sáng, Bộ chỉ huy nhẹ của Trung đoàn 53 VNCH và Tiểu đoàn 2/53 VNCH đang phòng thủ tại Căn cứ Dak Song, Quảng Đức nhận được lệnh của Đại tá Quang rút về cứu ứng cho BMT, nhưng trên đường về bị 2 tiểu đoàn CSVN phục kích. Trung đoàn phó Trung đoàn 53 và hầu hết các sĩ quan đều bị tử trận hoặc bị bắt, một số tàn quân được Trung úy Trọng, Trưởng ban hành quân TĐ 2/53 hướng dẫn chạy về Đà Lạt.

– Lúc 10 giờ sáng, xe tăng của quân CSVN bắt đầu tấn công vào vị trí phòng thủ tại BTL/SĐ 23. Đích thân Đại tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy bán đại đội Bộ binh phòng thủ tại cổng chính. Lực lượng phòng thủ có 1 khẩu 106 ly không giật đặt trên 1 thiết vận xa M.113. Khi chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào tầm bắn 100 mét, Đại tá Luật ra lệnh khai hỏa nhưng khẩu súng bị gãy kim hỏa và không có kim hỏa dự phòng để thay thế (sic). Đoàn xe tăng tiếp tục tiến vào BTL. Bắt buộc Đại tá Luật phải gọi phi cơ để chống chiến xa.

Từ lúc bắt đầu xảy ra trận đánh cho tới giờ phi cơ không được phép dội bom trong thành phố bởi vì còn dân ở trong đó. Tuy nhiên lúc này không còn lựa chọn nào khác, Đại tá Luật gọi cho phi cơ quan sát, ra lệnh thả bom ngay trước cổng BTL, chấp nhận hủy bỏ quy định về khoảng cách an toàn tối thiểu ( phải cách xa phe ta tối thiểu 1.000 mét ). Nghĩa là chấp nhận ném bom hủy diệt cả ta và địch.

– Lúc 10 giờ 10 sáng, một phi cơ A.37 đã cắt bom theo như yêu cầu của Đại tá Luật nhưng đường bay lệch một góc rất nhỏ nên quả bom đã rơi trúng Trung tâm hành quân của BTL/SĐ.23. Theo sách vở của kỹ thuật ném bom thì việc này không thể nào thực hiện được ( cắt bom chính xác trong vòng 100 mét ); lối cắt bom chấp nhận nguy hiểm chỉ được phép dùng để hủy diệt căn cứ của ta sau khi chính chỉ huy trưởng đơn vị ở dưới đất quyết định cùng tự sát theo đồn do vì địch đã tràn ngập.

*(Theo quy định kỹ thuật ném bom, người pilot của máy bay A.37 không được phép thả bom gần phe ta trong vòng 1.000 mét; nhưng có thể thả ngay lên đầu phe ta nếu quan sát viên điều không tiền tuyến trên phi cơ quan sát ghi nhận chính đơn vị trưởng dưới đất yêu cầu. Trong trường hợp này chính Đại tá Luật yêu cầu trên máy vô tuyến, dĩ nhiên các máy vô tuyến khác hoạt động trên cùng tần số sẽ làm chứng về lời yêu cầu của Đại tá Luật.

Tài liệu của Phạm Huấn ghi rằng lúc trái bom rơi là đúng 8 giờ sáng, lúc đó ông đang đứng bên cạnh máy truyền tin vô tuyến của Trung tâm hành quân Không trợ II. Trong khi bài viết của Đại tá Luật lại ghi là khoảng 10 giờ 10 sáng; không biết ai nói đúng nhưng chi tiết gọi máy bay của Đại tá Luật có lý hơn ).

Sau khi trái bom đánh sập Trung tâm hành quân, toàn bộ cơ quan đầu não của quân VNCH khoảng 100 người chia làm 2 cánh đào thoát khỏi BTL/SĐ23 giữa tiếng loa kêu gọi đầu hàng của quân CSVN nằm vùng phát đi từ chùa Khải Đoan, gần BTL/SĐ 23.

