USD, mặt trận giằng co giữa dân và nhà nước

http://tinhoathinhdon.blogspot.com/2018/10/usd-mat-tran-giang-co-giua-dan-va-nha.html

usd_mgcj.jpg

“Thèm khát ” là cụm từ mà ta dùng để diễn tả cơn đói đồng USD của nhà nước. Nhân dân thì lại có nhu cầu rất cao cho việc tích trữ USD chính đáng của mình. Trong bối cảnh kinh tế này thì ai chẳng thèm. Luật pháp chưa cấm dân găm giữ, cho tặng đồng tiền này. Chỉ là cấm giao dịch chợ đen. Con bài bắt bớ phạt hành chính vừa rồi ở Cần Thơ cũng cho ta thấy phần nào tình cảnh đói khát USD của nhà nước, sự lưu manh của chính quyền và một tương lai khá ngộp thở cho đồng USD. Họ đang dồn ép người dân giao dịch vào hệ thống tài chính nhà nước để thâu tóm đồng tiền này. Continue reading

Advertisements

ĐỌC DIỄN VĂN GIỮA HỘI TRƯỜNG TRỐNG KHÔNG THÌ BỈ MẶT AI ?

http://quanvan.net/doc-dien-van-giua-hoi-truong-trong-khong-thi-bi-mat-ai/

Thư về trong nước

Cháu thân mến, người dân Việt Nam có vẻ hả hê với hình ảnh chiếc giày từ trong đám đông phóng về phía bàn của lãnh đạo CSVN. Continue reading

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc Phần IV

http://hon-viet.co.uk/MinhVo_NgoDinhDiemVaChinhNghiaDanToc_PhanIV.htm

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc

Phần IV

Minh Võ

12. Chiến thắng bỏ lỡ

Từ trước tới giờ phần đông ký giả và sử gia Mỹ đều cho rằng Hoa Kỳ đã lầm khi ủng hộ miền Nam Việt Nam chống lại Cộng Sản miền Bắc. Họ ca ngợi Hồ Chí Minh là nhà ái quốc, có tài trí hơn người và được lòng dân. Họ coi các nhà lãnh đạo miền Nam, kể cả ông Ngô Đình Diệm đều bất tài, vô tướng và là tay sai thực dân đế quốc. Quan điểm lịch sử đó được mệnh danh là “chính thống” (!) (tạm dịch từ “Orthodox” của tác giả Mark Moyar)

Nhưng gần đây một số sử gia Mỹ đã bắt đầu xét lại quan điểm đó. Trong số này có giáo sư tiến sĩ sử học Mark Moyar. Tiến sĩ Mark Moyar đậu cử nhân (hạng tối ưu với lời khen của ban giám khảo) về môn sử tại đại học Havard danh tiếng nhất của Mỹ. Sau đó đậu tiến sĩ sử học tại đại học Cambridge. Ông từng giảng dạy tại đại học Cambridge, đại học Tiểu Bang Ohio, đại học A&M Texas, và đại học Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở Quantino, Virginia…

Năm 2006 cơ sở Báo Chí Đại Học Cambridge đã xuất bản cuốn sách 512 trang khổ lớn của ông nhan đề Triumph Forsaken. Đây là tập I của bộ sách 2 tập về cuộc chiến Việt Nam. Theo tác giả, cuộc chiến này đáng lẽ đã kết thúc bằng một chiến thắng oanh liệt, mà lại trở thànhmột chiến bại nhục nhã. Trong cuốn sách này, tác giả đã rà xét lại tất cả mọi dữ kiện, đối chiếu nhiều tài liệu vô số kể của nhiều nguồn thuộc mọi phía, trong đó có những tài liệu mới được giải mật của Mỹ và tài liệu Cộng Sản (Liên Xô cũ, Trung Quốc, và Việt Nam), để đi đến một kết luận có cơ sở vững vàng.

Cuối sách không có phần thư mục như phần lớn các sách biên khảo. Nhưng gần 2000 chú thích ghi chi tiết trong 85 trang sách đã cho thấy hàng trăm tác phẩm và tài liệu được tham khảo và dẫn chứng một cách tỉ mỉ để chứng minh lập luận “xét lại” của tác giả. Ví dụ chỉ nguyên một chương 16 đã có tới 176 chú thích trưng dẫn hàng trăm tác phẩm hay chỉ 3 trang đầu của bài tựa thôi đã có tới 19 chú thích mà chi tiết choán hẳn 3 trang, Cũng trong lời tựa này, nguyên một chú thích 2 đã trưng dẫn gần 100 tác phẩm

Tập I này có 17 chương, trong đó có 10 chương về chính quyền Ngô Đình Diệm.

Đọc kỹ lời tựa và chương đầu, ta sẽ thấy đại cương về lập luận của tác giả..

Nhà xuất bản trích dẫn lời phê bình và đánh giá của 6 tác giả và giáo sư sử học về tác phẩm của Mark Moyar. Sau đây là ý kiến của Giáo sư sử học Thomas Alan Schwartz:

Triumph forsaken là một cuốn sách đặc sắc. Công trình (biên khảo) của Mark Moyar là sự thách đố mạnh mẽ nhất đối với sự giải thích chính thống về nguồn gốc việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Bằng cái nhìn mới mẻ vào những nguồn tài liệu gốc, cũng như tìm hiểu, khai thác những tư liệu mới từ các văn khố Mỹ cũng như Cộng Sản, Moyar đã tạo nên một lối giải thích khác về cội nguồn của sự dấn thân (tham chiến) của Hoa Kỳ. Tác phẩm của Moyar thúc đẩy các sử gia phải mở lại cuộc tranh luận về ý nghĩa cuộc chiến tranh Việt Nam.”

Sau đây là nhan đề của 17 chương sách trong tập I:

1. Di sản

2. Hai nước Việt Nam: Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 12 năm 1955

3. Sống chung hòa bình: Từ 1956 đến 1959

4. Cuộc nổi dậy: 1960

5. Cam kết nhập cuộc: 1961

6. Sự trẻ trung hóa: Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1962

7. Tấn công: Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1962

8. Trận Ấp Bắc; Tháng 1 năm 1963

9. Ông Diệm gặp gian nan: Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1963

10. Sự phản bội: Tháng 8 năm 1963

11. Tự hủy: Từ tháng 9 đến ngày 2 tháng 11 năm 1963

12. Trở lại tình trạng “Thập Nhị Sứ Quân”: Từ 3 tháng 11 đến tháng 12 năm 1963.

13. Tự chế: Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1964

14. Những tín hiệu: Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1964

15. Xâm nhập: Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1964

16. Phần thưởng chiến thắng: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1965

17. Quyết định: Từ tháng 6 đến tháng 7 năm 1965.

Lời tựa.

Sau khi nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu phân tách kỹ những nguồn tài liệu gốc càng ngày càng được phát hiện ra về mọi mặt của cuộc chiến, từ quân sự, chính trị, ngoại giao, do đó tác phẩm phải gồm 2 tập, thay vì một tập như dư tính ban đầu, tác giả trình bày thực trạng lịch sử Hoa Kỳ do hai xu hướng “chính thống” và “xét lại”.

Quan điểm “chính thống” có vẻ lấn át quan điểm xét lại. Thậm chí trong giới khoa bảng, người ta cho rằng phe xét lại không đáng gọi là sử gia, chỉ là những nhà “ý thức hệ” (ideologues).

Theo quan điểm “chính thống” thì dân Việt vốn thù dân Tầu, và thường đánh thắng quân Tầu. Vì vậy nếu đừng xua đuổi Hồ Chí Minh, thì ông ta đã có thể trở thành một Ti Tô của Việt Nam, chứ không đi theo Tầu Cộng, và Liên Xô.

Tác giả đã ghi rằng nghiên cứu kỹ lịch sử Việt Nam thì sẽ thấy, các cuộc chiến tranh xảy ra phần lớn giữa người Việt với nhau, và giữa người Việt với những sắc dân khác, như Chàm, Khmer hay Mông Cổ… chứ không phải giữa người Việt với người Tầu. Chỉ trừ một vài trường hợp cá biệt. Từ đó ông cho rằng Hồ Chí Minh nếu có ghét Tầu là ghét Tầu Quốc Dân, như phe Tưởng Giới Thạch, chứ không bao giờ ghét Tầu Cộng của Mao Trạch Đông. Trái lại sẵn sàng rước Tầu Cộng vào để đánh người Việt yêu nước. Ông viết:

“Hồ thường tỏ lòng kính cẩn với quan thầy hơn đối thủ của ông ta ở miền Nam là Ngô Đình Diệm, người đã thà chết hơn là làm theo yêu cầu của đồng minh Hoa Kỳ của ông ta. Hồ là tín đồ nhiệt thành của Mác và Lê-nin, dấn thân sâu đậm vào chủ nghĩa Quốc Tế Cộng Sản, cho nên không thể hy sinh tình liên đới Cộng Sản cho quyền lợi “hẹp hòi” của Việt Nam. Do đó, trái với những suy diễn được nhiều người chia sẻ, ông ta sẽ chẳng bao giờ lại chống người láng giềng Trung Cộng, hay bất cứ nước bạn Cộng sản nào khác, nếu Hoa Kỳ cho phép ông ta thống nhất Việt Nam. Ông ta không bao giờ để Hoa Kỳ biến nước Việt Nam thành một Nam Tư của châu Á.”

Về lãnh tụ miền Nam, tác giả viết:

“Tổng Thống Ngô Đình Diệm của miền Nam, không ngừng bị các sử gia phe “chính thống” mô tả như một kẻ đần độn, tên phản động, một bạo chúa. Nhưng thực ra ông là một lãnh tụ rất khôn ngoan, uyên bác và đắc lực. Là một người hiến thân cho hạnh phúc của dân tộc mình, ông “dùng uy tín cá nhân để trị nước gần như một nhà độc tài” (12 từ trong ngoặc kép của người viết để tạm dịch từauthoritarian của tác giả) vì ông cho rằng chế độ dân chủ kiểu Tây phương không thích hợp với một đất nước đang bị phân tán và có một nền văn hóa độc đoán. Những biến cố xảy ra sau khi ông bị giết đã chứng tỏ niềm tin đó là đúng.” (…)

Sau khi nêu đích danh Trung tá John Paul Vann, hai nhà báo trẻ David Halberstam và Neil Sheehan và đại sứ Cabot Lodge, kết tội họ đã loan tin thất thiệt, thiếu lương thiện và đánh lừa thượng cấp để cố hạ uy tín của Tổng Thống Diệm, vu khống là chính quyền của ông bất lực trong việc giữ an ninh, tác giả viết về cuộc đảo chính 1-11-1963:

“Cho đến nay, đã rõ cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963 là một lỗi lầm tệ hại nhất của người Mỹ. Trái hẳn với những lời quả đoán sau đó của những kẻ cổ võ cho cuộc đảo chính, rằng nỗ lực chiến tranh của Nam Việt đã bước vào thời kỳ suy thoái trong những tháng cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm. Các nguồn tin từ phía Bắc Việt, cũng như từ phía Hoa Kỳ đã cung cấp bằng chứng cho thấy cuộc chiến lúc ấy đang tiến hành một cách thỏa đáng, thuận lợi.”

Về tình trạng rối loạn và sự kém cỏi của các chính quyền hậu đảo chính, tác giả cho rằng chưa mấy người hiểu rõ nguyên nhân. Ông viết:

“Hậu quả của sự điều hành kém cỏi của chính quyền miền Nam từ sau khi ông Diệm chết cho đến năm 1965 thì hầu như ngày nay ai cũng đã thấy. Nhưng về nhữngnguyên nhân của nó thì chưa mấy người hiểu. Theo một cách giải thích “chuẩn” thì chính quyền Sài Gòn thất bại vì những nhà lãnh đạo Việt Nam và những cố vấn Mỹ đã chọn lầm phương pháp để đánh địch. Tuy nhiên thực ra, vấn đề không nằm ở khái niệm mà ở cách thi hành. Một sự giải thích tiến bộ hơn, gần trọng điểm hơn, nhưng vẫn chỉ đúng một phần, đó là miền Nam lúc ấy bị chao đảo, loạng choạng vì giới thượng lưu cầm quyền đã mất những nhà lãnh đạo kiên cường. Nhiều cá nhân giữ những địa vị trong chính quyền trong thời hậu Diệm, đích thực, thiếu các đức tính cần thiết của một nhà lãnh đạo, và chẳng ai có tài bằng Ngô Đình Diệm. Nhưng tầm cỡ của tập thể giới lãnh đạo nói chung không phải là vấn đề then chốt. Vấn đề quan trọng, thực ra chính là sự loại trừ một số người trong giới thượng lưu ra khỏi chính phủ và sự thao túng của phong trào Phật Giáo trong việc vận dụng các nhà lãnh đạo chính phủ. Kể từ tháng 11 năm 1963 về sau những lãnh tụ hàng đầu ở Sài Gòn không ngừng lặp đi lặp lại việc loại trừ những người có tài đáng kể, hoặc vì những người này đã trung thành với ông Diệm, hoặc vì những lãnh tụ đó bị áp lực từ nhóm Phật Giáo tranh đấu…”

Vài trích đoạn trên đây của Lời Tựa đã tóm tắt quan điểm “xét lại” của tác giả về những sự kiện lịch sử liên quan đến ông Hồ Chí Minh, ông Ngô Đình Diệm và chính tình miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1965.

Hơn 400 trang sách kế tiếp đã được tác giả dùng để trưng dẫn những tài liệu chính xác để chứng minh quan điểm trên là đúng. Vì là những tài liệu phức tạp, mới có, cũ có từ nhiều nguồn khác nhau nhiều khi trái ngược mâu thuẫn nhau. Nên không thể nào thu gọn trong phạm vi một bài báo. Vì vậy chúng tôi xin để độc giả tìm đọc trong chính tác phẩm Triumph Forsaken tập I. Sau đây chỉ xin tóm tắt vài ý chính và trích dịch một số đoạn đáng chú ý của mấy chương đầu của tập I, vì tập II chưa xuất bản.

Chương 1:

Di Sản

Mở đầu là quang cảnh tấp nập tưng bừng tại công trường Puginier, Hà Nội (nay là quảng trường Ba Đình) ngày ra đời của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

“Theo lời mời của ông Hồ, vài sĩ quan tình báo OSS Mỹ đứng gần khán đài. Hai chiếc máy bay chiến đấu Lightning P-38 tình cờ bay trên đám đông trong buổi lễ. Cả hai điều đó đã tạo nên một cảm tưởng sai lầm rằng chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ Hồ Chí Minh.”

Trong lời tuyên bố độc lập mở đầu với lời lẽ lấy từ bản tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ và Pháp, ông Hồ đã kịch liệt đả kích thực dân và xác quyết rằng chính phủ của ông đại diện toàn thể nhân dân Việt Nam.

“Ông ta không nói gì đến ý thức hệ chính trị, mà chỉ bàn về mục đích của ông là thành lập một nước Việt Nam độc lập.”

Nhiều người đã cho rằng bản tuyên ngôn này chứng tỏ chủ nghĩa quốc gia chứ không phải chủ nghĩa quốc tế Cộng Sản đã là động lực cách mạng của ông Hồ. Vì vậy nếu như Mỹ đừng ủng hộ Pháp thực dân, và đừng dựng nên những chính phủ tay sai ở miền Nam chống lại ông Hồ thì Việt Nam và Hoa Kỳ đã có thề là đồng minh, và ông Hồ đã quay lại chống Trung Cộng.

“Nếu người Mỹ hiểu lịch sử Việt Nam, thì toàn bộ thảm kịch đã có thể tránh được.” (…)

“Cái lối lý luận trên đã sai lầm một cách chết người.”

“Vì lịch sử Việt Nam và lịch sử của ông Hồ thực sự đã hỗ trợ cho những kết luận ngược hẳn.”

Tác giả đã ôn lại lịch sử Việt Nam qua 7 trang sách để chứng minh.

Sau đó tác giả viết:

“Chỉ có một bằng chứng duy nhất có thể dùng để biện luận rằng ông Hồ không ưa người Tầu và những ngoại nhân khác là câu ông ta nói để bào chữa cho việc để quân Pháp vào Bắc Việt. (Theo Paul Mus, MV) ông Hồ đã nói:

“Thà ngửi cứt Pháp một lúc còn hơn là phải ăn cứt Tầu suốt đời”.

Nhưng rồi tác giả lại viết:

“Chút bằng chứng nhỏ nhoi đó rất yếu. Vì khi ông Hồ nói câu đó, theo lời thuật lại (của Paul Mus), thì phần lớn nước Tầu đang ở dưới quyền cai trị của những người Trung Hoa theo chủ nghĩa Dân Tộc hăng hái chống cộng, và là những người đang tích cực ủng hộ những người Việt quốc gia chống cộng, là đối thủ hùng mạnh nhất của Việt Cộng.”

Tác giả thuật lại việc ông Hồ nhanh chóng chớp thời cơ sau khi Nhật đầu hàng, đem quân cướp chính quyền trong khi các toán quân của các đảng Quốc Gia còn đang tiến chậm chạp từ Trung quốc về. Ông cũng nhấn mạnh đến việc quân của Hồ đã dùng vũ khí của Trung Hoa Dân Quốc và của Mỹ.

Và yếu tố quan trọng khiến ông Hồ thành công bước đầu là “cá tính” của ông ta được người dân tin phục.

Người dân Việt chú ý đến lãnh tụ hơn là đảng và chủ thuyết của lãnh tụ.

Tác giả nêu lên sự kiện Hồ Chí Minh cố thuyết phục những người Mỹ mà ông gặp rằng mình không phải Cộng Sản, mà chỉ là người yêu nước, muốn đem lại độc lập cho đất nước. Nhiều sĩ quan OSS đã tin theo và muốn ủng hộ Việt Minh, trong đó có cả đại tá Archimedes Patti (lúc ấy là đại úy, MV). Nhưng tác giả đã trưng dẫn bức điện cùa chính Patti gửi về Hoa Thịnh Đốn ngày 29-8-45 viết rằng, “những phần tử đỏ đang lãnh đạo chế độ Việt Minh đi trệch đường, và rằng những nhà lãnh đạo chế độ thường nói tốt về chế độ tự do dân chủ, nhưng trong thực tế họ đang chuẩn bị những hành động phi tự do, phi dân chủ.”

Sau đó tác giả đã nêu lên việc Việt Minh giết những người yêu nước như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn (2 lãnh tụ VNQDĐ) và Bùi Quang Chiêu (Đảng Lập Hiến), Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Trương Đình Thi, Trương Tử Anh (lãnh tụ Đại Việt)…

Về chiến thắng Điện Biên của CS, tác giả đã trưng dẫn Janos Radvanyi (Ảo tưởng và thực tại, South Bend: Gateway, 1978) cho biết chính Võ Nguyên Giáp đã tiết lộ với tác giả (Janos):

“Trận Điện Biên Phủ là cố gắng tuyệt vọng cuối cùng của Quân Đội Việt Minh. Lực lượng chiến đấu của nó sắp sửa kiệt quệ hoàn toàn. Nguồn tiếp tế gạo đã cạn kiệt. Dân chúng đã lãnh đạm thờ ơ đến độ thật là khó có thể lấy thêm lính. Nhiều năm chiến đấu trong rừng rậm đã làm cho tinh thần chiến đấu của các đơn vị sa sút tột cùng.”

Sau một số bằng chứng khác, Mark Moyar kết luận:

“Tóm lại cả hai phía đều đã có cơ may chiến thắng trận quyết định tại Điện Biên Phủ.” (trang 26)

Chương 2:

Hai nước Việt Nam

(từ tháng 7-1954 đến tháng 12-1955)

Sau khi mở đầu bằng hiệp định Genève và việc thành lập Tổ Chức Hiệp Ước Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO), tác giả nhắc đến nhu cầu ủng hộ của Mỹ đối với những lãnh tụ các Quốc Gia bị trị đang bị Cộng Sản đe dọa. Và ông viết:

“Nam Việt Nam thực sự đang có một người yêu nước cương nghị có thể trở thành nền tảng cho một quốc gia chống cộng, dù rằng vào mùa hè năm 1954 nhiều người Mỹ không tin hẳn như vậy.”

Rồi ông để nhiều trang nói về con người và hoạt động của nhân vật này…

“Ngô Đình Diệm đã rời Việt Nam vào năm 1950, sau khi bị Việt Minh tuyên án tử hình, vì đã phát triển một tổ chức yêu nước mới. Sang Nhật, ông gặp Westley Fishel, giáo sư chính trị học tại đại học California, lúc ấy đang làm việc cho CIA. Theo lời khuyên của Fishel, Diệm sang Mỹ năm 1951 thuyết trình tại các trường cao đẳng và tìm sự ủng hộ của các viên chức chính quyền. Diệm được sự nâng đỡ của một số người Mỹ có địa vị cao, kể cả thẩm phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas, hồng y Francis Spellman, dân biểu tiểu bang Montana là Mike Mansfield, và dân biểu John F. Kennedy thuộc tiểu bang Massachusetts. Tháng 6 năm 1954, vào giữa cuộc thương thuyết ở Genève, người Pháp tuyệt vọng, đã trao trả độc lập hoàn toàn cho chính quyền Bảo Đại, và ông này đã yêu cầu Diệm nhận chức thủ tướng.”

“Quyết định của Bảo Đại không do áp lực của Mỹ, như có người suy đoán, mà là vì nhiều lãnh tụ đảng phái quốc gia Việt Nam ủng hộ Diệm. Bảo Đại nói với Diệm: ‘Đất nước có nguy cơ bị chia đôi. Ông không có quyền tránh né trách nhiệm. Sự an toàn của Tổ Quốc đòi hỏi như vậy.’ Diệm đã từng khước từ chức thủ tướng do Bảo Đại mời nhiều lần. Nhưng lần này ông ta nói, sẽ nhận, nếu Bảo Đại cho ông ta được toàn quyền kiểm soát toàn bộ các vấn đề dân sự và quân sự. Từ trước Bảo Đại chưa bao giờ cho ai điều đó. Nhưng lần nay ông ta đồng ý. Và Diệm trở thành thủ tướng.”

Sau đó, tác giả nói đến những khó khăn chồng chất ban đầu do di sản chiến tranh và chia rẽ để lại mà ông Diệm phải vượt qua. Cầu đường bị phá, hệ thống viễn thông bị cắt, nông dân thất nghiệp lang thang, kể cả dân tỵ nạn từ miền Bắc trở thành gánh nặng. Nặng nhất là guồng máy hành chính và quân sự tan hoang, sau khi người Pháp ra đi và hàng vạn lính đào ngũ. Riêng về việc chuyển vận, tổ chức tiếp đón và định cư cho gần một triệu dân, tác giả đã trích dẫn nhà báo Bernard Fall, tác giả cuốn The Two Vietnams:

“Bernard Fall, một trong những người từng chỉ trích ông Diệm kịch liệt nhất, đã nhận xét: “Di chuyển gần một triệu lính được huấn luyện thành thục trong thời bình đã là một kỳ công về vận chuyển và tiếp liệu. Còn di chuyển cũng ngần ấy thường dân tỵ nạn chạy trốn vô tổ chức trong vòng không đầy một năm chắc chắn sẽ còn là một thành tích nổi tiếng về lâu về dài.”.”

Trong chương này tác giả nêu lên hai nhân vật Mỹ nổi bật, một người cố giúp ông Diệm lướt thắng mọi trở ngại và một người bằng mọi cách muốn hạ ông Diệm hay thay thế ông bằng những lãnh tụ khác. Đó là Edward Geary Lansdale, đại tá, và J. Lawton “Lightning Joe” Collins, đại tướng. Lansdale được ủy nhiệm của Allen Dulles, giám đốc CIA. Còn Collins là đặc phái viên toàn quyền của tổng thống Mỹ, đồng thời cũng là bạn thân của Tổng Thống Eisenhower.

Vì tin tưởng rằng một chính phủ mạnh phải có một đạo quân mạnh, nên “Tổng Thống Eisenhower đã ngay lập tức thuyên chuyển tướng J. Lawton “Lightning Joe” Collins, nguyên tham mưu trưởng Lục Quân, nguyên đại diện Hoa Kỳ tại ủy ban quân sự thuộc Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tới ngay Sài Gòn thay thế đại sứ Heath để quán xuyến mọi nỗ lực. Khi Collins lên đường đi Sài Gòn, ngoại trưởng Dulles bảo ông, Hoa Kỳ hy vọng cơ may thành công chỉ có một trên mười.”1

Muốn chứng tỏ ông Diệm là người khó hiểu đối với người Mỹ, tác giả đã nêu hai nhận xét trái ngược của tướng Collins về ông Diệm như sau:

“Mới đầu Collins báo cáo: “Diệm là một người nhỏ thó, nhút nhát, thiếu tự tin hầu như không có hấp lực nào…” (…) Vài tháng sau, Collins lại ca tụng phẩm cách của Diệm: “Sự liêm khiết, lòng yêu nước mãnh liệt, sự nhẫn nại và những đức tính linh thiêng khác làm ông ta trở thành vị thủ tướng tốt nhất có thể có để lãnh đạo Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Cộng.”2.

Nhưng rồi sau đó Collins lại hàng chục lần yêu cầu Hoa Thịnh Đốn thay thế vị thủ tướng mà ông gọi là bất tài và ương ngạnh này.

Trong bài Tết Con Heo nói chuyện Xuân Con Mèo, chúng tôi đã trưng dẫn Seth Jacobs, tác giả cuốn America’s Miracle Man in Vietnam, nói tướng Collins đã 12 lần đề nghị với Tổng Thống Eisenhower thay thế ông Diệm, bằng một người khác, và nhiều lần ông đã nêu đích danh Bác Sĩ Phan Huy Quát, hay Bác Sĩ Phan Huy Đán (hay Phan Quang Đán). Thì ở đây Tiến Sĩ Mark Moyar cũng năm lần bảy lượt nói đến chuyện tướng Collins đề nghị với Tổng Thống nên tìm người khác thay thế một ông Diệm ngang bướng, bất phục thiện. Dĩ nhiên Tổng Thống tin người bạn thân của mình, lại là đại diện toàn quyền có mặt tại chỗ. Nên đã nhiều lần Tổng Thống muốn thuận theo. Nhưng những biến cố dồn dập trong vòng mấy tháng cuối năm 1954 và đầu năm 1955 cho thấy khả năng phi thường của ông Diệm trước những vấn đề nan giải đến tuyệt vọng, đã khiến Tòa Bạch Ốc thay đổi ý định. Thay vì thay thế ông Diệm, Tổng Thống Mỹ đã triệu hồi hẳn vị Đại Sứ Toàn Quyền về Mỹ. Rồi Eisenhower ca ngợi Ngô Đình Diệm là “Con Người Thần Kỳ” (A Miracle Man).

Năm 1957 ông cho trải thảm đỏ, ra tận chân cầu thang máy bay đón Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa. Sau đây là một vài trích đoạn về những đề nghị liên tiếp của tướng Collins nhằm đánh đổ Ngô Đình Diệm được tác giả nêu lên giữa lúc ông Diệm phải đối phó với quân đội viễn chinh Pháp hãy còn trấn giữ nhiều địa điểm trọng yếu tại thủ đô, và hiện đang ủng hộ loạn tướng Nguyễn Văn Hinh muốn lật ông Diệm; các giáo phái muốn duy trì tình trạng “Thập nhị sứ quân”, bất tuân lệnh thủ tướng; giữa lúc nhóm Bình Xuyên vốn được Quốc Trưởng Bảo Đại ưu đãi, hiện đang làm mưa làm gió, vì toàn bộ lực lượng Cảnh Sát Công An nằm trong tay Lai Văn Sang, cánh tay phải của đầu đảng Lê Văn Viễn tục gọi Bảy Viễn; giữa lúc chương trình định cư gần một triệu dân tỵ nạn CS từ miền Bắc vào đang cần xúc tiến thật nhanh để tạm thời giải quyết những khó khăn trở ngại do tâm lý và phong tục tập quán khác nhau giữa hai miền Nam Bắc…

Trong hoàn cảnh đó, “Giới ngoại giao ở Sài Gòn hầu hết đều tin rằng chính phủ Diệm sắp đổ đến nơi. Và báo chí của Pháp tiên đoán sự sụp đổ của Diệm với sự vui mừng khôn tả. Trong khi đó cả báo Mỹ cũng tiên đoán như vậy, nhưng không vui.”

“Khi Tướng Collins từ Sài Gòn về đến Hoa Thịnh Đốn (đề tường trình), ông đã nói với Tổng Thống Eisenhower rằng cần phải loại bỏ Diệm ngay tức khắc.”

Tổng Thống và Ngoại Trưởng đưa ra nhiều lý do để bác bỏ và đòi phải đợi cho đến lúc tìm được người tương xứng để thay thế.

“Nhưng Collins vẫn cứng rắn (như kim cương). Phải loại bỏ Diệm ngay.”

Và hai nhà lãnh đạo Mỹ đành nhượng bộ. Mọi văn kiện cần thiết đã soạn thảo gửi đi Paris và Sài Gòn để tìm người thay thế ông Diệm.

“Bộ ngoại giao gửi công điện đi ngày 27 tháng 4 chỉ ít phút sau 6 giờ, giờ Hoa Thịnh Đốn.”

“Vừa đúng lúc xem ra chế độ Diệm đang tiến tới nhà quàn, thì Diệm lấy một sáng kiến làm đảo lộn kế hoạch của Collins.” (…)

Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã chiến thắng các phe phái chống ông ra sao, lịch sử đã ghi đầy đủ, và được tác giả nhắc lại một cách tóm tắt.

Sau khi đánh bại mọi thế lực kình chống ông, ông Diệm bắt đầu tập trung nỗ lực vào việc truy lùng những phần tử Cộng Sản được gài lại ở miền Nam, sau khi một số cán bộ đã tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève.

Chương 3:

Sống chung hòa bình:

Từ 1956 đến 1959.

Tác giả dành mấy trang đầu nói về chủ trương sống chung hòa bình của Khrutshchev khiến Hà Nội có vẻ nghiêng về phía Trung Cộng và tìm sự ủng hộ của “anh ba”. Nhưng Trung Cộng còn bị vết thương chiến tranh Triều Tiên hành nên lạnh nhạt và dè dặt khuyên đàn em “phải nhẫn nại”.

Rồi ông nói đến hậu quả tai hại của Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc. Những bất mãn từ nhiều phía. Những cuộc nổi loạn. Vụ thảm sát tại Quỳnh Lưu, trong đó ông Hồ đã dùng cả sư đoàn 325 để đàn áp giết hàng ngàn người vô tội.

Sau đó là tình trạng kinh tế hầu kiệt quệ của miền Bắc do việc công hữu hóa mọi cơ sở thương mại, và chế độ hợp tác hóa công thương nông nghiệp…

Nửa sau của chương sách nói về những thành quả của chính quyền Diệm về phương diện kinh tế, giáo dục, an ninh. Về công cuộc “cải cách điền địa”. Về “bức tường người” (human wall) mà ông Diệm dựng lên ở cao nguyên là lãnh thổ chiến lược dùng để chống lại sự xâm nhập tương lai của Cộng Quân. Tác giả đã nhắc lại lời Tổng Thống Diệm từng nói: “ai giữ được cao nguyên thì giữ được cả nước”.

Về bản chất chế độ Việt Nam Cộng Hòa, tác giả phê bình nhẹ nhàng rằng tuy theo hiến pháp đó là một chế độ tự do dân chủ theo Tổng Thống Chế, nhưng trên thực tế ông Diệm đã khéo léo nắm giữ cả 2 quyền lập pháp và tư pháp. Vì quốc hội gồm phần lớn người trung thành với ông. Tác giả trưng dẫn lời của Douglas Pike nói về tự do ngôn luận của VNCH như sau: “Một trong những hồi ức mạnh nhất của tôi tại Việt Nam năm 1960 là nghe thấy dân Việt Nam tại những nơi công cộng nói lớn tiếng, rất dễ nghe thấy, rằng ‘chế độ này là chế độ độc tài, và chúng tôi không có tự do ngôn luận’ rồi họ tha hồ kể ra những tội lỗi cũa chính phủ. Dường như có một luật bất thành văn là chống đối vô tổ chức thì được, nhưng chống đối có tổ chức thì cấm.” (Xem Việt Cộng của Douglas Pike, Cambridge M.I.T., 1966, tr. 59)

Để phần nào bào chữa cho ông Diệm, tác giả viết:

“Diệm thường nhắc đi nhắc lại lời thú nhận rằng ông ta ước ao có được nền dân chủ trong thời gian này. Nhưng ông ta lại nói dân chủ không thể tới ngay tức khắc. Và thực ra ông ta quan niệm dân chủ không giống người Tây phương, hay những người Việt đã bị Tây phương hóa. Ông ta hiểu dân chủ như thế này: “Dân chủ chủ yếu là một cố gắng thường trực để tìm ra những phương tiện chính trị đúng đắn ngỏ hầu bảo đảm cho người dân cái quyền phát triển tự do và sáng kiến tối đa, phát triển tinh thần trách nhiệm và cuộc sống thiêng liêng.” (trang 75)

Chương 4:

Nổi dậy:

1960

Trong chương này tác giả nói về những cuộc nổi dậy của Cộng quân, đặc biệt ở Bến Tre (Kiến Hòa), Tây Ninh và cả cuộc nổi loạn của một số sĩ quan VNCH, được biết đến như một chính biến hay đảo chính hụt tháng 11 năm 1960.

Trước hết là vai trò lãnh đạo những cuộc nổi dậy tại tỉnh Bến Tre của nữ tướng Việt Cộng Nguyễn Thị Định.

“Tất cả những gì cộng Sản có thể làm được là tổ chức hàng ngàn phụ nữ bao vây trụ sở các quận lỵ, phóng uế trên đất (defecate on the ground!), và đòi trừng phạt quân của chính phủ, đòi bồi thường cho các nạn nhân của chúng. Tuy những cuộc nổi dậy này đã làm sống lại phong trào Cộng Sản trong vùng và cho họ một số vũ khí. Nhưng không đạt được mục đích lập một vùng giải phóng lâu dài.”

Hoạt động của Cộng quân ở Tỉnh Tây Ninh gây cho chính phủ nhiều tổn thất hơn. Sáng ngày 26-1-60, 4 đại đội VC tấn công một căn cứ của quân chính phủ, giết chết viên sĩ quan xử lý thường vụ trung đoàn trưởng và 40 quân sĩ khác. Vì thất bại này, viên trung đoàn trưởng bị giáng chức xuống đại úy và sư đoàn trưởng bị cách chức.

Tháng 3 lại có thêm nhiều cuộc đụng độ nữa. Nhưng sau đó các cuộc tấn công bằng quân sự ngừng hẳn. Chính sách của Hà Nội là tạm thời chờ đợi. Văn kiện đảng ghi chỉ thị của Ủy ban Trung Ương Đảng đưa ra vào tháng 4:

“(…) chúng ta cần thời gian để cho phong trào phản đế và đặc biệt là phong trào chống Mỹ ở Đông Nam Á lớn mạnh hơn, và hoạt động với phong trào này nhằm làm suy yếu và cô lập bọn đế quốc Mỹ và đồng minh của chúng.”

Việt Cộng trở lại hình thức du kích chiến, ám sát, bắt cóc. Mỗi tháng trong năm tháng đầu năm 1960 có 150 vụ ám sát và 50 vụ bắt cóc!

Dân vệ không đủ sức chống lại những hành động khủng bố này. Theo tác giả là vì thiếu lãnh đạo, và thiếu vũ khí. Ông quy trách cho đại sứ Durbrow không chịu cấp vũ khí theo yêu cầu của ông Diệm.

Trong giai đoạn Cộng quân lui về du kích chiến và khủng bố ám sát, tác giả đưa ra nhận xét là cán bộ Cộng Sản tỏ ra hơn các viên chức chính phủ về phương diện lãnh đạo, nhất là về tuyên truyền. Cộng sản biết cách thỏa mãn nhu cầu và đòi hỏi của người dân. Họ không giảng về lý thuyết chính trị, cũng chẳng nhấn mạnh đến lòng yêu nước, hay chủ nghĩa dân tộc, càng tránh né không bao giờ nói đến chủ nghĩa Cộng Sản. Mà chỉ hứa chắc nịch rằng, nếu đánh đổ được chính quyền thì sẽ được chia đất.

Nhưng về cuộc Cải Cách Đẫm Máu ở miền Bắc, thì có lẽ chẳng những dân quê miền Nam mà ngay cả cán bộ CS ở trong Nam cũng chưa từng nghe biết. Về hiệu quả tai hại của tuyên truyền tác giả nêu một ví dụ của một thanh niên tên Lê Văn Toán, chỉ vì nghe lời thuyết giảng hấp dẫn của cán bộ CS mà y đã giết cha mình, vì tin rằng ông làm điều sai trái như CS nói.

Tác giả nói nhiều về việc Tổng Thống Diệm xin viện trợ để trang bị cho 20,000 lính chuyên dùng vào việc bảo vệ dân quê, canh gác cầu đường và trụ sở các thị xã, quận lỵ. Tướng Williams tán thành, nhưng bị đại sứ Durbrow bác bỏ.

Đặc biệt trong cuộc đảo chính hụt đầu tháng 11, tác giả nghi ngờ Durbrow có yểm trợ phe đảo chính. Tuy không có bằng chứng hiển nhiên. Nhưng ông nêu lên rất nhiều sự việc, cũng như lời nói của vị đại sứ này khiến ai đọc cũng phải nghi như vậy. Có lẽ vì thế mà người ta thấy Tổng Thống Diệm, mặc dù đã dẹp xong cuộc nổi loạn, đã lớn tiếng la mắng kẻ thù, mà ai cũng hiểu ông ám chỉ chính đại sứ Hoa Kỳ, Durbrow.

Sau cuộc đảo chính một nhân viên CIA từng liên lạc chặt chẽ với tòa đại sứ là Carver đã phải rời Việt Nam, rồi sau đó ít lâu chính ông Durbrow cũng ra đi. Chính bản tuyên ngôn của nhóm Caravelle cũng được Durbrow sau này cho biết là do một vài người Mỹ giúp soạn thảo. Cựu đại sứ Bùi Diễm, trong In The Jaws of History, thì viết rằng ông là người giúp soạn thảo bản tuyên ngôn này.3

Điểm khá quan trọng mà chúng tôi muốn nêu lên về chương 4 này, là tác giả Mark Moyar đã trưng dẫn nhiều tài liệu để chứng minh rằng vào thời gian đó cả Liên Xô lẫn Trung Cộng đều không tán thành việc Bắc Việt tấn công miền Nam bằng quân sự, mặc dù vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, họ đã cố đưa một số đảng viên cốt cán vào dựng nên được cái gọi là Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, mà tác giả gọi là một thứ Việt Minh của miền Nam do Đảng Nhân Dân Cách Mạng (một chi nhánh hay đúng hơn, một cái tên khác của đảng Lao Động, tức đảng Cộng Sản Việt Nam) lãnh đạo, cũng giống như năm 1945 Việt Minh cũng do đảng Cộng Sản lãnh đạo vậy. Về việc này Mark Moyar viết:

“Bắc Việt liên tục phải đương đầu với sự hạn chế bạo động do Trung Cộng và Liên Xô áp đặt, vì họ sợ Eisenhower nổi trận lôi đình. Vào tháng 5, Trung Cộng bảo Bắc Việt rằng Nam Việt Nam sẽ phải được giải phóng, nhưng bằng chiến tranh trường kỳ gồm cả chính trị lẫn quân sự, chứ không phải dứt khoát bằng một chiến dịch quân sự.” (trang 101)

Điểm chót về chương này cũng rất quan trọng không thể bỏ qua là trước tình hình Ai Lao bị Cộng Quân xâm chiếm, Tổng Thống Eisehower đã hết sức quan ngại. “Ông nói: ‘Chúng ta không thể để Ai Lao rơi vào tay Cộng Sản, ngay cả nếu chúng ta phải chiến đấu – cùng với các đồng minh hay ngay cả không có đồng minh’. Nếu cuộc khủng hoảng ở Ai Lao xảy ra sớm hơn, rất có thể Eisenhower đã khởi công đưa lực lượng Mỹ vào Ai Lao.