– Lúc 11 giờ 30 trưa, Tiểu đoàn 3/53 đang phòng ngự tại Khu gia binh SĐ 23 bị mất liên lạc với Đại tá Quang, lính của Đại đội bảo vệ BTL chạy về khu gia binh loan báo Đại tá Quang và Đại tá Luật đã bỏ chạy. Tiểu đoàn 3/53 xin lệnh Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng 53. Trung tá Ân cho lệnh Tiểu đoàn rút về hậu cứ Trung đoàn 45, cách trung tâm BMT 5 cây số để phòng thủ tại đây chờ quân tiếp viện của Liên đoàn 21 BĐQ. Tiểu đoàn 3/53 ra lệnh cho đại đội thứ 4 đang trấn giữ cầu 14 rút về hậu cứ TrĐ 45/BB.

– Lúc 3 giờ 30 chiều, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng VNCH ra lệnh cho Tướng Phú bốc Tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB thả xuống BMT để chỉ huy thay thế Đại tá Vũ Thế Quang.

– Lúc 5 giờ chiều, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm gọi cho Tướng Phú, chấp thuận cử một sĩ quan khác thay thế Đại tá Luật làm tỉnh trưởng BMT để theo đoàn quân của Sư đoàn 23 BB về tái chiếm BMT.

– Lúc 6 giờ chiều, toàn bộ tiểu đoàn 3/45 tập trung đầy đủ tại hậu cứ Trung đoàn 45, nhưng lúc này nhân số đông lên gấp 3 bởi vì binh sĩ trong tiểu đoàn đã hộ tống toàn bộ gia đình của họ và những gia đình khác của Sư đoàn 23 BB cùng chạy lánh nạn về đó ( kể cả gia đình Tướng Lê Trung Tường, tư lệnh SĐ.23/BB/VNCH. Tại đây đã có sẵn các con của Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 BB. Còn bà Phùng Văn Quang thì đang đi thăm chồng tại Pleiku ).

Trong đêm tối, các sĩ quan và binh sĩ thuộc Sư đoàn 23 BB sắp xếp cho gia đình chuẩn bị mờ sáng hôm sau lên đường di tản về Phước An, tức là hướng về Nha Trang. Trong khi các sĩ quan đang bàn bạc thì cùng lúc đó Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB, bị quân CSVN bắt trên đường đi Phước An để về Nha Trang. Ông đã chạy trước gia đình binh sĩ một bước, nhưng không may cho ông là nội tuyến của CSVN theo dõi ông từ lúc ông mới rời BTL/ SĐ.23.

Về phần Đại tá Luât cũng thế, ông muốn bọc lên hướng Bắc của thành phố để theo đường tắt băng xuống Phước An, nhưng lộ trình của ông cũng bị nội tuyến CSVN bám sát từ khi ông vừa rời BTL/SĐ 23, ông bị bắt cùng thời gian với Đại tá Quang.

* Chú giải : Đại tá Vũ Thế Quang

Đại tá Vũ Thế Quang chỉ huy toàn khu vực BMT nhưng ông chỉ là một sĩ quan bàn giấy, nổi tiếng ăn chơi chứ cầm binh không xuất sắc. Khả năng chỉ huy cao nhất của ông là có lần tạm thời giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 nhảy Dù. Sau đó nhờ là phe đảng của Tướng Kỳ nên chuyên giữ những chức vụ trong thành phố. Trước khi làm Tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB thì làm Thị trưởng Cam Ranh ( Tài liệu của Phạm Huấn ).

Đến khi đụng trận thì do một phần bị động, một phần không quen chỉ huy cấp đại đơn vị cho nên phản ứng của ông quá tệ, từ tổ chức phòng thủ cho tới điều động lui binh, hoàn toàn không có tiên liệu và không có chiến thuật chiến lược gì cả. Lẽ ra trong đêm 10-3 ông phải xé nhỏ các đơn vị bộ binh và ĐPQ tới cấp trung đội để bung ra tổ chức phục kích chống tăng trong thành phố, đồng thời dàn trận đánh cận chiến trong thành phố. Nghĩa là chờ đón quân CSVN tại các ngã đường của thành phố chứ không phải là chờ đón tại BTL/Sư đoàn.