Nhưng lúc ấy chỉ còn vài tuần nữa hết nhiệm kỳ Tổng Thống, nên ông quyết định để cho vị tổng thống kế nhiệm lấy quyết định về Ai Lao và xem xét tường tận chính sách cần áp dụng.” Nhưng theo tác giả vị tổng thống sau này là “người mà ý chí và khả năng có thể khai chiến ở Ai Lao là vấn đề tranh cãi.”

Ý tác giả là Tổng Thống Kennedy sẽ không có ý chí và khả năng đánh Cộng như vị tiền nhiệm, là một thống tướng, chiến lược gia hàng đầu của Mỹ đã lãnh đạo quân Đồng Minh chiến thắng Phát-xít Đức trong thế chiến II.

Bằng những lời trên tác giả đã kết thúc chương 4.

Chương 5:

Dấn thân nhập cuộc:

1961.

Đầu chương tác giả nói về sự ngưỡng mộ mà Tổng Thống Kennedy, khi còn là nghị sĩ đã dành cho ông Diệm.

Về những nhân vật có ảnh hưởng lớn với vị tổng thống mới như McNamara, McGeorge Bundy, Dean Rusk. Rồi ông trưng dẫn câu nói lịch sử của Kennedy trong ngày nhậm chức:

“Mọi dân tộc nên biết, dù họ muốn điều tốt hay điều xấu cho chúng tôi, rằng chúng tôi sẽ trả bất cứ giá nào, mang bất cứ gánh nặng nào, chịu bất cứ cực khổ nào, ủng hộ bất cử thân hữu nào, chống đối bất cứ kẻ thù nào để bảo đảm sự tồn tại và thắng lợi của tự do.”

Trước sự hứa hẹn triệt để ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm của Tổng Thống, Đại sứ Durbrow đành bỏ đòi hỏi nới rộng dân chủ tự do, đồng thời cũng không còn phản đối chuyện trang bị thêm cho 20,000 lính.

Đại tá Lansdale, trước kia bị đại sứ Durbrow ngăn cản, nay đã có thể thăm viếng Việt Nam và đề nghị, “việc đầu tiên là phải thay thế vị đại sứ mất thiện cảm của ông Diệm này”. Chỉ hai ngày sau khi tiếp Lansdale, Tổng Thống Kennedy chấp thuận ngân khoản để tăng thêm 20,000 quân cho Việt Nam Cộng Hòa.

Tác giả nhìn nhận miền Nam trong hai năm 1960 và 1961 đã thất bại trong việc chống du kích và nổi dậy của Cộng quân. Ông trích lời tướng McGarr ước đoán Diệm chỉ kiểm soát được 40% nông thôn. Nhưng phía VC cũng không lạc quan gì. Vì theo Lê Duẩn lực lượng quân sự của Diệm vẫn còn nguyên vẹn.

Vấn đề mà Tổng Thống Kennedy quan tâm nhất, tuy vậy, không phải Việt Nam mà là Ai Lao. Tại đây Việt Cộng đã có 12,000 “quân viễn chinh”. Nhưng thay vì theo lời khuyên của nguyên Tổng Thống Eisenhower đem quân vào Ai Lao, “Tổng Thống Kennedy đã quyết định không dùng võ lực và chỉ phô trương lực lượng. (…)” (trang 127)

Rồi sau đó giao cho Averell Harriman, người cực lực chống đối việc can thiệp trực tiếp vào Ai Lao, trách nhiệm thương thuyết với đối phương để đạt một thỏa hiệp về trung lập hóa Ai Lao.

“Ngày 29-4-61 Tổng Thống Kennedy chấp thuận đề nghị tăng số cố vấn tại Nam Việt Nam từ 685 lên 785. Đây là lần đầu tăng số cố vấn Mỹ kể từ năm 1956. Dân vệ được tăng từ 32,000 lên 68,000… và Lục Quân tăng từ 170,000 lên 200,000.”

“Tổng thống cũng theo đề nghị của Lansdale là tân đại sứ Frederick Ernest “Fritz” Nolting nên cải thiện mối giao hảo với Tổng Thống Diệm… và đừng áp lực ông này phải loại bỏ ông Nhu…”

Về các cuộc đụng độ giữa quân chính phủ và Cộng quân, tác giả ghi lại những trận đánh ngày đầu tháng 9 và ngày 17 tháng 9, trong đó tỉnh trưởng Phước Thành Nguyễn Minh Mẫn bị giết phân thân, và vợ cũng bị bắn. VC sớm rút lui mang theo một trăm súng, giải thoát và dẫn đi 270 tù nhân CS.

Đầu tháng 3 đặc phái viên của Tổng Thống là Tướng Maxwell Taylor đến quan sát tại chỗ và báo cáo: “Hồ sơcho thấy tình hình chính trị tại miền Nam xấu đi từ 1959 là do chính phủ không có khả năng bảo vệ dân và điều khiển chiến cuôc một cách hữu hiêu.” Nhưng viễn cảnh không đến nỗi ảm đạm. Taylor viết: “Mặc dầu có khuyết điểm, Diệm vẫn có khả năng phi thường, kiên cường và dũng khí.” Ông khuyên không nên thay thế Diệm, vì sẽ dẫn đến hỗn loạn.

Cuối năm 1961 hàng viện trợ đổ tới Việt Nam càng ngày càng nhiều. Số người Mỹ cũng gia tăng lên tới 2,600. Kennedy cử tướng Paul Harkins cầm đầu phái bộ quân sự Mỹ tại Việt Nam. Tướng Harkins cũng như tướng McGarr luôn có lập trường ủng hộ và bênh vực Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Cuối chương 5, tác giả viết: “Tháng cuối cùng của năm 1961 đánh dấu bước đầu của khúc ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam… Chiến lược của Kennedy nhằm cung cấp cố vấn và viện trợ cho Nam Việt, chứ không gửi quân tác chiến sang là căn cứ vào sự tin tưởng vào khả năng chiến đấu của Nam Việt Nam…”

Chương 6:

Sự trẻ trung hóa,

từ tháng Giêng đến tháng 6 năm 1962.

Kennedy tăng viện, gửi thêm cố vấn vào Việt Nam. Nhưng lại muốn giấu. Ký giả bị cấm bay trên trực thăng trong những phi vụ hành quân. Giảm bớt sự phổ biến tin chiến sự. Ký giả quay ra săn tin để đả kích Diệm. Cả Diệm lẫn hai người ủng hộ ông là đại sứ Nolting và đại tướng Harkins đều kém về thu phục báo giới. “Không thèm lấy tin từ các giới chức Mỹ và chính phủ Diệm, báo giới Mỹ ở Sài Gòn đi lượm tin từ những trí thức người Việt và nhân viên Mỹ không làm việc ở tòa Đại Sứ hay cạnh bộ chỉ huy cao cấp cố vấn quân sự Mỹ.

Các phóng viên thường không để ý là 2 nguồn tin này thường thiếu sót, sai lạc. Roger Hilsman thuộc bộ Ngoại Giao đã nhận xét đúng trong thư hồi tháng 2 rằng, một số nhân viên Mỹ đã ở Việt Nam quá lâu và từng thất vọng và ác cảm với chính quyền Việt Nam, hoặc bị ảnh hưởng không tốt của những người có quan điểm bất đồng chính kiến với chính quyền. Những phần tử bất mãn lâu năm đó mớm cho ký giả Mỹ quan điểm chủ bại. Họ cũng khuyến khích những kẻ bất đồng chính kiến trong số những trí thức Việt Nam từng chịu sự giáo dục của Pháp lúc ấy thường tập trung ở Sài Gòn.”

Sau vụ dinh Độc Lập bị oanh kích và con gái ông bà Nhu thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, báo chí Mỹ làm to chuyện, cho rằng nhân dân oán ghét chế độ, ông Diệm đã cứng rắn hơn với ký giả ngoại quốc. Ông cho lệnh tìm cách trục xuất Homer Bigart của Nữu Ước Thời Báo và Francois Sully của Tuần Tin Tức.

Về mặt quân sự, hai tháng đầu năm 1962, không lấy làm hứa hẹn cho Sài Gòn. Vẫn những cuộc hành quân lớn không kết quả.

“Trong khi đó Cộng quân càng thêm mạnh. Tình báo Mỹ tháng 2 cho biết, VC đã tăng quân số từ 20,000 lên 25,000 trong tháng 12 năm trước.”

Nhưng đến mùa xuân thì tình hình khả quan hơn. Một trong những chiến thắng lớn nhất của chính quyền Sài Gòn trong mùa xuân là trận đánh ngày 6 tháng 4 ở Trà Bồng. Hãng AP loan VC thua chạy để lại 45 xác, và có thể có nhiều xác đã được mang theo. Phía Sài Gòn có 16 chết và 33 bị thương. Đến giữa năm 1962 số cố vấn quân sự Mỹ đã tăng vọt, từ 2,600 lên đến 11,500.

Về hiệu quả của sự cố vấn của Mỹ, tác giả phân biệt:

“Cố vấn về chính trị của người Mỹ thường vô bổ, vì họ thiếu hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Trong khi đó cố vấn về quân sự trái lại đã giúp ích nhiều cho sự tiến bộ trong công cuộc điều binh bố trận.”

Tác giả đã giành 3 trang để nói về Ấp Chiến Lược mà ông cho rằng của ông Nhu, chứ không phải của Sir Thompson như nhiều người nghĩ. Ông bảo đây là một cuộc cách mạng hóa nỗ lực chiến tranh.

“Khi giải thích về chương trình ACL, Diệm và Nhu thường năng nói đến tính dân chủ của nó, nhưng là thứ dân chủ theo kiểu Việt Nam, chứ không phải dân chủ theo kiểu Tây Phương.”

Người Mỹ có vẻ không hài lòng vì chương trình này được thực hiện sau lưng họ, và lại dùng cố vấn chính là người Anh (Sir Thompson) chứ không phải là người Mỹ (Rufus Phillips).

Nhưng dầu sao những tiến bộ về hoạt động quân sự, kèm theo một số cải tổ trong guồng máy cai trị khiến người Mỹ không còn muốn ép Tổng Thống Diệm phải mở rộng chính phủ, đưa thêm người của đối lập vào nữa.

Phía Hà Nội thấy Mỹ có vẻ dấn thân và chế độ Sài Gòn xem ra ổn vững nên ngỏ ý muốn thương thảo với cả Diệm lẫn Mỹ, sẵn sàng chấp nhận một miền Nam Việt Nam trung lập với một chính phủ liên hiệp gồm mọi nhóm chính trị tôn giáo và các tổ chức xã hội.

Trong khi đó Hồ Chí Minh được Liên Xô cho 3,000 súng và Trung Cộng cung cấp 90,000 vũ khí đủ để trang bị cho 230 tiểu đoàn mới.

Phần cuối chương 6, tác giả phân tích tình hình Ai Lao và hiệp định Genève về Ai Lao.

Tháng 4, Tổng Thống Kennedy theo đề nghị của Harriman cắt viện trợ cho chính phủ của hoàng thân Phoumi hòng tiến tới một chính phủ liên hiệp 3 phe. Tổng Thống Diệm viện dẫn bài học lịch sử về Cộng sản Hy Lạp chỉ bị đánh bại sau khi Ti-tô không cho chúng lợi dụng lãnh thổ Nam Tư, để khẩn khoản yêu cầu Hoa Kỳ ngăn cản không cho Việt Cộng lợi dụng lãnh thổ Ai Lao để xâm nhập miền Nam Việt Nam. Nhưng không được.

Kennedy quá tin Harriman, nên đã không nghe lời những cố vấn phe “diều hâu”, như McNamara, McCone. Ngày 13 tháng 5, nguyên tổng thống Eisenhower đã nói với hai ông này rằng, “Nếu mất Ai Lao thì cuối cùng Nam Việt Nam và Thái Lan sẽ mất.” (…) Vì vậy phải giữ Ai Lao bằng mọi giá. Ít nhất cũng phải giữ được một nửa.

Nếu cần đến bom nguyên tử chiến thuật để giữ Ai Lao cũng không từ.

Nhưng Harriman nhất định cho rằng Liên Xô sẽ bảo đảm việc Việt Cộng rút hết khỏi Ai Lao. Quả thực Khrutshchev có gửi cho Tổng Thống Kennedy một lá thư hứa Cộng quân sẽ không có hành động quân sự nào rộng lớn ở Ai Lao. Nhưng thực tế sau này cho thấy đấy chỉ là lời hứa hão.

Vì đại sứ Nolting tỏ ý không tán thành hiệp ước trung lập hóa Ai Lao, nên Harriman lại một lần nữa vận động để đưa Nolting ra khỏi Nam Việt Nam. Nhưng không thành công.

“Tuy nhiên sự chống đối của Nolting không phải là vấn đề quan trọng đối với Harriman như sự chống đối của Diệm, vì Diệm là lãnh tụ tối cao của Đồng Minh có chủ quyền.”

Nhưng rồi mọi sự cũng xong. Với lời hứa ngọt ngào của Tổng Thống Kennedy, Tổng Thống Diệm cuối cùng đã để cho ngoại trưởng VNCH ký hiệp ước đó một cách bất đắc dĩ, mà trong lòng thi lo âu. Với hiệp ước này, Ai Lao có chính phủ liên hiệp gồm 3 phe: Phe Trung Lập của hoàng thân Souvanna, phe hữu của hoàng thân Phoumi và phe cộng của hoàng thân Souphanouvong, em hoàng thân Souvanna..

Tác giả kết thúc chương này bằng một nhận định lạc quan về tình hình Nam Việt Nam, mặc dù có sự xâm nhậpgia tăng của Cộng quân từ Ai Lao. “Một sự tiến bộ đáng ngạc nhiên trong quân đội. Chương trình Ấp Chiến Lược trở thành cốt lõi của công cuộc bình định.”

Chương 7:

Tấn công:

từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1962.

Mở đầu là việc bổ nhiệm tướng Paul Harkins làm trưởng đoàn cố vấn và những nỗ lực của ông nhằm ảnh hưởng đến những quyết định cần thiết của Tổng Thống Diệm liên quan đến việc cải tiến các đơn vị tác chiến.

Harkins rất năng động và thường đi xem xét hoạt động của các cố vấn tại hiện trường, trái với lời cáo buộc của một số ký giả Mỹ là ông chỉ ngồi ở văn phòng.

Tác giả trưng dẫn chiến thắng của sư đoàn 7 tại Đồng Tháp Mười ngày 20 tháng 7 làm ví dụ về kết quả của những khuyến cáo của tướng Harkins về việc chỉ huy và tinh thần tấn công. Tướng Harkins đã nói với Tổng Thống Diệm: “Chỉ có một cách để chiến thắng là tấn công, tấn công, và tấn công.” (Tr.168)

Phó đại sứ William Truehart lớn tiếng ca ngợi những tiến bộ đạt được là “đáng khích lệ kinh khủng”. Nhưng báo giới Mỹ thì không hào hứng như vậy. Sau khi Homer Bigart và Francois Sully hết hạn hộ chiếu, phải rời Việt Nam, chỉ còn một số nhà báo rất trẻ, trong số phải kể đến Neil Sheehan, 25 tuổi, David Halberstam, 28 và Malcolm Browne, 32. Theo tác giả, những nhà báo trẻ này đòi rằng họ phải được biết rõ mọi sự thực về chiến tranh, những thắng lợi cũng như những thất bại và khuyết điểm, lỗi lầm của chính phủ và quân đội. Vì vậy họ luôn chỉ trích các giới chức Mỹ và Việt Nam đã không cho họ được toàn quyền tiếp cận các nguồn tin. Tuy nhiên tác giả không kết tội họ là cố tình làm lợi cho địch. Ông viết:

“Although they regularly denounce American and south Vietnamese leaders and some of their policies, they supported the basic American goal of defeating the Viet Cong in order to preserve a non-Communist South Vietnam and save the Southeast Asian dominoes.” (Tuy họ thường tố cáo các nhà lãnh đạo và một số chính sách của Mỹ và Nam Việt Nam, nhưng họ vẫn ủng hộ mục tiêu cơ bản của người Mỹ là đánh thắng Việt Cộng để duy trì một miền Nam Việt Nam không cộng sản và cứu các quân đô-mi-nô Đông Nam Á.”

Trong mùa hè 1962 những phóng viên mới để quá nhiều thời giờ cho một mình sư đoàn 7. Tuy Halberstam và Sheehan và hầu hết các phóng viên khác phần nhiều lấy tin từ những nguồn không chính thức thuộc loại “Radio Catinat”, nhưng quả thực họ có đến thăm sư đoàn 7 và tháp tùng các cuộc hành quân khá đều. Lý do, theo tác giả, là vì từ Sài Gòn đến bộ tư lệnh sư đoàn 7 ở Mỹ Tho chỉ có 40 dặm đường khá tốt, và nhất là vì ở đó có sự hiện diện của Trung Tá John Paul Vann rất thích cung cấp tin cho các phóng viên để được nổi tiếng.

Tác giả đưa ra nhiều điều không tốt về ông này, cũng như về bà mẹ của ông ta. Ít ai biết bà từng có con hoang, làm đĩ, và nghiện rượu. Nhiều chỗ, nhất là chương về trận Ấp Bắc, tác giả đã đưa ra nhiều tài liệu để chứng minh Vann nói láo, để chạy tội và đổ lỗi cho sĩ quan Việt Nam không muốn tiếp cứu người Mỹ bị địch bao vây… Chắc là ký giả Neil Seehan “sùng” lắm vì ông ta đã ca tụng Vann hết lời trong tác phẩm lớn A Bright Shining Lie của ông ta. (Xin xem chương 20, Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ.) Vann là nguồn tin chính của Sheehan đã nói láo, thì các tin mà Sheehan đưa ra về những ưu điểm của Cộng quân và những sai trái của quân Quốc Gia còn có giá trị bao nhiêu?

Trang cuối tác giả nhắc đến hiệp ước trung lập hóa Ai Lao, công trình của Harriman đã đưa đến việc Cộng quân tha hồ dùng đường mòn Hồ Chí Minh để xâm nhập miền Nam, vì vậy nhiều người lấy tên Harriman đặt cho đường mòn này: “Xa Lộ Tưởng Niệm Averell Harriman”.

Mặc dầu gặp khó khăn bội phần do cái “xa lộ Harriman” này gây ra, chính quyền Diệm vẫn thu lượm được nhiều thắng lợi vào hạ bán niên 1962.

Tác giả kết thúc chương 7 bằng lời nhận xét của ký giả Wilfred Burchett, người Úc thân Cộng, đã từng sống với VC vào thời gian đó như sau:

“Về lãnh thổ cũng như về dân số, Diệm đã lấy lại được một phần đáng kể. Quân (của Diệm) đã ghi đựợc một số thắng lợi và chủ động về chiến lược và chiến thuật… Năm 1962 là năm của Diệm.”

Chương 8:

Trận Ấp Bắc:

Tháng Giêng năm 1963.

Tác giả để gần 20 trang để viết về trận đánh cấp tiểu đoàn này, trong khi về những trận đánh khác trong năm 1962, ông chỉ nói qua mấy hàng. Thứ nhất vì đây là trận phản công đầu tiên của Việt Cộng sau một loạt thất bại trong 6 tháng cuối năm 1962, để cố dành lại thế chủ động. Nhưng VC đã thất bại, để lại trên một trăm xác chết.4

Thứ hai, vì trận này đã được số đông báo giới và sử gia Mỹ sau này nêu lên để chứng minh sự “yếu kém và ươn hèn của chính quyền miền Nam không muốn chống cộng, chỉ muốn duy trì lực lượng hầu bảo vệ nhà Ngô…”

Trong trận này quân của sư đoàn 7 bị thiệt hại nặng, 80 chết 109 bị thương. Lực lượng Mỹ yểm trợ có 3 người chết, 6 bị thương và nặng nhất là có tới 5 máy bay trực thăng bị hư hại. Dư luận phe chính thống coi đây là thất bại lớn chứng tỏ chính quyền đang trên đà suy sụp. Nhưng tác giả đã thuật lại đầy đủ chi tiết trân đánh, địa hình địa vật, và quân số hai bên, cũng như diễn tiến trận đánh, để đi đến nhận xét trái ngược. Theo tác giả thì, tướng Harkins và Đô Đốc Felt đều nhận định, đây là một chiến thắng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Riêng tác giả thì phân biệt, về mặt chiến thuật, sư đoàn 7 thất bại, vì không tiêu diệt được đối phương như đã hoạch định. Nhưng về mặt chiến lược thì thắng vì không để Cộng quân dành lại được thế chủ động.

Tác giả cũng nêu bằng chứng để quy trách sự tổn thất – không chỉ về phía Mỹ – cho Trung Tá Vann. Hơn nữa còn kết tội ông nói dối. Những dẫn chứng chi tiết được nêu lên trong 62 chú thích có thể tạo nên một thách thức nghiêm trọng đối với sự đánh giá của “phe chính thống”.

Chương 9:

Tổng Thống Diệm trước thử thách: Từ tháng 2 đến tháng 7.

Tình hình an ninh và công cuộc bình định tiếp tục tiến triển sau trận Ấp Bắc nhờ dân chúng tin tưởng vào chính quyền và cung cấp nhiều tin tức về hoạt động của Cộng quân. Từ tháng 2 đến tháng 7 Cộng quân chỉ có thể chủ động mở tấn công cấp tiểu đoàn 7 lần, so với 35 lần trong 6 tháng đầu năm 1962. Một tài liệu lịch sử của quân khu 5 VC sau này đã ghi: “Chính quyền Diệm đã lấy lại tất cả những gì chúng ta chiếm được.”

Kết quả này theo tác giả là nhờ chương trình Ấp Chiến Lược. Ông trưng dẫn các chuyên gia người Úc (đại tá Ted Serong) và Anh (Sir Thompson) nhận định đây là thành tựu to lớn, khiến chính phủ đang trên đà chiến thắng. Cố vấn Mỹ Rufus Phillips cũng lạc quan, tuy dè dặt hơn.

Cuối tháng bảy một toán đặc nhiệm thuộc sư đoàn 7 đã tấn công tiểu đoàn 514 VC khiến chúng phải bỏ chạy để lại 58 xác, và đem theo một số tương đương. Phía quân chính phủ có 18 tử thương.

Phần đông ký giả Mỹ không báo cáo những thành tựu đó. Trái lại có kẻ như Halberstam còn cho rằng tình hình an ninh tồi tệ, nguyên do là tại bà Nhu. Nhưng “Đại tướng Edward Rowny bảo Halberstam:

“Này Dave, anh biết cuộc hành quân thắng lợi đấy chứ? Và dù nó thắng lợi hay không thì cũng chẳng dính dáng gì đến bà Nhu cả. Thậm chí binh sĩ còn chẳng biết bà ta là ai nữa.”

Halberstam đáp:

“Đại tướng ơi, độc giả không thích đọc bất cứ cái gì liên quan đến những cuộc hành quân bé nhỏ này đâu. Cái mà họ thích đọc là mụ “Long Nữ” (Dragon Lady) cơ.” (tr. 210, chú thích 27)

Thử thách của ông Diệm chẳng những do báo chí Mỹ, do số lớn vũ khí và quân lính Bắc Việt xâm nhập qua đường mòn Harriman. Mà còn do biến cố Phật Giáo. Tài liệu VC cho biết mỗi tháng Bắc Việt chuyển vào Nam 1500 lính để tăng cường cho số quân chỉ vào khoảng 23,000. Đây là một tỷ lệ vô cùng lớn lao. Nhưng số quân VC đào ngũ, hoặc ra đầu thú với chính quyền trong chiến dịch chiêu hồi cũng rất lớn. Vì vậy chính quyền vẫn giữ được thế chủ động.

Về biến cố Phật Giáo, tác giả đưa nhiều bằng chứng để đi đến kết luận giống như Tổng Thống Nixon hay cựu hoàng Bảo Đại đã khẳng định trong No More Vietnams hay Le Dragon D’Annam: Vấn đề không phải kỳ thị tôn giáo, mà là chính trị. Tác giả đã để nhiều trang bàn kỹ về nguồn gốc sự khủng hoảng, và vai trò của Thượng Tọa Thích Trí Quang, mà ông bảo là người đã áp dụng những phương pháp đấu tranh giống CS, hoàn toàn trái ngược với nếp sống và tác phong của một tu sĩ Phật Giáo. Ông trưng dẫn bằng chứng về việc Tổng Thống Diệm đã có thiện chí thương lượng, hòa giải, nhưng Thích Trí Quang luôn luôn chỉ muốn đánh đổ cho bằng được chính phủ. Tác giả cũng nhắc lại chuyện dĩ vãng, chính ông Hồ đã từng khoác áo nhà sư trong thời gian còn đấu tranh trong bí mật…

Tiếc rằng báo chí Mỹ đã triệt để ủng hộ phong trào đấu tranh của Thích Trí Quang, lên án chế độ. Họ lý luận rằng Phật Giáo chiếm tới 70 hay 80 phần trăm dân, nên đại diện toàn dân và như vậy ông Diệm đã bị toàn dân lên án, không thể nào tồn tại… Tác giả đã bác bỏ hoàn toàn tỷ lệ phần trăm tưởng tượng này, bằng những thống kê chính xác.

Tác giả cũng nói đến vai trò của Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo trong vấn đề ảnh hưởng đến dư luận báo chí Mỹ. Các nhà báo trẻ như Neil Sheehan và David Halberstan thường xuyên tiếp xúc với những nguồn tin sẵn ác cảm với chính quyền. Vì thế phần đông dư luận Mỹ và thế giới cũng lên án theo.

Cuối chương tác giả viết:

“Trong khi Truehart, Hilsman, Halberstam và những người Mỹ khác bao vây Diệm với những yêu sách sai lầm về hòa giải, họ đã ngoảnh mặt làm ngơ trước hai sự thực quan trọng: nỗ lức chiến tranh của Nam Việt Nam đang tiến những bước dài, và vấn đề chính của Nam Việt Nam là sự xâm nhập càng ngày càng tăng của Cộng quân qua ngả Ai Lao.” (tr 228)

Chương 10:

Phản bội:

Tháng 8 năm 1963.

“Xem ra tôi không thể nào làm cho tòa đại sứ tin được rằng đây là nước Việt Nam chứ không phải Hoa Kỳ”.Chương sách được mở đầu bằng lời Thống Thống Diệm nói với nữ ký giả Marguerite Higgins như vậy. Ông đã để gần 2 trang sách để tóm lược nội dung câu chuyện dài 5 giờ vào đầu tháng 8 giữa vị tổng thống độc thân và cô gái Mỹ trẻ đẹp. Cô này thích xông xáo lặn lội khắp nơi, từ rừng rậm đến đồng ruộng sình lầy5 ở Nam Việt Nam hòng săn tin về cuôc khủng hoảng đang diễn ra. Cô là nữ ký giả đầu tiên của Mỹ được giải thưởng Pulitzer về báo chí.

Rồi ông nói về làn sóng phản đối của sư sãi và Phật tử xung quanh chùa Xá Lợi. Trong số vài chục ngàn người đó, ông trưng bằng chứng từ phía CS rằng không ít người do VC xúi dục gia nhập cho thêm đông, để làm mất uy tín chính phủ.

Về cuộc lùng bắt và giam giữ một số sư sãi và Phật tử trong chùa Xá Lợi đêm 22 tháng 8, tác giả trưng bằng chứng từ nhiều nguồn tài liệu, cho biết chính các tướng lãnh sau này làm cuộc đảo chính đã xin TT Diệm được dẹp nhóm quá khích. Vì lúc ấy nhiều người bất mãn với TT Diệm, không phải vì ông quá cứng rắn với nhóm Phật tử quá khích, mà vì họ cho rằng ông quá mềm yếu. Chính Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ chỉ vài ngày trước khi đảo chính đã tuyên bố với các nhà ngoại giao ngoại quốc rằng đáng lẽ chính quyền đã phải dập tắt phong trào Phật Giáo không nương tay.

Trước khi có cuộc lục soát và bắt giữ nhóm chống đối trong chùa Xá Lợi, chính tướng Trần Văn Đôn đã lên đài phát thanh tuyên bố tình trạng thiết quân luật. Rồi sau đó Quân Đội đã bố trí tại các nơi hiểm yếu trong thành phố để cho 3 lực lượng Cảnh Sát, Thanh Niên Cộng Hòa và Lực Lượng Đặc Biệt xông vào Chùa, bắt giữ bọn người làm loạn.

Hành động quyết liệt của quân đội đã lấy lại được uy tín cho chính quyền. Nhưng các ký giả Mỹ, mà nổi bật là Halberstam đã dựa vào những nguồn tin ác cảm hay sai lạc để tố cáo ông Nhu lộng quyền chỉ huy cuộc “đàn áp”. Tác giả viết: “Tất cả tin tức nêu lên trong bài báo của Halberstam về vụ 22 tháng 8 xuất phát từ những nguồn vô danh mà anh ta náo nức muốn tin là đúng, nhưng tất cả đều sai.”

Tác giả tấn công Halberstam bằng một loạt bằng chứng về những báo cáo láo của anh ta. Chẳng hạn Halberstam báo cáo có 4 người bị bắn chết tại Huế, thì khi Phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới điều tra, họ đã phỏng vấn cả 4 người (đã chết!) này.

Cùng với 3 nhà báo ác cảm với ông bà Nhu, còn có 3 người trong chính quyền Mỹ cũng cùng một tâm trạng. Họ cùng nhau lập thành nhóm Diem-Must-Go (theo đại sứ Frederick Nolting) tiến hành một loạt mánh mung không đường hoàng, nếu không muốn bảo là gian xảo, để áp lực cho ông Diệm phải loại trừ ông Nhu. Vì đây là vấn đề vừa khuất tất vừa khôi hài một cách chết người nên xin dịch nguyên văn một đoạn dài của tác giả:

“Harriman, Hilsman và Forrestal mô tả biến cố 21-8 theo cùng một cách như báo giới Mỹ. Họ quả quyết rằng chính phủ đã quyết định tấn công tàn bạo các chùa chiền.Họ không xét đến sự khiêu khích và chủ ý phản nghịch đã khiến chính phủ phải đuổi những kẻ đấu tranh ra khỏi chùa. Vì không quen với văn hóa của Việt Nam, họ không hiểu rằng dung túng những cuộc chống đối như ở chùa Xá Lợi sẽ làm cho người lãnh đạo bị mất uy tín. Trong trí của 3 người Mỹ này, việc dọn sạch các chùa hoàn toàn do Nhu toan tính nhằm bách hại các Phật tử và không cho dân chúng có quyền tự do ngôn luận, và như vậy sẽ khiến cho công chúng phải chống lại nhà Ngô…

“Harriman và Hilsman đã từ lâu hy vọng thấy Nhu phải ra đi. Thì đây cơ hội bằng vàng đã tới. Trong bản giác thư họ viết: “Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung thứ một tình huống trong đó quyền hành nằm trong tay Nhu.” Họ cho phép đài Tiếng Nói Hoa Kỳ và các cơ quan thông tin khác của chính phủ loan báo rằng lỗi ở ông Nhu, chứ không phải quân đội. Đi xa hơn cả những gì 4 nguồn tin Việt Nam khuyên làm (các tướng Đôn, Kim, bộ trưởng Thuần và Võ Văn Hải khuyên nên cho Nhu đi, nhưng giữ Diệm lại vì không thể có ai thay được ông Diệm, MV), họ xác quyết rằng hãy cho Diệm một cơ may loại Nhu, nhưng nếu không loại được Nhu, thì chính ông Diệm cũng không thể giữ.” Tác giả bản thông điệp chỉ thị cho đại sứ Lodge cho các tướng lãnh biết, nếu Diệm không đưa Nhu đi và nhượng bộ nhiều hơn với phe Phật Giáo, thì Hoa Kỳ sẽ thôi không ủng hộ Diệm và sẵn lòng ủng hộ một lãnh tụ khác.

“Chiều thứ bảy ấy, Harriman và Hilsman mang bức công điện tới số 9T câu lạc bô Chevy Chase, là nơi thứ trưởng ngoại giao George Ball đang chơi Golf. Ball thích chơi bạo. Ông ta đã chán ghét cuộc đàn áp Phật Giáo của Diệm, như đã được thông báo bởi các ký giả Mỹ mà ông ta thích. Vào một dịp nọ, ông ta đã nói với TT Kennedy rằng “Ngài sẽ có lợi hơn nếu truyện trò với những ký giả đang làm việc ở Việt Nam hơn là nói chuyện với những viên chức chính phủ Hoa Kỳ”. Ball khuyên nên xin phép Tổng Thống Kennedy để gửi công điện đi Sài Gòn.

“Hai tác giả công điện và Ball bèn gọi điện cho Tổng Thống lúc ấy đang nghỉ cuối tuần ở Cape Cod, và giục ông duyệt y bản công điện. Kennedy vốn đã có vẻ nghiêng về quan điểm là Nhu phải ra đi và phải ép Diệm một cách đáng kể vì dư luận báo chí xôn xao về vụ tấn công chùa. Tuy nhiên ông không biết sự tai hại mà bản công điện gây ra cho ông Diệm. Ông vẫn còn quý trọng ông Diệm, và về sau, khi đã thấy rõ những ngụ ý đầy đủ của công điện, ông đã ân hận. Từ Cape Cod Kennedy bảo các viên chức bộ ngoại giao rằng ông chấp thuận công điện, với điều kiện là họ phải được sự đồng ý của thủ trưởng của họ, là ngoại trưởng Dean Rusk, và của ông Roswell Gilpatric đang tạm thay bộ trưởng Quốc Phòng McNamara. Ông này đang leo núi ở Wyoming. Tổng Thống đặc biệt quan tâm đến quan điểm của bộ Quốc Phòng vì bộ này kiên quyết ủng hộ ông Diệm.

“Gọi điện đến sân vận động Yankee, người ta bảo ngoại trưởng Rusk rằng Tổng Thống đã duyệt y công điện, mà không nói rằng Tổng Thống duyệt y với điều kiện là Ngoại Trưởng và ông Gilpatric cũng đồng ý. Ông Rusk nói ông đồng ý. Forestal liên lạc với ông Gilpatric và xin ông ấy thuận, lại nhấn mạnh rằng Tổng Thống và ngoại trưởng Rusk đã thuận rồi. Forrestal, cũng như ba viên chức bộ Ngoại Giao, không màng nhắc đến điều kiện của sự chấp thuận của Tổng Thống, khiến ông Gilpatric cũng có cảm tưởng rằng người ta xin sự đồng ý của mình cho có lệ để thông qua một chính sách mà Tổng Thống đã chọn. Vì thế Gilpatric đồng ý.

“Để tránh cho bên CIA khỏi có cảm nghĩ họ bị bỏ qua không hỏi ý, Harriman đã tiếp xúc với phó giám đốc CIA đặc trách về Kế Hoạch là Richard Helms, thay vì cố tìm gặp chính Giám Đốc là John McCone là người nhiệt liệtủng hộ Diệm. Harriman bảo Helms rằng Tổng Thống đã chọn một con đường hành động mới cho Nam Việt Nam. Nhưng ông ta không xin ý kiến của ông Helms hay của CIA, trước khi cáo từ.

“Những tác giả bản công điện đã không tìm sự đồng thuận của Chủ Tịch Ban Tham Mưu Hỗn Hợp là đại tướng Maxwell Taylor vì ông này cũng là người ủng hộ ông Diệm một cách mạnh mẽ.

“Nếu như các ông McNamara, McCone và Taylor được tiếp xúc để hỏi ý, hoặc nếu như những kẻ thảo công điện cho các ông Rusk và Gilpatric biết rõ ý của Tổng Thống một cách đường hoàng, thì chắc công điện đã không bao giờ được gửi đi. Vì các ông McNamara, McCone và Taylor rất kính trọng ông Diệm. Sau này khi biết cái thủ đoạn gian trá này, các ông đã nổi trận lôi đình.

“Ngay tối hôm ấy bản công điện đã được gửi cho đại sứ Lodge.” (trang 238)

Tác giả mô tả ông Lodge là người bị ảnh hưởng nặng của nhóm phóng viên trẻ chỉ muốn hạ ông Diệm. Ông quyết ra tay. Nhưng âm mưu bị bại lộ, vì ông Nhu biết được và đề phòng. Vì vậy tất cả công điện liên quan đến âm mưu đảo chính vào cuối tháng 8 bị thiêu hủy hết.

Chương 11:

Tự hủy: Từ tháng 9 đến ngày 2-11-1963

Sau âm mưu đảo chính bất thành, hàng ngũ lãnh đạo cao cấp tại Hoa Thịnh Đốn chia hẳn làm hai phe. Harriman, Hilsman, George Ball và Forrestal tiếp tục tấn công Diệm. Phe bênh Diệm gồm những nhân vật quan trọng hơn như Robert McNamara, Maxwell Taylor, Robert Kennedy (bộ trưởng Tư Pháp) và McCone, không kể đại sứ Nolting và William Colby, và cả Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson Tác giả cũng nêu tên cố vấn Anh, Sir Robert Thompson ở Sài Gòn.

Mặc dù sự lươn lẹo xảo trá của nhóm Harriman đã khiến Tổng Thống không tin họ nữa, ông vẫn không dứt khoát ngả về bên nào. Vì dư luận báo chí quá bất lợi qua vụ khủng hoảng Phật Giáo khiến Tổng Thống cũng phải nương theo mà tuyên bố bất lợi cho ông Diệm. Trả lời ký giả Walter Cronkit trong một cuộc phỏng vấn, Tổng Thống Kennedy nói: “Chúng ta sẵn sàng tiếp tục giúp họ. Nhưng tôi nghĩ sẽ không thắng được trận giặc, nếu nhân dân Việt Nam không ủng hộ những nỗ lực của chính quyền. Và theo ý tôi, trong những tháng qua chính quyền (Sài Gòn) đã xa rời dân. Chúng ta đã thấy cuộc đàn áp các Phật tử thật là không khôn ngoan.”

Hết tin ở ông Lodge, Tổng Thống gửi sang Sài Gòn một phái bộ thanh tra tại chỗ gồm tướng Victor Krulak, thuộc Thủy Quân Lục Chiến, và Joseph Mendenhall thuộc bộ Ngoại Giao do Harriman và Hilsman để cử.

Phúc trình của Krulak dựa vào lời khai của 87 người Mỹ và 22 người Việt trên khắp 4 vùng chiến thuật hoàn toàn có lợi cho ông Diệm. Còn báo cáo của Mendenhall thì cũng tốt nhưng không hoàn toàn có lợi. Tác giả Mark Moyar trưng dẫn nhiều nguồn tin khác chứng minh tình hình an ninh hoàn toàn đúng như phúc trình của Krulak.

Về các Ấp Chiến Lược, thì tốt ở 3 vùng 1, 2 và 3.

Nhưng tại vùng 4 thì có một số ấp bị Việt Cộng phá. Những ấp này phần lớn thuộc tỉnh Long An, cạnh thủ đô, được báo chí Mỹ quan tâm nhiều.

Khi Tổng Thống Kennedy gặp tướng Krulak và Mendenhall ngày 10-9-63 để nghe báo cáo, thì tình cờ cũng có mặt Rufus Phillips. Ông này đã đề nghị Tổng Thống nên loại ông Nhu và giữ lại ông Diệm.

Những lời của Mendenhall và Phillips khiến McCone phản ứng kịch liệt, vì ông có cả một mạng lưới thu thập tin tức tình báo đầy đủ hơn họ nhiều. Cuối buổi họp ông khẳng định: “Sĩ quan Việt Nam sẽ làm việc với ông Nhu”.

Về phía đại sứ Lodge, ông cố tìm cách hạn chế quyền hành của ông Nhu và đề nghị đưa ông Thuần lên làm thủ tướng. Nhưng ông Diệm không muốn chịu áp lực của Mỹ. Ông bảo ông “không muốn bị coi như bù nhìn hay tay sai của Mỹ”.