Ngoài ra ông đặt BCH hành quân tại văn phòng BTL/SĐ 23 là thất sách, bởi vì xung quanh ông không có những sĩ quan tham mưu hành quân trong khi nhiệm vụ của ông là chỉ huy các đơn vị của Trung đoàn 53 cho nên nếu ông muốn ra lệnh thì bắt buộc phải ra lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53 tại B.50. Vì vậy ông phải ngồi trong BCH hành quân của Trung đoàn 53 mới đúng. Ông chỉ cần ngồi đó để ra khẩu lệnh cho Trung đoàn trưởng 53 và các sĩ quan hành quân của TrĐ 53 mà thôi.

Hơn nữa, một khi có nguy cơ bị địch tập trung quân tấn công dứt điểm BTL/SĐ thì ông bắt buộc phải tản quân để tránh làm mục tiêu duy nhất cho địch, sẵn sàng thối lui về phía sau là khu gia binh của BTL, tại đây đã có BCH Tiểu đoàn 3/53 BB và 2 đại đội trực thuộc. Và phải dự trù nếu không trụ được tại khu gia binh thì thối về khu Hậu cứ Trung đoàn 45; rồi từ Hậu cứ Trung đoàn 45 băng qua một thung lũng nhỏ là có thể nhập vào Căn cứ B.50 để tiếp tục chỉ huy chiến đấu.

Đằng này Đại tá Quang không hề có một tiên liệu nào, ông chỉ nằm trong hầm chỉ huy của BTL để chờ viện binh. Đến khi BTL bị trúng bom thì thay vì rút về khu gia binh, nhập với Tiểu đoàn 3/53 BB, thì ông đã quyết định một mình tìm đường về … Nha Trang. Trong khi lính của ông gồm 1 BCH Trung đoàn với 2 tiểu đoàn trực thuộc vẫn còn tiếp tục chiến đấu cho tới 7 ngày sau mới chịu tan hàng.

Hồi ký của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp cho biết lúc Đại tá Luật bị bắt thì ông ta cùng đi với 12 sĩ quan, còn Đại tá Quang thì “chạy một mình, vứt bỏ cả giày, cả mũ; trên người chỉ mang một cái túi con” (sic).

Trung tá Lê Quí Dậu : 2 giờ sáng ngày 11-3, Đại tá Nguyễn Trong Luật được Liên đoàn Trưởng Liên đoàn 21 BĐQ Lê Quí Dậu báo rằng quân của LĐ 21 đã tới thành phố BMT. Rồi đến 4 giờ sáng lại báo tin đã đến BMT.

Nhưng theo Thiếu úy Vĩnh Bình, trung đội trưởng trung đội Pháo binh tại Đạt Lý thì 4 giờ sáng ngày 12-3 Thiếu tá Dậu mới đến Đạt Lý, nghĩa là 24 giờ sau so với thông báo của ông ta, và 36 giờ sau so với lệnh đưa quân về cứu BMT của BTL/QK.2. Ông ta có quyền giải thích với cấp trên rằng quân của ông phải lội bộ 30 cây số cho nên cần 36 tiếng là đúng rồi. Nhưng nếu đúng thì thông báo đã tới BMT vào 2 giờ sáng ngày 11-3 chỉ là chuyện bịp.

Khả năng và nhiệt tâm của Trung tá Dậu đã được Tướng phạm Văn Phú đánh giá như sau : “Tôi nghe nói thằng cha Dậu là con gà chết. Nếu anh thấy hắn ta chỉ huy không được thì nên thay thế ngay. Đừng che chở kẻo hỏng việc hết”( Phạm Huấn, Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, trang 49 ). Nghĩa là Trung tá Dậu bê bối nổi tiếng đến độ ông Tướng cũng nghe danh. Vậy mà rốt cuộc cũng leo tới chức Liên đoàn trưởng ( Thực sự mới nhận chức LĐT trước đó 1 tháng ).