Sau khi gặp Tổng Thống Diệm đại sứ Lodge lại tìm mọi cách lật ông. Thấy trưởng nhiệm sở CIA là Richardson báo cáo thuận lợi cho Diệm, Lodge liền tự tay đánh máy bí mật bản đề nghị triệu hồi ông này về Mỹ. Halberstam dùng ảnh hưởng của mình hỗ trợ cho mưu toan của Lodge.

Trong lúc Kennedy chán ngấy Halberstam đến tận cổ, một nhà báo uy tín mà Kennedy vốn có cảm tình là Joseph Alsop đưa ra những nhận xét hoàn toàn tốt đẹp về tình hình an ninh tại Nam Việt Nam, gián tiếp kết tội các nhà báo Mỹ ở Sài Gòn đã không khách quan, đặc biệt là Halberstam: “… Such optimistic sources are almost never quoted by Halberstam” (Những nguồn tin lạc quan như thế hầu như chẳng bao giờ được Halberstam trưng dẫn).

Kennedy mời chủ báo New York Times ăn trưa và ngỏ ý muốn đưa Halberstam ra khỏi VN. Nhưng Arthur Sulzberger từ chối vì không muốn bị mang tiếng là chịu áp lực của chính quyền.

Trong chuyến đi thăm Việt Nam, McNamara và Taylor đã cùng với đại sứ Lodge đến thăm TT Diệm. Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ nêu lên dư luận Mỹ đang bất lợi cho chế độ miền Nam, nếu không có thay đổi, cải tiến…

Nhưng khi về Mỹ hai ông đã báo cáo tình hình Việt Nam rất tốt đẹp, đến nỗi vào cuối năm có thể rút về 1000 cố vấn. (trang 254)

Tuy nhiên (trước dư luận bất lợi của nhân dân Mỹ do báo giới gây nên) McNamara khuyến cáo, và Taylor cũngmiễn cưỡng nương theo, rằng nên cắt một phần viện trợ để làm áp lực với Diệm, nhưng đừng để hại đến nỗ lực chiến tranh.

Kennedy bèn ra lệnh cắt phần nào viện trợ và chỉ thị cho Lodge tránh khuyến khích đảo chính, nhưng phải tiếp xúc để tìm ra người thay thế lãnh đạo.

Trái với điều Kennedy mong muốn, tin Mỹ cắt viện trợ làm mất hẳn uy tín của chính phủ Sài Gòn. Những khó khăn về kinh tế khiến viên chức chính phủ và dân chúng mất lòng tin ở chính quyền.

Ngày 10-10-63 Lodge để Conein cho các tướng biết Hoa Kỳ không gạt bỏ sự thay đổi chính quyền và “không từ chối viện trợ cho chế độ tương lai nào được dân ủng hộ để thắng Cộng”.

Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, quân chính phủ vẫn thực hiện nhiều cuộc hành quân thắng lợi, mà chính Halbertstam cũng phải công nhận.

Ngày 22 tháng 10, tại một buổi tiếp tân của tòa đại sứ Anh, đại tướng Harkins đã cảnh cáo tướng Đôn rằng ông không tán thành một cuộc đảo chính. Tướng Đôn làm bộ không biết gì về âm mưu đó.

Theo báo cáo của CIA, Tổng Thống biết Lodge đã qua mặt ông, toan tính chuyện đảo chính với các tướng Việt Nam. Ông muốn cất chức Lodge. Nhưng nghĩ Lodge sẽ là đối thủ của ông trong cuộc bầu cử Tổng Thống vào năm tới. Nên lại thôi.

Ngày 27-10-63 Tổng Thống Diệm mời vợ chồng ông Lodge lên Đà Lạt ở biệt thự của Tổng Thống và đề cập vấn đề Hoa Kỳ cắt viện trợ và tố cáo John Mecklin và CIA giúp phe chống chính phủ. Nhân dịp này ông Lodge lại yêu cầu Tổng Thống Diệm cải tổ chính phủ. Tác giả viết:

“Diệm trả lời, nguyên văn tiếng Pháp: “Je ne vais pas servir”, dịch từ chữ sang tiếng Anh là “I am not going to serve”, nghĩa là tôi sẽ không phục vụ.

Lodge báo cáo về DC rằng câu trả lời của Diệm vô nghĩa và phỏng đoán rằng ông Diệm muốn nói một cái gì khác. Có lẽ không có ví dụ nào tốt hơn để cho thấy Lodge không đủ khả năng hiểu được tình hình Việt Nam vào năm 1963, bằng sự việc ông ta không hiểu nổi ý của ông Diệm là ông ta khôngmuốn làm đầy tớ Mỹ.” (tr. 260-261)

Trong khi phe “Diem-Must-Go” mưu toan đảo chính thì tướng Krulak, một trong những người bênh vực ông Diệm cho phổ biến báo cáo của phái đoàn lập pháp gồm 8 dân biểu do Clement J. Zablocki (DC Wisconsin) lãnh đạo.

“Theo Zablocki thì toàn thể phái đoàn đã đồng ý như sau:

– a. Dù có lỗi gì, dù độc đoán và dung túng hối lộ, bạo lực, thì Diệm vẫn tồn tại và đang thắng.

– b. Không thấy có ai thay thế được Diệm – Ít nhất chẳng có ai bảo đảm được tiến bộ; do đó những hành động của những đại diện Hoa Kỳ nhằm câu kết với những kẻ mưu phản, như đã rõ trong tháng 8, là tai hại.

– C. hái độ của báo giới Hoa Kỳ tại chỗ phản ảnh trầm trọng đến toàn bộ chức nghiệp của họ. Họ hỗn xược, dễ bị xúc động, không khách quan và bị thông tin sai lạc.

Sự chống đối họ được biểu lộ rõ nhất qua việc họ bị xua đuổi bởi nhiều nhà báo Mỹ có tinh thần trách nhiệm.”

Sau khi họp ban tham mưu Tổng Thống Kennedy chỉ thị báo cho Lodge phải tránh đảo chính. Trong số nhiều ý kiến của những kẻ bênh người chống đảo chính, chúng tôi ghi lại đây ý của bộ trưởng Tư Pháp, bào đệ của TT Kennedy:

“Điều chúng ta đang làm thực sự là đặt tất cả tương lai xứ này và Đông Nam Á trong tay một kẻ mà chúng ta không biết rõ. Diệm là một chiến sĩ. Ông ta không phải kẻ giống như (Tổng Thống Cộng Hòa Dominic Juan) Bosch chỉ muốn bỏ đi. Diệm là một nhân vật cương quyết và tôinghĩ ông ta sẽ quyết chiến… Nếu đảo chính thất bại, tôi nghĩ ông ta sẽ yêu cầu chúng ta cút khỏi miền Nam Việt Nam. Như vậy chúng ta đang đi xuống con đường dẫn tới thảm họa.”

(…)

“Lodge nhận công điện của Bundy sáng 30-10 nhưng mãi đến tối hôm đó mới phúc đáp. Vào giờ đó ông ta biện luận rằng không nên cho các tướng lãnh biết rằng cuộc đảo chính có thể thất bại. Thực ra Lodge chẳng hề ra lệnh cho Conein chuyển thông điệp tới các kẻ làm phản như Tổng Thống đã chỉ thị ông ta phải làm.”…

“Cũng ngày hôm đó Tướng Harkins gửi tới Hoa Thịnh Đốn 3 công điện, tất cả đều nhanh chóng tới bàn Kennedy. Harkins phản đối việc đại sứ tích cực khuyến khích đảo chính vì như thế là vi phạm đường lối chính thức của Hoa Kỳ, cũng như việc ông ta đã không cho người cầm đầu phái bộ cố vấn quân sự biết về cuộc mưu phản. Harkins nhận xét, cuộc đảo chính không chắc có thành công hay không. Và tuy có nhiều người không thích Nhu, các tướng vẫn muốn hợp tác với ông Diệm,. Không như Lodge, Harkins biết rõ về khả năng của các tướng. Ông cảnh cáo rằng Nam Việt Nam không có ai có thể thay thế Diệm một cách thích đáng. Ông quả quyết: “Qua các cuộc tiếp xúc ở đây, tôi thấy chẳng có ai có một bản lãnh mạnh như Diệm, ít nhất về mặt chống Cộng.”

Ngày 31-10 ông Nhu gọi tướng Đính tới dinh. Tỉnh tưởng Định Tường đã báo cáo, đại tá Có, phụ tá của Đính rủ ông ta làm phản. Đính bảo ông Nhu “để tôi chém đầu tên Có”. Nhưng Nhu không cho, bảo để theo dõi…

Ngày đó, tướng Đôn cũng tới dinh để nhắc ông Diệm về việc cải tổ chính phủ (để xin mấy ghế bộ trưởng cho các tướng). Ông Diệm bảo không cần, vì nay tình hình đã khả quan. Đúng ra ông Diệm biết các tướng chỉ hợp cácchức vụ quân sự, không có khả năng chính trị. Tác giả viết:

“Giả như hôm ấy, dù đã rất muộn, ông Diệm thỏa mãn yêu cầu của các tướng, họ đã bỏ không đảo chính nữa. Về sau Đôn nói, chính sự từ khước của Diệm đã đưa các tướng đến quyết định dứt khoát là phải làm loạn.” (tr 265)

“Sáng 1-11, ngày ra tay, Lodge cùng với đô đốc Felt đến yết kiến Tổng Thống Diệm. Ông Diệm bảo hai người Mỹ: Tôi biết có một âm mưu đảo chính. Nhưng không biết ai sẽ ra tay.” Lodge nói: “Tôi nghĩ chẳng có gì cần lo lắng về chuyện đó”

Ông Diệm nhờ Lodge thưa với TT Kennedy rằng ông ta sẵn sàng xem xét nghiêm chỉnh những đề nghị của Mỹ, và mong sẽ thi hành, nhưng cần có thời gian…

Trong báo cáo, Lodge nhìn nhận câu chuyện đó và đề nghị nên hòa giải với Diệm. Nhưng ông ta đã gửi báo cáo này với khẩn độ ưu tiên thấp nhất, cho nên nó chỉ tới Hoa Thịnh Đốn nhiều giờ sau khi Bạch Ốc đã bắt đầu nhận những công điện với khẩn độ ưu tiên cao về cuộc đảo chính đã xảy ra ở Sài Gòn.

Sáng hôm ấy, chỉ vài giờ trước khi cuộc nổi loạn khởi sự, những tay làm phản vẫn còn chưa tin ở chính mình.

Tướng Khiêm, nước mắt giọt vắn giọt dài, đến gặp tướng Đính và yêu cầu ông này đừng nói với ai về điều ông ta sắp nói đây. Khi Đính hứa không nói, thì Khiêm bảo muốn hủy bỏ cuộc đảo chính… “không muốn hại ông Cụ”. Đính nghĩ mình bị Khiêm thử thách, nên nói hãy cứ tiến hành đi… Thực ra nhóm chủ trương có ý ngờ vực Đính thật, vì họ chưa cho Đính biết về các chi tiết cuộc đảo chính, cũng không mời Đính tới bản doanh chỉ huy.

Tác giả viết: “Vào thời điểm này, kẻ cơ hội chủ nghĩa Đính rất có thể dụng tâm tránh một sự dấn thân dứt khoát với cả hai bên, cho đến khi có một bên tỏ ra mạnh thế hơn… Sau nàyKhiêm bảo Đính rằng ông ta đã bôi dầu thuốc của Tầu vào mắt để làm như khóc thật, rồi đến gặp Đính để thử lòng.

Tuy nhiên lời nói của Khiêm có thể chỉ là muốn cố đánh tan mối nghi ngờ về sự trung thành của mình.” (tr 266)

Chỉ một thời gian vắn trước khi đảo chính nổ ra ở Sài Gòn, đại tá Có đã áp đảo được sư đoàn 7.

Ở Sài Gòn tư lệnh Hải Quân bị tay em giết. Các tướng cầm đầu đảo chính triệu tập các tướng lãnh và đại tá không biết gì về âm mưu đảo chính đến họp ở bộ Tổng Tham Mưu, bắt giữ những người họ nghi trung thành với ông Diệm trong đó có Đại Tá Cao Văn Viên.

Lực Lượng Đặc Biệt, lúc ấy đã bị đặt dưới quyền Bộ Tổng Tham Mưu, nên hầu hết đã bị các tướng đảo chính thuyên chuyển khỏi Sài Gòn. Còn lại một số ít, theo tác giả, bị đại tá Lê Quang Tung ra lệnh đầu hàng, vì ông bị người của nhóm đảo chính dí súng vào đầu bắt ra lệnh.

Lúc 4:30, Tổng Thống Diệm từ dinh Gia Long điện thoại cho Lodge.

Tác giả viết:

“Báo cáo chính thức trong hồ sơ của ông này (Lodge) ghi lại cuộc đối thoại như sau:

Diệm: Một số đơn vị đã làm loạn. Tôi muốn biết thái độ của quý quốc..

Lodge: Tôi không có đủ tin tức để cho ông biết. Tôi có nghe súng bắn. Nhưng không rõ tất cả sự việc. Vả lại, giờ này ở Hoa Thịnh Đốn là 4:30 sáng và chính phủ Mỹ không thể đưa ra một quan điểm.

Diệm: Nhưng ông chắc phải có một vài ý kiến tổng quát chứ. Dầu sao, tôi cũng là quốc trưởng. Tôi đã cố làm nhiệm vụ của tôi. Bây giờ tôi muốn làm điều gì bổn phận và lương tri đòi hỏi. Tôi tin ở nhiệm vụ trên hết.

Lodge: Chắc chắn ông đã làm tròn nhiệm vụ. Như tôi đã thưa với ông sáng nay, tôi ca ngợi sự dũng cảm của ông và những đóng góp của ông cho xứ sở ông. Không ai cóthể lấy đi công lao về những gì ông đã làm, Giờ đây tôi lo cho sự an toàn của ông. Tôi được báo cáo là những người đảm trách những hoạt động đang diễn ra sẽ dành cho ông và em ông được sự dễ dãi ra đi khỏi nước, nếu ông từ chức. Ông đã nghe điều đó chưa?

Diệm: Chưa. (Ngưng giây lát, rồi) Ông có số điện thoại của tôi.

Lodge: Đúng. Nếu tôi có thể làm gì cho sự an toàn của ông, xin hãy gọi cho tôi.

Diệm: Tôi đang cố tái lập trật tự.

“Những người chứng kiến cuộc điện đàm này nhớ là nội dung cuộc đối thoại có khác. Họ làm chứng rằng Lodge thúc giục Diệm phải ngưng chống lại cuộc đảo chính và trốn khỏi nước, và để việc ra đi được dễ dàng Lodge đã bảo sẽ cho đưa Diệm sang Phi Luật Tân bằng chiếc máy bay phản lực mới được đưa tới để đại sứ xử dụng.

“Frederick Flott, là người đứng cạnh Lodge khi ông này nói, nhớ lại rằng đại sứ Mỹ đã bảo Diệm: “Ngài là một vĩ nhân. Ngài đã làm cho nước Ngài những điều vĩ đại. Tôi nghĩ, điều khôn ngoan cho Ngài là hãy rời khỏi nước và đừng chiến đấu thêm nữa. Tôi sẵn sàng đưa xe tôi cho Ngài dùng và một trong số những sĩ quan của tôi mà Ngài biết sẽ đến gặp Ngài. Chúng tôi sẽ kêu gọi lý trí của đôi bên để họ để Ngài được đưa tới phi Trường. Vừa đúng lúc tình cờ tôi có cái máy bay này tại đây.” Flott đáng lẽ sẽ đón Diệm bằng chiếc Limousine có treo cờ Mỹ để đưa Diệm tới phi trường, tại đó ông ấy sẽ lên phi cơ của Lodge. Theo Flott, Diệm trả lời Lodge: “Không, không, ông đại sứ đang hoảng hốt rồi. Ông đã phóng đại sự nguy hiểm.” Flott nhận xét: Ông Diệm thậm chí không màng cám ơn Lodge về đề nghị đó…

“Một cận vệ của Diệm cho biết Tổng Thống la lớn:

“Ngài đại sứ có biết Ngài đang nói với ai không? Tôi xin Ngài biết cho rằng Ngài đang nói với Tổng Thống của một nước độc lập có chủ quyền. Tôi sẽ chỉ rời nước, nếu đó là ý muốn của nhân dân tôi. Tôi sẽ không ra đi theo lời yêu cầu của các tướng làm loạn hay của ông đại sứ Mỹ. Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước thế giới về vấn đề khốn nạn này.”

Sau khi không được các tướng còn trung thành tiếp cứu, hai ông Diệm, Nhu rời dinh Gia Long vào Chợ Lớn lúc 8 giờ tối. Và một giờ sau pháo binh và thiết giáp tấn công vào dinh Gia Long. Cầm đầu cuộc tấn công là Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

“Sau này ông Thiệu cho biết, ông chỉ bằng lòng theo đảo chính, sau khi các tướng chủ mưu đã thuyết phục ông rằng Hoa Kỳ và các nước khác ủng hộ đảo chính và hai ông Diệm Nhu sẽ không bị giết.” (tr.271)

Lúc 6:45 sáng hôm sau, TT Diệm ra lệnh cho Lữ Đoàn Phòng Vệ buông súng. Rồi hai anh em ông đi tới một nhà thờ gần đó. Tại đây ông Diệm gọi cho Lodge. Lodge không hề cho Hoa Thịnh Đốn biết về cuộc điện đàm này. Nhưng có hai nguồn tin khác nhau xác nhận là có. Mike Dunn, một phụ tá của Lodge có mặt tại chỗ thuật lại: Đại Sứ bảo ông Diệm ông ta sẽ cho ông Diệm tỵ nạn và làm tất cả những gì có thể. Nhưng sẽ không thu xếp được phương tiện di chuyển cho vị Tổng Thống vừa bị hạ, trái với những gì ông ta hứa ngày hôm trước là sẽ cho Diệm phương tiện để đi Phi Luật Tân. Dunn bảo Lodge anh ta sẵn sàng đi đón hai anh em ông Diệm và bảo vệ họ, không để các kẻ phản loạn làm hại. Nhưng Lodge cấm chỉ.

Dunn nhớ lại: “Thật là ngạc nhiên là chúng ta đã không làm thêm gì để giúp họ!” (tr 272)

Khi ông Diệm gọi cho các tướng lãnh đảo chính thì “Đôn hứa sẽ để hai ông ra phi trường, từ đó có thể ra ngoại quốc. Các tướng sẵn sàng một xe thiết giáp và hai xe jeep để đón hai ông ở nhà thờ (nhà thờ Cha Tam, MV).

Sau khi bàn với chỉ vài cộng sự, Tướng Minh tự quyết định số phận cuối cùng của Diệm, Nhu. 7:30, khi đoàn đặc nhiệm sắp lên đường, Minh làm ám hiệu bằng tay, đã xếp đặt trước, rằng hãy giết cả hai anh em nhà Ngô.” (tr 272)

Theo tác giả thì các tướng cũng như Lodge đều muốn Diệm phải chết, vì nếu để ông sống ông sẽ có thể trở lại cầm quyền, hay làm khó dễ cho chính phủ hậu đảo chính.

Hình 15: Nhân viên CIA Conein (đằng sau) và 5 tướng phản loạn Kim, Đính, Đôn, Vỹ và Xuân (từ trái qua).

Kết thúc chương sách, tác giả viết:

“Tuy rằng Tổng Thống Việt Nam bị lật và bị giết bởi một số người Việt nào đó, nhưng trách nhiệm chính đổ lên đầu ông Lodge, và Tổng Thống của chúng ta là người đã bổ nhiệm Lodge và không chịu cách chức ông ta. Trách nhiệm cũng thuộc về một số cá nhân từng cung cấp tin tức và cố vấn về tình hình chính trị. Tôi muốn nói mấy viên chức thuộc bộ Ngoại Giao ở Sài Gòn và ở Hoa Thịnh Đốn và vài tay nhà báo thường trú ở Sài Gòn.”

Căn cứ vào những gì tác giả đã viết ở những trang trước, ta có thể thấy rõ danh tánh của những người đó:

George Ball, Averell Harriman, Roger Hilsman, Michael Forrestal, Malcolm Browne, Neil Sheehan và David Halberstam.

Trở lên chúng tôi đã tóm tắt lời tựa và 11 chương trong số 17 chương cuốn Chiến Thắng Bỏ Lỡ. Sáu chương còn lại nói về tình hình rối ren đến hỗn loạn sau khi mọi cơ sở pháp lý của Cộng Hòa Việt Nam tan tành do cái chết của vị tổng thống đầu tiên đem lại. Nhất là vì tình hình an ninh suy sụp do chính quyền mới hủy bỏ chương trình Ấp Chiến Lược. Trước nguy cơ miền Nam bị Cộng quân thôn tính, Mỹ đã phải đem quân vào mà không có một hiệp ước song phương, cũng không do một lời yêu cầu chính thức từ phía Việt Nam. Điều này khiến đối phương có cớ tuyên truyền rằng Miền Nam đã mất chính nghĩa. Nhưng xem ra tác giả không quan tâm đến chuyện cuộc chiến mất chính nghĩa cho bằng việc Tổng Thống Lyndon B. Johnson do dự không dám dùng binh lực để quyết chiến với Bắc Việt.

Vừa phần vì ông sợ Bắc Kinh can thiệp khiến chiến tranh thế giới bùng nổ. Vừa phần vì ông sợ dư luận trong nước đang bị phe Bồ Câu chi phối (chương 16, The Prize Of Victory).

Chúng tôi xin dành để độc giả tìm đọc ở nguyên tác, hay một bản dịch đầy đủ trong tương lai.

Sau đây xin có một vài nhận xét về những chương đã lược tóm ở trên.

Trước hết phải nói tác giả đã để nhiều công phu tham khảo không biết bao nhiêu tài liệu hòng đưa ra những nhận định phần lớn khác hẳn lối phê phán “chính thống” của đa số sử gia và học giả Mỹ từ trước tới nay.

Tuy nhiên cũng phải nói ngay rằng, nếu đã đọc các tác phẩm của Tổng Thống Richard Nixon (No More Vietnams), của Thống Tướng Maxwell Taylor (Swords and Plowshares), hay của học giả và sử gia Tiến sĩ Ellen Hammer (A Death In November), của giáo sư Francis X. Winters (The Year Of The Hare) và ký giả Marguerite Higgins (Our Vietnam Nightmare)… thì ai cũng thấy, nói chung, những nhận định của tác giả Mark Moyar về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa không khác các vị này bao nhiêu.

Ngoài ra cũng phải nói rằng tác giả đã ít quan tâm đến các tác giả Việt Nam đã viết về Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay về nền đệ nhất Cộng Hòa như Giáo Sư Tiến Sĩ sử học Hoàng Ngọc Thành và phu nhân là Thân Thị Nhân Đức, Giáo sư Phạm Kim Vinh, bút hiệu Trương Tử Phòng, Luật sư cựu nghị sĩ Nguyễn Văn Chức, Giáo Sư Tiến Sĩ sử học Phạm Văn Lưu, Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Tấn, Giáo sư Tiến Sĩ Cao Thế Dung, nhà báo Vĩnh Phúc, hay của những chứng nhân quan trọng như cựu Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, cựu Trung Tá Nguyễn Văn Minh, cựu Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái Huỳnh Văn Lang, cựu Trung Tá Nguyễn Văn Châu, nguyên Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý thời Đệ Nhất Cộng Hòa v.v… Có lẽ vì phần nhiều tác phẩm của những vị này đều viết bằng tiếng Việt, trừ mấy tác phẩm của hai Giáo Sư Hoàng Ngọc Thành và Phạm Kim Vinh đã được chính tác giả dịch ra tiếng Anh.

Trong số những tác phẩm của những tướng đảo chính viết bằng tiếng Anh, có cuốn Our Endless War của Trần Văn Đôn, cũng cung cấp nhiều tài liệu chứng tỏ ông Cabot Lodge cùng với Conein chủ trương đảo chính. Bằng chứng là số tiền 3 triệu đồng bạc Việt Nam (tương đương với 42,000 Mỹ Kim lúc ấy). Hay cuốn Twenty Years Twenty Days của Nguyễn Cao Kỳ cũng cung cấp bằng chứng rõ ràng nhất là Thượng Tọa Thích Trí Quang cầm đầu nhóm tranh đấu Phật Giáo quá khích không phải vì lý do tôn giáo, mà chỉ vì mục đích chính trị. Ông muốn làm quốc trưởng, làm vua. Chúng tôi đã trưng dẫn lời ông Kỳ thuật lại chuyện Thích Trí Quang đề nghị với Cabot Lodge lậttướng Kỳ, để rồi sau đó, Thích Trí Quang sẽ đặt lại ông Kỳ vào chức thủ tướng. (Xin xem lại Phần I, chú thích số 65)

Vì tác giả là một học giả, giáo sư sử, nên ông đã cố tìm thật nhiều bằng chứng có tính khoa bảng để thách đố các nhà khoa bảng từng có quan điểm khác ông, nên sách của ông chi chít những trích dẫn từ nhiều tác phẩm, nhiều tài liệu trong các văn khố của các chính phủ, các phủ, bộ v.v… Chứ không giống như những tác phẩm của Nixon, hay Taylor, Marguerite Higgins…

Hơn nữa nội dung tác phẩm Triumph Forsaken quá rộng lớn vì nó bao gồm toàn bộ chiến tranh Việt Nam, chứ không phải chỉ về cuộc đảo chính 1-11-63, hay về nền đệ nhất Cộng Hoà, hay chỉ về Tổng Thống Diệm. Cho nên có nhiều chi tiết về cuộc đảo chính 1-11-63, tác giả cũng không thể thuật lại đầy đủ chi tiết. Thậm chí có một vài chi tiết, không biết ông dựa vào tài liệu nào, không đúng.

Ví dụ ông bảo chiều ngày 1-11 hai anh em ông Nhu ra khỏi dinh Gia Long bằng đường hầm. Thực ra hai ông ra khỏi hầm (một thứ basement), chứ không qua đường hầm (tunnel) nào. Vì trong dinh Gia Long vốn chẳng có đường hầm nào cả. Chỗ khác ông bảo Đại Tá Lê Quang Tung bị nhóm đảo chính gí súng vào đầu bắt ông ra lệnh quân lực lượng đặc biệt đầu hàng nhóm đảo chính. Những người có mặt tại bộ Tổng Tham Mưu hôm đó cho biết khi ông Tung đứng lên phản đối cuộc đảo chính liền bị đưa ra ngoài giết chết.

Theo thiển ý, ngoài một vài chi tiết không được chính xác, tác phẩm của Mark Moyar là một công trình biên khảo công phu, giá trị mà các nhà khoa bảng, hay học giả vốn lên án việc các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ ủng hộ Miền Nam Việt Nam chống Hồ Chí Minh phải xét lại quan điểm của mình và, nếu xứng đáng là một học giả chân chính, một nhà báo lương thiện, thì cũng nên có lời xin lỗi, hay cải chính.

Có lẽ người mà tác giả chê trách nhiều nhất trong tác phẩm này là nhà báo, trở thành sử gia David Halberstam.

Ông này đã từng ca tụng Hồ Chí Minh: “là một khuôn mặt phi thường của thời đại – một phần là Gandhi, một phần là Lê-nin, tất cả là Việt Nam. Có lẽ, hơn bất cứ nhân vật nào trong thế kỷ, ông Hồ là hiện thân cuộc cách mạng của dân tộc ông đối với dân tộc ông và cả đối với thế giới.” (Hồ, Random House, NY, 1971, trang 12).

Cũng Halberstam đã viết: “Tito, Stalin, Khrutshchev, Mao… hết thảy đều có tật sùng bái cá nhân. Nhưng Hồ thì không…” (SĐD trang 20)

Nếu là sử gia có lương tâm, nhà báo lương thiện, thì Halberstam khi biết chính Hồ Chí Minh đã mượn bút danh Trần Dân Tiên để tự đề cao ca ngợi mình, biến mình thành thần tượng, tự tôn mình lên thành cha già dân tộc, ắt đã phải lên tiếng hối hận mới phải. Có lẽ vì thế mà ông ta đã bị tác giả vạch mặt và quy trách trong việc Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị hạ và bị giết.

Ngoài ông Cabot Lodge là vai chính không kể, người thứ hai bị quy trách là Averell Harriman, người đã thù ông Diệm, quyết bằng những mánh lới bất lương qua mặt thượng cấp để cố bằng mọi cách hạ uy tín và lật ông Diệm. Có người đã nghi Harriman là Cs hay bị cộng sản mua chuộc trong vụ trung lập hóa Ai Lao và có thể cả trong đàm phán với CS tại hòa đàm Ba Lê đi đến một hiệp định Ba Lê rất bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa, mặc dầu ông không cầm đầu phái đoàn Mỹ.

Những lời lẽ xác quyết không dè dặt của tác giả về những người phải chịu trách nhiệm trong cái chết của ông Diệm, trong đó tác giả ghi cả chính Tổng Thống Kennedy chắc sẽ gây phản ứng mạnh từ phía các học giả thuộc trường phái “chính thống”. Nhưng có thay đổi được nếpsuy nghĩ của giới học giả Mỹ, chắc cũng còn phải có thời gian.

Về mục đích chính của tác phẩm là chứng minh rằng đáng lẽ Hoa Kỳ đã thắng, nghĩa là, nếu không dẹp tan được nạn CS tại Việt Nam, thì cũng bảo vệ được Miền Nam khỏi rơi vào tay CS, phải đợi đến khi nào tập 2 xuất bản.

Ở tập một này, có hai điều ông đã cố chứng minh.

Trước hết là trận Điện Biên Phủ. Nếu Hoa Kỳ giúp chính quyền Bảo Đại và đồng minh Pháp thì đã có thể thắng.

Thứ hai là nếu chính quyền Kennedy không khuyến khích, tài trợ để một số tướng lãnh giết ông Diệm, thì miền Nam đã đứng vững và sẽ chiến thắng.

Có lẽ tác giả muốn tránh không để các học giả và sử gia Mỹ chê ông chỉ là “lý thuyết gia ý thức hệ” (tạm dịch từ ideologues của tác giả), chứ không phải sử gia, nên ông đã không (hay chưa?) minh thị nêu lên thực tại của một trận chiến ý thức hệ do Cộng Sản thế giới khởi xướng đe dọa toàn thể nhân loại, mà chỉ đặt trọng tâm vào những sự kiện lịch sử liên quan đến cuộc chiến Việt Nam mà thôi.

Nhưng theo thiển kiến, vì cuộc chiến Việt Nam nằm trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ toàn cầu giữa CS và thế giới tự do, cho nên sử gia nào muốn thấu đáo về cuộc chiến Việt Nam, không thể nào không am tường về lý thuyết ý thức hệ. Nghĩa là phải vừa là sử gia, vừa là lý thuyết gia ý thức hệ.

1 Joseph Lawton Collins, Lightning Joe: An autobiogaphy (Baton Rouge: Lousiana State University, 1979), tr. 379.

2 Thư gửi ngoại trưởng Dulles ngày 20-1-1955, DDRS, 1978, 295A.

3 Không biết nhà báo Joseph Buttinger có phải là một người trong số “vài người Mỹ” này không. Nhưng chính ông ta cho biết “Mùa hè năm 1961 một số nhà dân chủ đã liên lạc với tôi ở cả Paris lẫn New York và đề nghị đưa ra lời kêu gọi nhân dân Việt Nam. Dựa vào đó tôi viết tài liệu sau đây, được in ở Paris. Họ đã ký lời kêu gọi, bằng Pháp văn và Việt văn này…”

Nhân đây tưởng cũng nên phổ biến để độc giả biết “những nhà dân chủ” nào đó đã kêu gọi dân Việt qua văn phong của một ngoại nhân như thế nào. Đây là “tác phẩm cách mạng” của Joseph Buttinger được Minh Võ chuyển ngữ. Xin nhắc lại, tác phẩm của một Buttinger sau khi đã lột xác từ người ca tụng và ủng hộ thành kẻ lên án và chống đối Ngô Đình Diệm.

Sau đây là bản dịch (của MV) lời kêu gọi do Buttinger viết giúp các lãnh tụ “dân chủ” từng liên lạc với ông để tìm cách lật ông Diệm:

“Gửi nhân dân Việt Nam đang bị sống trong nô lệ và áp bức!

“Gửi những bậc nam nhi và thục nữ trên thế giới đang sống trong tự do!

“Bảy năm sau hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, nhưng chia đôi nước chúng tôi thành hai nửa què quặt, nhân dân VN đã không đạt được độc lập cũng chẳng có tự do sau một cuộc chiến anh dũng lâu dài. Ngày nay chẳng những chúng tôi là nạn nhân của hai nền độc tài, tuy nhằm hai mục tiêu đối chọi nhau nhưng cùng quyết liệt như nhau trong việc cai trị bằng bạo lực; nhân dân VN ngày nay còn phải chịu đựng một cuộc chiến tranh khốc liệt tàn ác, với chết chóc, hoang tàn.

“Miền Nam mà bảy năm trước hấu hết người dân Việt đặt hết hy vọng vào tự do công bình xã hội, đã trở thành một vùng đất hoang về chính trị dưới sự cai trị độc tài của Ngô Đình Diệm khiến tự do đã bị trục xuất bằng gian lận và bạo lực.

“Trong thế giới tự do, nơi Diệm tiếp tục kêu gọi sự giúp đỡ, chính quyền của ông ta, mặc dầu đã mất uy tín, hãy còn có thể gợi được sự thương cảm và ủng hộ qua lừa mị chính trị vô liêm sỉ. Tại quốc nội, nơi mà sự lừa phỉnh hết công hiệu, chế độ của ông ta chỉ hoàn toàn dựa vào một nhóm nhỏ những tay sai dễ bảo và dựa vào bạo lực chống những nhóm khác. Để được ngoại quốc ủng hộ, Diệm ca ngợi những lý tưởng của Thế Giới Tự Do. Nhưng báo chí bị khóa mõm, bầu cử gian lận, quốc hội gật và những trại tập trung giam giữ đối lập là một sự chế riễu dành cho dân chủ và nhân quyền.

“Phương pháp cai trị của Diệm chẳng giúp gì cho sự bảo vệ miền Nam. Trái lại. Vì nhân dân từ lâu đã quá mệt mỏi với luận điệu của Diệm rằng đất nước chỉ được sống tự do nếu nhân dân bị tước quyền tự do, va vì chính Diệm thiếu mọi đức tính của một lãnh tụ được lòng dân, và của một nhà tổ chức lớn, nên sự cai trị bằng bạo lực của ông ta không hề mảy may tạo được đoàn kết quốc gia hay sức mạnh quân sự mà còn làm hỏng cả hai. Những công dân ngay thẳng đặt sự phục vụ nhân dân trên sự phụng sự bè lũ cầm quyền đã bị loại trừ một cách có hệ thống và bị vu cáo. Chính quyền vì thế trở thành bộ máy thư lại giết chết mọi sáng kiến, trở thành vô hiệu, lãng phí đưa đến nạn tham nhũng.

“Điều đúng với chính quyền thì đáng buồn lại cũng đúng với quân đội. Sáng kiến bị coi là bất tuân, thăng chức phải tùy thuộc vào sự tùng phục hoàn toàn sự phán xét và ý muốn của tổng thống, chứ không phải tùy vào tài tổ chức hay chiến công. Những sĩ quan ưu tú chậm khen tổng thống nơi công cộng hoặc quá nổi tiếng trong đơn vị không bao giờ có cơ may nắm một vai trò quan trọng trong chiến tranh. Hơn nữa, tính cách cá nhân của chính quyền làm cho cuộc chiến do quân đội chỉ huy mất hẳn ý nghĩa quốc gia. Trong khi đó, sự oán ghét của nhân dân dành cho chế độ, khiến cho quân đội không được dân chúng ủng hộ là điều không có không thể được đối với một cuộc phản du kích chiến có hiệu quả.

“Vì những hy vọng vắn vỏi đối với một miền Nam tự do hùng mạnh đã bị chế độ Diệm phá hủy, nhân dân Việt Nam bây giờ đang phải trải qua một giai đoạn đẫm máu và bi thảm trong cuộc chiến dành độc lập và tự do….”

Lời bàn của người viết về thái độ của Buttinger:

Thoạt kỳ thủy Buttinger đến Việt Nam, chỉ với mục đích chứng kiến sự thất bại của ông Diệm mà ông đánh giá là kẻ yếu kém chẳng có thể làm nên trò trống gì. Đến là để nhìn tận mắt sự thất bại. Nhưng khi thấy tận mắt những thắng lợi không ngờ của ông Diệm, thì nói toáng lên là phép lạ. Rồi đâm ra kính phục và triệt để ủng hộ. Nhưng vài năm sau, thấy ông Diệm không chịu mở rộng chính phủ cho một vài lãnh tụ đảng phái mà ông ta quen biết thì ông ta lại phê bình chê ông Diệm độc tài. Nhất là vì ông Diệm “cố chấp” không nghe lời Buttinger yêu cầu để cho các ông Phan Quang Đán, Nguyễn Tôn Hoàn (Đại Việt) một ghế bộ trưởng. Cho nên từ 1961 Buttinger quay ra giúp các phe phái chống ông Diệm, viết tuyên ngôn, lời kêu gọi chống Sài Gòn. Sau khi ông Diệm chết rồi ông lại viết sách thanh minh thanh nga về chuyện ông ủng hộ ông Diệm trong những năm đầu. Đến khi miền Nam mất vào tay Cộng Sản rồi thì Buttinger lại quay ra ca tụng Hồ Chí Minh, lên án tất cả các người Quốc Gia ở miền Nam Việt Nam. Đặc biệt ông còn chê trách các nhà lãnh đạo Mỹ đã “ngu dốt” không ủng hộ ông Hồ. Buttinger cho rằng nếu đừng xua đuổi ông Hồ thì ông ta đã có thể là một thứ Ti-tô hơn cả Ti-tô! (Vietnam, The Unforgettable Tragedy, Horizon Press, NY, 1977, trang 26: “Better Titoist than Tito himself”)

Nhìn vào thái độ xoay như chong chóng đó đủ thấy lập trường chao đảo và tư cách lố lăng của một nhà báo và sử gia “nổi tiếng” trong trường phái tự xưng là “chính thống” của Mỹ.

4 Nhà văn Xuân Vũ trong bộ hồi ký Đường Đi Không Đến, tập Đồng Bằng Gai Góc, trang 89 đã thuật lại lời của một đại đội phó Việt Cộng tên Bình, họ Lê tham dự trận Ấp Bắc kể lại cho tác giả như sau: Tiểu đoàn em chết gần hết. Ban chỉ huy tiểu đoàn không còn ai. Các ban chỉ huy đại đội hi sinh hoàn toàn. Em lúc đó là tiểu đội phó được cho làm đại đội phó. Nhưng đại đội em chỉ được 2 tiểu đội. Cả tiểu đoàn quân số 200, còn lại độ năm chục…”

5 Tuần san Thời Đại (TIME) ngày 14-1-1966 viết: “Maggie wears mud like other women wear makeup” (tạm dịch: Maguerite trang điểm bằng bùn thay vì son phấn như các phụ nữ khác). Cô mất chỉ sau TT Diệm chưa đầy ba năm. Sau một chuyến công tác săn tin ở Việt Nam về nước cô bị bệnh nặng ngay khi còn trên máy bay, và qua đời sau đó 3 tháng.

Trong khi bệnh nặng cô vẫn viết mỗi tuần 3 bài xã luận.