Một cấp chỉ huy như thế đó thì rõ ràng ông ta không vội vã gì trên đường đi bộ về BMT, và cũng rõ ràng là ông ta đã cho Đại tá Luật “uống thốc an thần” khi thông báo rằng ông ta đã tới BMT trong khi sự thật là 24 giờ sau ông ta mới tới.

Ngày 11-3, lúc 11 giờ đêm, Tướng Thiệu gọi cho Tướng Phú chỉ thị “tránh sa lầy, sử dụng quân quá nhiều cho một mặt trận. Toàn quyền linh động, có thể bỏ BMT”. ( Theo Phạm Huấn ).

* Chú giải : Sở dĩ Tướng Thiệu chỉ thị như vậy bởi vì Tướng Phú đã báo cáo về bộ TTM : “Phi trường Pleiku bị pháo”, “BTL/Quân khu 2 bị pháo”, “Trung đoàn 42 và 47 giao tranh suốt ngày với các đơn vị Cọng sản Bắc Việt”, “Sư đoàn 22 Bộ binh hiện đã trực diện với toàn bộ Sư đoàn 3 Sao Vàng và các trung đoàn biệt lập của Bắc Việt tại Quân khu 5”, “17 chiến xa Cọng sản Bắc Việt xuất hiện gần Phù Cát, Bình Định”. Nhận được báo cáo như vậy, Bộ TTM đặt dấu hỏi là có thể quân CSVN tổng tấn công trên toàn Quân khu 2, có thể nhất là đánh Bình Định để cắt đôi lãnh thổ VNCH.

Với những tin tức như thế đó, và được nhân lên với tâm lý hoang mang của Tướng Phú, khiến cho Tướng Thiệu chỉ biết trấn an Tướng Phú bằng chỉ thị “nếu cần thì bỏ BMT để giữ các nơi còn vững, chớ có hoang mang điều động mà vỡ lỡ tất cả, riêng BMT sẽ tổ chức phản công sau”( Chỉ thị lúc 11 giờ tối ngày 10-3 ).

Lúc đó chưa ai biết rõ ý đồ của quân CSVN, thường thì quân CSVN đánh “diện” trước, tức là đánh mục tiêu phụ trước; sau khi địch lo tập trung cứu ứng cho mục tiêu phụ thì CSVN mới đánh “điểm”, tức là đánh mục tiêu chính ( Dương Đông kích Tây, đây là chiến thuật cơ bản của binh thư Trung Quốc ).

Chỉ thị đêm 10-3 của Tướng Thiệu cũng giống như Mùa Hè năm 1972, khi quân CSVN mở màn tấn công tại Tây Nguyên thì ông quyết định bỏ mặc Tân Cảnh, Kontum để rút Lữ đoàn Dù về Quảng Trị, bởi vì ông biết cái nguy cơ là tại Quảng Trị chứ không phải tại Kontum. Quả nhiên quyết định đó là tuyệt vời.

Sách của Phạm Huấn nêu ra chỉ thị này để cáo buộc Tướng Thiệu ra lệnh “tiền hậu bất nhất”, mới đêm hôm trước cho phép nếu cần thì bỏ BMT nhưng sáng hôm sau lại ra lệnh… tái chiếm !?. Thực ra Phạm Huấn không đủ trình độ quân sự để nghĩ ra rằng sau khi nói chuyện với Tướng Phú thì Tướng Thiệu đã cùng với các Tướng khác tại BTTM ngồi nghiên cứu tình hình và thấy rõ BMT là mới là mục tiêu tấn công chính ( điểm ), và Bình Định, Pleiku chỉ là những mục tiêu phụ ( diện ).

Quân CSVN tập trung đánh BMT, vậy thì chỉ cần đối phó với quân CSVN tại BMT: Trước tiên là điều ngay Sư đoàn 23 BB từ Pleiku về cứu nguy BMT; quân CSVN chỉ mới chiếm được đất trong thành phố chứ lực lượng chính của VNCH là Trung đoàn 53 và 2 tiểu đoàn trực thuộc vẫn còn nguyên, Liên đoàn 21 BĐQ chưa sứt mẻ. Như vậy lệnh của Tướng Thiệu là sáng suốt chứ không phải “tiền hậu bất nhất”.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s