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc Phần II

http://hon-viet.co.uk/MinhVo_NgoDinhDiemVaChinhNghiaDanToc_PhanII.htm

Minh Võ

2- Cành đào Xuân Quí Mão

Cách nay hơn một thập kỷ, khi giáo sư Francis X. Winters cho ra cuốn The Year of the Hare,1 ông có nói đến cành đào có đính danh thiếp của “Chủ Tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh tặng Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm” được trưng bày tại phòng khánh tiết phủ Tổng Thống, (lúc ấy là dinh Gia Long) trong ngày Tết Quý Mão (1963). Nhiều người đã hết sức ngạc nhiên. Làm sao một sự việc quan trọng như vậy mà cho đến nay mới nghe nói? Chính người viết cũng bán tín bán nghi. Nhưng mới đây, khoảng đầu năm 2006, ông Quách Tòng Đức, nguyên đổng lý văn phòng phủ Tổng Thống, đã xác nhận điều đó với luật sư Lâm Lễ Trinh, trong một cuộc phỏng vấn được đăng trên nhiều báo ở Mỹ. Sau đó cựu nghị sĩ Lê Châu Lộc, lúc ấy còn là tùy viên của Tổng Thống Diệm, cho chúng tôi biết thêm là chính ông đã nhận cành đào đó từ trụ sở Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến (ICC). Cành đào rất lớn, nhưng có lẽ vì danh thiếp nhỏ, nên ít người để ý. Continue reading

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc Phần I

http://hon-viet.co.uk/MinhVo_NgoDinhDiemVaChinhNghiaDanToc_PhanI.htm

Minh Võ

1- SƠ LƯỢC (1) TIỂU SỬ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

GIA THẾ

Ngô Đình Diệm là con thứ bốn trong số chín người con của ông Ngô Đình Khả và bà Phạm Thị Thân (2) nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, phía bắc vĩ tuyến 17. Tổ tiên ông, dòng họ Ngô Đình, từng theo đạo Công Giáo từ thế kỷ 17. Năm 1870 hàng trăm người họ Ngô Đình đã bị thiêu sống trong một nhà thờ. Đó là thời gian giáo dân cả nước đang trải qua những cuộc bách hại quy mô theo lệnh các vua Minh Mạng và Tự Đức (3) Continue reading

Một tuần giảm liên tục, chứng khoán Việt ‘bốc hơi’ gần 10 tỷ USD

https://news.zing.vn/mot-tuan-giam-lien-tuc-chung-khoan-viet-boc-hoi-gan-ty-usd-post887476.html

  • 16:36 26/10/2018

Phiên giao dịch 26/10 khép lại với đà giảm của VN-Index, đánh dấu phiên giảm thứ 7 liên tiếp của chứng khoán Việt. Tính trong tuần này vốn hóa thị trường đã mất gần 10 tỷ USD. Continue reading

Nỗi lo của Chủ tịch Tập lên đến cực điểm, nhóm cố vấn kinh tế bị triệu tập họp liên tục

http://www.baoquocdan.org/2018/10/noi-lo-cua-chu-tich-tap-len-en-cuc-iem.html
Trong chưa đầy 2 tháng, nhóm cố vấn cấp cao về kinh tế của ông Tập phải “họp chuyên đề” tới 10 lần, một con số thể hiện sự lo lắng tột độ của ông Tập. Ông Xu Jianwei, một nhà kinh tế học Trung Quốc nhận định “Mối lo ngại trong giới lãnh đạo đã lên tới 100%”.

44728460_2067724673283195_7505322167119118336_n
Họp nhiều như thế liệu có giải quyết được vấn đề gì không?

Có 2 điều phân tích trong vấn đề này. Continue reading

CXN_102618_13 856_ NICOLAI CEAUSESCU TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG KIÊM CHỦ TỊCH NƯỚC ROMANIA LÚC CẦM QUYỀN ĐÃ ĐÀN ÁP NHÂN DÂN DỮ DỘI

https://www.facebook.com/thanhthoi.song.96/posts/350784639010549
xx
Mời bấm vào đây xem video..https://www.facebook.com/thanhthoi.song.96/videos/350783999010613/

Thanh Thoi Song is with Lê Văn Mạnh and 49 others.

9 October at 18:32 ·

NICOLAI CEAUSESCU TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG KIÊM CHỦ TỊCH NƯỚC ROMANIA LÚC CẦM QUYỀN ĐÃ ĐÀN ÁP NHÂN DÂN DỮ DỘI Continue reading

ĐĨ BÚT VTC-NEWS VÀ CÔ GÁI NÉM GIÀY NGUYỄN THÙY DƯƠNG VNTB – VTCnews và bài viết ‘đĩ bút’ v ề Thủ Thiêm

https://nvphamvietdao5.blogspot.com/2018/10/i-but-vtc-news-va-co-gai-nem-giay.html

VNTB – VTCnews và bài viết ‘đĩ bút’ về Thủ Thiêm

Ánh Liên (VNTB)

Ngày 23.10, một bài viết trên VTCnews mang tiêu đề: Ném giày vào diễn giả: Không thể chấp nhận, nhưng chính quyền phải xem lại mình. Continue reading

QUỸ ĐẠO TRUNG QUỐC: VÒNG VÂY KHÔNG LỐI THOÁT!

https://www.quyenduocbiet.com/a5775/quy-dao-trung-quoc-vong-vay-khong-loi-thoat-

44041566_711012375935230_704183905636319232_n nguồn hình Internet

Nguyên Anh

 

Sau khi Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đến Việt Nam hội đàm cùng người đồng cấp Ngô Xuân Lịch thì chỉ sau đó mấy ngày chính Ngô Xuân Lịch phải đi sứ tại Bắc Kinh để tham dự cái được gọi là diễn đàn Hương Sơn và người tiếp y là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Trung Cộng Ngụy Phượng Hoàng; theo truyền thông trong nước cho biết trong cuộc họp này Ngô Xuân Lịch sẽ có bài phát biểu về an ninh mạng, một bước đi sao chép từ nước mẹ nhằm ngăn cấm quyền tự do ngôn luận, tư duy của người dân trong nước. Continue reading

Giải thích một số thuật ngữ cơ bản về Chính Trị

https://www.danluan.org/tin-tuc/20181025/giai-thich-mot-so-thuat-ngu-co-ban-ve-chinh-tri

Giải thích một số thuật ngữ cơ bản về Chính Trị

Hà Huy Toàn

01/ CHÍNH TRỊ

Chính trị, theo nghĩa rộng nhất, là lĩnh vực trung tâm trong đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động nhằm xác định mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ từ phạm vi nhỏ nhất giữa cá nhân này với cá nhân khác đến phạm vi lớn nhất giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Theo nghĩa hẹp nhất, chính trị là tổ chức xã hội theo một trật tự nhất định được quyết định bởi chính hoạt động nhận thứcmọi cá nhân hợp thành xã hội, trong đó nhận thức chung đóng vai trò quyết định, theo đó nhận thức chung hiện hữu thế nào sẽ quy định chính trị như thế, làm cho chính trị thế nào chỉ biểu hiện nhận thức chung hiện hữu như thế. Nhận thức chung luôn luôn chỉ biểu hiện quan điểm chung cho đa số cá nhân trong một cộng đồng nhất định biểu hiện thành ý thức hệ hoặc hệ tư tưởng. Chính trị được thực hiện thế nào sẽ phụ thuộc vào hệ tư tưởng hoặc nhận thức chung cho mọi cá nhân, trong đó bao gồm tất cả các quan niệm chung 1).

Quyền là khả năng thực hiện ý chí ở mỗi cá nhân nhất định được công nhận bởi quan niệm chung cho cả xã hội 2).

Nghĩa vụ là trách nhiệm được quy định cho một cá nhân nhất định hoặc một cộng đồng nhất định phải thực hiện đối với một cá nhân khác hoặc một cộng đồng khác 3).

Chính trị bắt nguồn từ bản tính vị kỷ vốn tồn tại thường hằng ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc biểu hiện cụ thể thành một số phẩm chất cơ bản: ích kỷ, tư lợitham lam, làm cho mỗi cá nhân nhất định không muốn thực hiện nghĩa vụchỉ muốn hưởng quyền dẫn đến tranh giành quyền lực từ phạm vi nhỏ nhất giữa cá nhân này với cá nhân khác đến phạm vi lớn nhất giữa cộng đồng này với cộng đồng khác.

Nếu người nào không thích chính trị hoặc không quan tâm chính trị thì chỉ chứng tỏ người đó vẫn còn ấu trĩ hoặc chưa trưởng thành.

Nếu người nào thích chính trị hoặc quan tâm chính trị nhưng không hiểu hoặc chỉ hiểu sai về chính trị, không hiểu được căn nguyên cho chính trị, không phân biệt được độc tài với dân chủ, mà lại theo đuổi tham vọng chính trị, thì chỉ chứng tỏ người đó sẽ trở thành nhà độc tài để làm hại kẻ khác, cũng như ham học hoặc học nhiều mà chỉ học sai sẽ còn nguy hiểm hơn cả vô học.

02/ BẢN TÍNH VỊ KỶ

Bản tính vị kỷ là khuynh hướng tâm lý lấy MÌNH làm MỤC ĐÍCH cho MÌNH đồng thời lấy MỌI THỨ KHÁC làm PHƯƠNG TIỆN để thoả mãn MÌNH.

Bản tính vị kỷ được xác định bằng bản chất cho nhân loại 4). Các sinh vật khác có thể cũng có bản tính vị kỷ nhưng chúng không thể ý thức chân thực về bản tính đó mà chỉ có thể phó mặc mình cho bản tính đó thúc đẩy mình sống theo bản năng mù quáng. Ngược lại, nhân loại phải vượt lên trên mọi sinh vật khác bằng ý thức chân thực về bản tính vị kỷ để có thể sống theo ĐẠO ĐỨC. Nếu không ý thức chân thực về bản tính vị kỷ thì nhân loại cũng chỉ như mọi sinh vật khác mà thôi.

Ý thức chân thực cho thấy rõ ràng: bản tính vị kỷ vừa tốt vừa xấu, nó chỉ xấu khi thúc đẩy người ta làm điều xấu hoặc nó chỉ tốt khi thúc đẩy người ta làm điều tốt. Điều tốt làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu chỉ gây hại cho nhân loại.

Vì bản tính vị kỷ tồn tại thường hằngmọi cá nhân sống vào mọi lúc nên mỗi cá nhân nhất định phải biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC đồng thời phải biết sống theo PHÁP LUẬT. Nếu làm khác thì sẽ TỰ SÁT, nếu dối trá thì sẽ TỰ SÁT, nếu dùng bạo lực với đồng loại thì sẽ TỰ SÁT, nếu cướp bóc đối với đồng loại thì sẽ TỰ SÁT. Kẻ nào làm hại người khác, kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình. Chẳng ai làm hại kẻ đó mà chính kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình.

Chính bản tính vị kỷ vừa làm ĐỘNG LỰC TUYỆT ĐỐI cho LỊCH SỬ vừa làm NGUỒN GỐC THỰC SỰ cho PHÁP LUẬT.

Bản tính vị kỷ bắt nguồn từ ĐÂU? Có lẽ bản tính vị kỷ bắt nguồn từ THƯỢNG ĐẾ. Từ nhỏ, tôi đã được nghe nói rằng mọi thứ đều được tạo dựng bởi THƯỢNG ĐẾ khiến tôi xác tín chắc chắn rằng cả BẢN TÍNH VỊ KỶ lẫn Ý NIỆM CHÂN THỰC về bản tính đó đều bắt nguồn từ THƯỢNG ĐẾ. Lớn lên, tôi được gợi ý rằng: phải có Ý NIỆM CHÂN THỰC về BẢN TÍNH VỊ KỶ mới có thể trở thành NGƯỜI TỬ TẾ để biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC đồng thời biết tạo dựng PHÁP LUẬT, qua đó sẽ tạo dựng được nền CỘNG HOÀ!

03/ CỘNG HOÀ

Cộng hoà là cộng lại để phân chia đồng đều cả quyền lẫn nghĩa vụ cho mọi cá nhân làm cho mỗi cá nhân nhất định không thể làm chủ đối với các cá nhân khác đồng thời cũng không thể bị làm chủ bởi các cá nhân khác mà chỉ có thể tự làm chủ đối với chính mình, tức là dân chủ 5).

Trong ngôn ngữ Latin, Republica thường được phiên dịch sang Việt ngữ thành Cộng hòa nhưng thật ra nó mang nghĩa tương đương với Democracy trong Anh văn vốn bắt nguồn từ Hy văn, Democracy trong Anh văn thường được phiên dịch sang Việt ngữ thành Dân chủ, làm cho Republica luôn luôn được dùng thay thế cho Democracy cũng như Democracy luôn luôn được dùng thay thế cho Republica. Nền Cộng hòa cũng có nghĩa là nền Dân chủ; tương tự như vậy, nền Dân chủ cũng có nghĩa là nền Cộng hòa. Do Cộng hòa đồng nghĩa như vậy với Dân chủ nên nếu dùng “Cộng hòa” thì không dùng “Dân chủ” hoặc nếu dùng “Dân chủ” thì không dùng “Cộng hòa”.

Một số nhà nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản đã đặt tên cho mình bằng những danh xưng kỳ quặcđể vừa mê hoặc dân chúng vừa tự mê hoặc chính mình. Ví dụ: Cộng hoà Dân chủ Đức đã quá cố vào cuối năm 1991; Việt nam Dân chủ Cộng hoà đã bị thay thế bằng Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt namvào năm 1976; Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều tiên đang phát cuồng mà gây ra nỗi kinh hoàng cho cả thế giới, v. v.. Các danh xưng đó luôn luôn bị thừa một trong hai chữ này: “Dân chủ” hoặc “Cộng hoà”. Vì hai chữ đó đồng nghĩa với nhau nên nếu dùng “Cộng hoà” thì không cần dùng thêm “Dân chủ” hoặc nếu dùng “Dân chủ” thì không cần dùng thêm “Cộng hoà” nhưng họ đã dùng cả hai chữ đó cho “chắc chắn”!!! Dùng danh xưng như vậy đã thể hiện cái gì: não trạng dốt nát hay hội chứng tâm thần??? Trong số các nhà nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản, có một số nhà nước độc tài đã tỏ ra tinh quái hơn. Ví dụ: Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu đã đặt tên cho mình bằng “Cộng hoà Nhân dân Trung hoa” để phân biệt “Cộng hoà Nhân dân” ở nước Tàu với “Cộng hoà Tư sản” ở Tây phương. Khi mới tái xuất hiện tại Tây phương từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, nền Cộng hoà chỉ thuộc về các nhà giàu hợp thành giai cấp tư sản, tức là nền Cộng hoà không thể tránh khỏi phải mang tính chất tư sản để chỉ trở thành nền Cộng hoà Tư sản với những khiếm khuyết rõ ràng. Tuy nhiên, từ khoảng giữa thế kỷ XX đến nay, nền Cộng hoà Tư sản đã tiến hoá ngoạn mục thành nền Cộng hoà Nhân dân với đủ cả ba thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do; cả ba thiết chế đó đều bảo đảm cho toàn bộ quyền lực nhà nước phải thuộc về toàn thể nhân dân, tức là nền Cộng hoà Tư sản đã tiến hoá ngoạn mục thành nền Cộng hoà theo đúng ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó để người ta không cần dùng “Nhân dân” làm cái đuôi cho nó. Ngược lại, nền “Cộng hoà Nhân dân” tại nước Tàu chỉ tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước vào một số ít đảng viên cốt cán trong Đảng Cộng sản Tàu để Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu trở thành một đế chế nguy hiểm nhất trên thế giới từ xưa đến nay. Vậy Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu đặt tên cho mình bằng “Cộng hoà Nhân dân Trung hoa” để không chỉ loè bịp được dân chúng tại nước Tàu mà còn loè bịp được cả thế giới. Đế quốc Tàu luôn luôn mưu toan thôn tính Việt nam để bành trướng xuống Đông Nam Á châu. Việc đánh chiếm Quần đảo Hoàng sa vốn dĩ thuộc về Việt nam đã bộc lộ rõ ràng tham vọng đế quốc từ Cộng sản Tàu. Không chịu thua kém Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu, Nhà nước Cộng sản tại Việt nam đã thay thế “Việt nam Dân chủ Cộng hoà” bằng “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam”, tức là đã thay thế “Dân chủ” bằng “Xã hội Chủ nghĩa” trong danh xưng cho mình vào năm 1976, để vừa khắc phục được sự rối rắm về chữ nghĩa vừa huỷ bỏ được cái Công hàm Ngoại giao ngày 14 Tháng Chín 1958 được ký kết bởi Phạm Văn Đồng đã bị lợi dụng làm “bằng chứng lịch sử” cho Cộng sản Tàu chiếm đóng Quần đảo Hoàng sa vào năm 1974. Nhà nước Cộng sản tại Việt nam phải huỷ bỏ cái công hàm kia bằng việc thay đổi danh xưng cho mình để sau đó sẽ đòi lại chủ quyền hiển nhiên đã thuộc về cả Dân tộc Việt nam đối với Quần đảo Hoàng sa. Về việc này, tôi xin long trọng ngợi khen Đảng Cộng sản Việt nam cho dù cái “Xã hội Chủ nghĩa” rất sống sượng về ý thức hệ!

04/ DÂN CHỦ

Dân chủ là công dân làm chủ đối với chính mình bằng Ý CHÍ biểu hiện thành PHÁP LUẬT 6).

Thuật ngữ về dân chủ (Anh văn: democracy) bắt nguồn từ Hy văn: demokratein, được ghép lại bởi hai từ: demos (có nghĩa là công dân) với kratein (có nghĩa là làm chủ, cai trị, quản lý, kiểm soát, v. v.). Vậy dân chủ tức là công dân làm chủ, cai trị, quản lý, kiểm soát, v. v..

Theo ý nghĩa chính xác nhất, dân chủ tức là công dân làm chủ bản thân bằng ý chí biểu hiện thành pháp luật như đã được định nghĩa ở trên. Cũng theo ý nghĩa đó, công dân chỉ tồn tại với thể chế dân chủ mà thôi. Với các thể chế khác, dân chúng bị cai trị không thể được gọi tên bằng “Công dân” mà chỉ có thể được gọi tên bằng “Thần dân” hoặc “Nô dân”, nếu họ được gọi tên bằng “Công dân” thì chỉ chứng tỏ họ đang bị lừa dối, có thể bị lừa dối bởi nhà nước chuyên chế nhưng cũng có thể bị lừa dối bởi chính mình 7).

05/ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

Chế độ Dân chủ là thể chế chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có thể làm chủ đối với chính mình bằng PHÁP LUẬT 8). Pháp luật bắt buộc mọi người phải biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC. Vậy ĐẠO ĐỨC làm ĐỘNG CƠ cho CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ.

06/ PHÁP LUẬT

Pháp luật là các quy tắc xử sự theo nguyên tắc bình đẳng được quy định chung bởi toàn thể nhân dân đồng thời được bảo đảm thi hành bởi nhà nước pháp quyền.

Cần chú ý rằng: pháp luật phải dựa trên NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG, nếu không dựa trên nguyên tắc đó thì không có PHÁP LUẬT. Một điều luật bất công không phải là luật (an unjust law is no law at all). Luật bất công là luật chỉ được làm ra bởi con người mà không xuất phát từ luật vĩnh cửu và luật tự nhiên. Luật nào nâng cao phẩm giá con người, luật đó công bằng. Luật nào làm mất phẩm giá con người, luật đó bất công (An unjust law is a human law that is not rooted in eternal law and natural law. Any law that uplifts human personality is just. Any law that degrades human personality is unjust). Chính St. Aurelius Augustin đã xác quyết chính xác như vậy.

Theo định nghĩa, pháp luật không thể tồn tại được với chế độ độc tài mà chỉ có thể tồn tại được với thể chế dân chủ 9).

Pháp luật bao gồm Hiến pháp làm đạo luật cơ bản cùng với các đạo luật khác phải dựa vào Hiến pháp hoặc phải phù hợp với Hiến pháp.

07/ HIẾN PHÁP

Hiến pháp theo đúng ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó là đạo luật cơ bản làm cơ sở pháp lý cho cả xã hội công dân lẫn nhà nước pháp quyền, bao gồm các điều luật khái quát nhất chỉ quy định chung nhất các quy tắc chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, đồng thời bảo đảm cho nhà nước pháp quyền phải được phân chia thành ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vừa độc lập với nhau về cơ thể hoặc nhân sự vừa thống nhất với nhau về ý chí hoặc mục đích để mọi cá nhân đều thực hiện được cả quyền lẫn nghĩa vụ dựa trên Tự do – Bình đẳng – Bác ái.

Vì làm đạo luật cơ bản nên Hiến pháp phải thể hiện được ý chí chung cho mọi cá nhân hoặc toàn thể nhân dân. Muốn vậy, Hiến pháp phải được làm chung bởi mọi cá nhân hoặc toàn thể nhân dân 10).

08/ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Nhà nước Pháp quyền là hệ thống chính trị điều hành xã hội bằng PHÁP LUẬT dựa trên BA thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do, để bản tính vị kỷ không thúc đẩy mọi người gây hại cho nhau mà chỉ thúc đẩy mọi người làm lợi cho nhau bằng Tự doBình đẳngBác ái, tức là hành xử theo ĐẠO ĐỨC. Phải có đủ cả ba thiết chế đó mới bảo đảm cho nhà nước pháp quyền tồn tại để có thể điều hành xã hội bằng pháp luật. Pháp luật sẽ kiểm soát được bản tính vị kỷ ở mọi cá nhân làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo ĐẠO ĐỨC như đã nói ở trên. Thiếu một trong ba thiết chế đó sẽ không thể có nhà nước pháp quyền, cũng tức là không thể có dân chủ thật sự, không có Tự do – không có Bình đẳng – không có Bác ái 11).

Ví dụ: Thái lan có ĐA ĐẢNG nhưng không có tam quyền phân lập, chính vì chỉ có ĐA ĐẢNG mà không có tam quyền phân lập nên Thái lan thường xuyên xảy ra khủng hoảng chính trị để Vua phải ra lệnh cho quân đội dẹp loạn. Nước Nga cũng gần giống như Thái lan, tuy có ĐA ĐẢNG nhưng không có tam quyền phân lập làm cho cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, đều được tập trung cả vào Tổng thống. Thật đáng tiếc cho nhiều đấu sỹ dân chủ tại Việt nam hiện nay đã không biết sự thật về chế độ chính trị tại cả nước Nga lẫn Thái lan khiến họ đã đặt để cả hai nước đó vào ý niệm chung về các nước dân chủ 12).

09/ TAM QUYỀN PHÂN LẬP

Tam quyền phân lập, tức là nhà nước pháp quyền phải được phân chia độc lập về nhân sự thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện ba quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp, theo đó bất cứ cá nhân nào đang làm quan chức cho cơ quan này cũng không được làm quan chức cho cơ quan khác để ngăn ngừa mọi quan chức nhà nước lạm dụng quyền lực nhà nước. Ba cơ quan đó bằng nhau về tổng số sức mạnh để kiểm soát lẫn nhau theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp đồng thời cũng phải thực hiện cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp nhưng chỉ thực hiện hạn chế cả hai quyền lực đó mà thôi, cụ thể là cơ quan lập pháp không được thực hiện cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp đối với dân chúngchỉ thực hiện quyền lực hành pháp đối với cơ quan hành pháp đồng thời chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp. Nguyên tắc này có thể được diễn đạt cụ thể như sau: 1/ Cơ quan lập pháp chỉ kiểm sát (kiểm tra kết hợp với giám sát) cơ quan hành pháp thực hiện thế nào quyền lực hành pháp, nếu cơ quan hành pháp thực hiện sai lầm quyền lực hành pháp thì cơ quan lập pháp phải áp dụng các biện pháp ngăn cản đối với cơ quan hành pháp bằng việc lên án hoặc công kích cơ quan hành pháp với dư luận nhân dân (công luận), nếu chưa ngăn cản được cơ quan hành pháp bằng việc đó thì cơ quan lập pháp có thể cần phải tố cáo cơ quan hành pháp với cơ quan tư pháp để cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan hành pháp; 2/ Cơ quan lập pháp chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp bằng một trong hai bộ phận khác nhau hợp thành cơ quan lập pháp mà thôi, nếu cả hai bộ phận đó đều thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp thì tất cả sẽ bị mất hết: cơ quan tư pháp sẽ không dám thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan lập pháp cũng như cơ quan lập pháp sẽ không dám thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp, tức là quyền lực tư pháp sẽ bị tê liệt, làm cho ý chí chung bị tiêu diệt mà không thể tồn tại được thành pháp luật, tức là pháp luật bị biến thành con số không; hoặc thậm chí cơ quan lập pháp sẽ liên kết bất chính với cơ quan tư pháp để tiêu diệt ý chí chung làm cho tất cả sẽ bị mất hết. Khi thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp bằng một bộ phận nhất định như trên, cơ quan lập pháp phải thiết lập một thiết chế đặc biệt có thể được xem như một Toà án Đặc biệt thông qua bầu cử tự do cho bộ phận đó để cái thiết chế kia (Toà án Đặc biệt) thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp. Phải làm thế để mới có thể bảo đảm sự độc lập giữa cơ quan lập pháp với cơ quan tư pháp.

Thứ hai, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp đồng thời cũng phải thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực tư pháp nhưng chỉ thực hiện hạn chế cả hai quyền lực đó mà thôi, cụ thể là cơ quan hành pháp không được thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực tư pháp đối với dân chúngchỉ thực hiện quyền lực lập pháp đối với cơ quan lập pháp đồng thời chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp. Nguyên tắc này có thể được diễn đạt cụ thể như sau: 1/ Cơ quan hành pháp chỉ thực hiện quyền lực lập pháp đối với cơ quan lập pháp bằng chức năng ngăn cản mà thôi, tức là cơ quan hành pháp chỉ có thể đề xuất các điều luật dự kiến cho cơ quan lập pháp để cơ quan lập pháp xem xét rồi quyết định bằng việc biểu quyết khiến các điều luật đó có thể được thông qua (được chấp nhận) bởi cơ quan lập pháp nhưng cũng có thể bị phủ quyết (bị bác bỏ) bởi chính cơ quan đó khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; hoặc cơ quan hành pháp có thể phủ quyết(bác bỏ) các điều luật chính thức đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; 2/ Cơ quan hành pháp cũng chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp bằng chức năng ngăn cản mà thôi, tức là cơ quan hành pháp chỉ có thể tố cáo cơ quan tư pháp với cơ quan lập pháp mà không thể được xét xử cơ quan tư pháp.

Thứ ba, cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp đồng thời cũng phải thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực hành pháp nhưng chỉ thực hiện hạn chế cả hai quyền lực đó mà thôi, cụ thể là cơ quan tư pháp không được thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực hành pháp đối với dân chúngchỉ thực hiện quyền lực lập pháp đối với cơ quan lập pháp đồng thời chỉ thực hiện quyền lực hành pháp đối với cơ quan hành pháp. Nguyên tắc này có thể được diễn đạt cụ thể như sau: 1/ Cơ quan tư pháp cũng có thể hành xử với cơ quan lập pháp như cơ quan hành pháp hành xử với cơ quan lập pháp, như đã được trình bày ở trên kia: cơ quan tư pháp có thể đề xuất các điều luật dự kiến cho cơ quan lập pháp để cơ quan lập pháp có thể thông qua (chấp nhận) nhưng cũng có thể phủ quyết (bác bỏ) khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; hoặc cơ quan tư pháp có thể phủ quyết(bác bỏ) các điều luật chính thức đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; 2/ Cơ quan tư pháp phải vô hiệu hoá các quyết định nào đó được đưa ra bởi cơ quan hành pháp khi có cơ sở xác thực cho thấy các quyết định đó sai lầm hoặc có thể làm hại ý chí chung, như vừa mới xảy ra với Tổng thống Donald J. Trump tại Mỹ vào những ngày đầu nhiệm kỳ 2016 – 2020 chẳng hạn. Ngoài ra, cơ quan tư pháp phải diễn dịch chính xác ý chí chung cho mọi cá nhân hiểu biết được đúng đắn ý chí đó để thực hiện quyền lực hành pháp, tức là giải thích pháp luật để pháp luật được vận hành đúng đắn 13).

10/ ĐA NGUYÊN BÌNH ĐẲNG

Đa nguyên bình đẳng phải được định nghĩa về cả mặt tư tưởng lẫn mặt chính trị. Về mặt tư tưởng, đa nguyên tức là nhiều quan điểm khác nhau. Đa nguyên bình đẳng, tức là nhiều quan điểm khác nhau vừa phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng vừa phải chấp nhận nguyên tắc đó. Một quan điểm nào đó không chấp nhận nguyên tắc bình đẳng sẽ dẫn đến tiêu diệt chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ sẽ không thể chấp nhận quan điểm đó. Chế độ dân chủ sẽ không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt. Về mặt chính trị, đa nguyên bình đẳng tức là nhà nước pháp quyền phải được làm chủ bởi toàn thể nhân dân thông qua nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị để ngăn ngừa các điều luật bất công dẫn đến tai hoạ cho dân chúng, cũng như phương tiện giao thông phải có phanh hãm thật tốt để phòng tránh tai nạn giao thông.

Mỗi tổ chức độc lập hoặc mỗi đảng phái chính trị sẽ đại diện cho một quan điểm nhất định. Vì tất cả các quan điểm khác nhau đều phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng đồng thời phải chấp nhận nguyên tắc đó, không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt, nên tất cả các tổ chức độc lập hoặc tất cả các đảng phái chính trị cũng đều không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt, các tổ chức độc lập hoặc các đảng phái chính trị không được loại trừ nhau mà phải chấp nhận nhau.

Quyền lực nhà nước vốn dĩ đáng sợ nhất trên đời, nếu không bị kiểm soát chặt chẽ bởi toàn thể nhân dân thông qua nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị thì quyền lực đó có thể làm hại bất cứ ai, kể cả chính nhà cầm quyền. Chính vì quyền lực nhà nước có thể làm hại bất cứ ai nên thể chế dân chủ phải bảo đảm cho nhân làm chủ đối với nhà nước pháp quyền bằng nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị để nhân dân có thể kiểm soát chặt chẽ đối với quyền lực đó 14).

11/ BẦU CỬ TỰ DO

Bầu cử tự do, tức là nhà nước pháp quyền phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi cá nhân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Bầu cử tự do có một số tác dụng sau đây: 1/ Lựa chọn được những người tài đức làm quan chức nhà nước; 2/ Làm cho mọi quan chức nhà nước đều phải lệ thuộc vào dân chúng để phục vụ dân chúng; 3/ Ngăn ngừa được sự tha hoá hư hỏng trong nhà nước pháp quyền, tức là bảo tồn ĐẠO ĐỨC cho nhà nước pháp quyền; vân vân 15).

12/ ĐẠO ĐỨC

Đạo đức là những giá trị tinh thần làm cho bản tính vị kỷ thúc đẩy người ta hành động vị tha để mỗi cá nhân nhất định tự nguyện điều chỉnh hành vi ứng xử sao cho phù hợp với ý chí chung hoặc lợi ích chung.

Nhà nước pháp quyền với BA thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do, làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo ĐẠO ĐỨC.

Đạo đức biểu hiện phổ biến thành các giá trị cơ bản sau đây: Tự doBình đẳngBác ái 16).

13/ TỰ DO

Tự do là tình trạng được làm tất cả những gì có lợi cho mình đồng thời cũng có lợi cho cả người khác biểu hiện thành toàn bộ các quyền làm người thuộc về mỗi cá nhân nhất định hoặc nhân quyền như vẫn thường gọi, khiến người ta phải suy nghĩ đúng đắn trước khi hành động để tránh sai lầm.

Vì tự do đòi hỏi mỗi cá nhân nhất định phải biết suy nghĩ đúng đắn để tránh sai lầm nên không phải dân tộc nào cũng được tự do mà chỉ những dân tộc trưởng thành mới có thể được tự do.

Dân tộc nào muốn được tự do, dân tộc đó phải được khai sáng bởi CÁC TRIẾT GIA hoặc CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG. Nhưng không phải ai cũng có thể làm TRIẾT GIA hoặc NHÀ TƯ TƯỞNG. Vậy cần phải làm thế nào đó để có thể tạo ra được CÁC TRIẾT GIA hoặc CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG 17).

14/ BÌNH ĐẲNG

Bình đẳng là như nhau hoặc giống nhau về cả quyền lẫn nghĩa vụ. Không thực hiện được một nghĩa vụ nào đó cũng sẽ không thể thực hiện được một quyền tương ứng. Ví dụ: một người nào đó bị khuyết tật ở chân sẽ không thể thực hiện được nghĩa vụ quân dịch nhưng cũng sẽ không thể thực hiện được quyền tự do đi lại mặc dù pháp luật vẫn bảo đảm quyền tự do đi lại cho người đó khiến người khác không thể ganh tỵ với người đó.

Sự bình đẳng phải dựa trên pháp luật. Nhưng pháp luật lại dựa trên bản tính vị kỷ. Vậy chính bản tính vị kỷ làm cơ sở tự nhiên cho sự bình đẳng 18).

15/ BÁC ÁI

Bác ái là yêu thương người khác như yêu thương chính mình. Vì bản tính vị kỷ tồn tại thường hằng ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc nên kẻ nào không biết sống bác ái, kẻ đó sẽ tự sát. Chẳng ai làm hại kẻ đó mà chính kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình.

Bác ái đối lập hẳn với tự ái. Tự ái là tình cảm tự yêu mình mà không quan tâm đến người khác. Tự ái sẽ chỉ dẫn đến độc tài đối lập với bác ái sẽ dẫn đến dân chủ. Đấu tranh dân chủ mà không biết bác ái sẽ chỉ thay thế độc tài này bằng độc tài khác 19).

16/ ĐỘC TÀI

Độc, tức là một mình. Tài, tức là quyết đoán hoặc quyết định. Độc tài, tức là một mình quyết định mọi việc 20).

17/ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Chế độ Độc tài là thể chế chính trị bảo đảm cho một cá nhân duy nhất hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ có thể cai trị được tất cả những người khác bằng BẠO LỰC 21). Bạo lực gây ra sự SỢ HÃI cho TẤT CẢ MỌI NGƯỜI mặc dù lúc đầu bạo lực chỉ gây ra sự sợ hãi cho dân chúng bị cai trị nhưng dần dần về sau bạo lực sẽ gây ra sự sợ hãi cho tất cả mọi người. Vậy sự SỢ HÃI làm ĐỘNG CƠ cho CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI.

Vào giai đoạn cuối cùng, động cơ cho chế độ độc tài sẽ bị chùng xuống, tức là sự sợ hãi sẽ bị suy yếu cùng cực để dân chúng không còn sợ hãi nữa. Đến một giới hạn nhất định, chế độ độc tài sẽ được thay thế bằng chế độ dân chủ.

18/ NHÀ NƯỚC BẠO QUYỀN

Nhà nước Bạo quyền là một hoặc một số ít người nào đó cai trị tất cả những người khác bằng BẠO LỰC dựa trên BA điều kiện cơ bản: 1/ Bạo hành; 2/ Cướp bóc; 3/ Dối trá, dẫn đến TỘI ÁC.

Nhà nước bạo quyền cũng có thể phải bày đặt luật lệ cho có nhưng sẽ không thể có luật lệ nghiêm minhchỉ có thể có luật lệ mù quáng hoặc không thể có luật lệ công bằngchỉ có thể có luật lệ bất công. Để áp đặt luật lệ bất công cho xã hội, nhà nước bạo quyền phải bạo hành, cướp bócdối trá, đối với dân chúng, tức là mọi luật lệ được bày đặt bởi nhà nước bạo quyền đều chỉ quy về BA điều kiện kia để cai trị dân chúng mà thôi. Bạo hành gây ra sợ hãi cho dân chúng để dân chúng phục tùng nhà độc tài. Cướp bóc gây ra bất công cho xã hội để dân chúng lệ thuộc nhà độc tài. Dối trá gây ra ngu dốt cho tất cả mọi người để dân chúng chấp nhận nhà độc tài. Tóm lại, luật lệ bất công cũng chỉ dẫn đến TỘI ÁC.

Vào giai đoạn cuối cùng, ba điều kiện đó sẽ suy yếu cùng cực để dân chúng không còn sợ hãi, không còn lệ thuộc, không còn ngu dốt nữa. Đến một giới hạn nhất định, nhà nước bạo quyền sẽ được thay thế bằng nhà nước pháp quyền 22).

19/ DÂN CHỦ HOÁ

Dân chủ hoá là mọi hoạt động xã hội nhằm thay đổi thể chế chính trị từ thể chế độc tài sang thể chế dân chủ: thay thế nhà nước bạo quyền bằng nhà nước pháp quyền.

Dân chủ hoá là một quá trình phức tạp có thể được phân chia thành 5 giai đoạn khác nhau: 1/ Xây dựng một cơ sở tư tưởng; 2/ Xây dựng một đội ngũ cán bộ; 3/ Tạo lập các phương tiện cần thiết; 4/ Xây dựng cơ sở quần chúng; 5/ Thông qua HIẾN PHÁP cho THỂ CHẾ DÂN CHỦ. Trong đó giai đoạn đầu tiên đóng vai trò quan trọng nhất. Chính vì quan trọng nhất nên giai đoạn này khó khăn nhất chỉ có thể được thực hiện thành công bởi những tài năng xuất chúng. Đó là các triết gia hoặc các nhà tư tưởng.

Dân chủ hoá không thể được thực hiện thành công bằng bạo lực hoặc lừa dối mà chỉ có thể được thực hiện thành công bằng SỰ THẬT, TÌNH YÊU THƯƠNG và LÒNG TRẮC ẨN, đòi hỏi mọi người phải biết ĐỐI THOẠI – TƯƠNG KÍNH – KHOAN DUNG. Vì bản tính vị kỷ tồn tại phổ biến ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc nên nếu làm khác thì sẽ TỰ SÁT, nếu dùng bạo lực thì sẽ TỰ SÁT, nếu lừa dối thì sẽ TỰ SÁT!

Dân chủ hoá phải tuân thủ nguyên tắc cùng thắng (the principle of winwin) sao cho không một kẻ nào bị thua mà tất cả cùng thắng: cả người đấu tranh lẫn người bị đấu tranh đều thắng.

Dân chủ hoá được kết thúc khi thông qua được HIẾN PHÁP cho THỂ CHẾ DÂN CHỦ 23).

20/ DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH

Diễn biến hòa bình là chiến lược toàn cầu được thúc đẩy bởi Chính phủ Mỹ nhằm dân chủ hoá thế giới bằng phương pháp hoà bình với các đòn bẩy chủ yếu bao gồm: kinh tế, chính trị, văn hóatư tưởng, v. v., trong đó văn hoátư tưởng được dùng làm công cụ chủ yếu để các nước độc tài tự chuyển hoá về thể chế chính trị từ chế độ độc tài đến chế độ dân chủ.

Diễn biến hòa bình được khởi động bí mật từ năm 1946 với một điện tín dài (Long Telegram) được viết bởi George Frost Kennan (1904 – 2005), một nhà ngoại giao cự phách làm sứ giả cho nước Mỹ tại Liên bang Soviet, đánh giá về Liên bang Soviet từ Moscow gửi qua Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ: Dean Acheson, đến Tổng thống Mỹ: Harry S. Truman (1884 – 1972), đề nghị các quốc gia tự do áp dụng các biện pháp hòa bình, bao gồm các công cụ chủ yếu, như kinh tế, chính trị, văn hóatư tưởng, v. v., nhằm dân chủ hóa thế giới; trong đó biện pháp quân sự chỉ được áp dụng khi không thể khác với các nhà độc tài ngoan cố mà thôi. Đến năm 1953, diễn biến hòa bình được thể nghiệm công khai với một diễn văn nổi tiếng được trình bày trước Nghị viện Mỹ bởi một chính khách xuất sắc có tên là John Foster Dulles lúc đó làm Bộ trưởng cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Từ đó đến nay, diễn biến hòa bình đã đạt được thành công rực rỡ rồi được lấy làm chiến lược toàn cầu cho hầu hết các quốc gia tự do trên khắp thế giới.

Chính nhờ diễn biến hoà bình mà nhiều nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu châu đã tự chuyển hoá chính trị từ nền độc tài cộng sản sang nền dân chủ tự do từ năm 1989 đến năm 1991 24).

21/ CỘNG SẢN

Cộng sản là cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân 25). Không hiểu gì mà chỉ mới nghe sơ qua về cộng sản sẽ hiểu lầm ngay lập tức rằng cộng sản rất công bằng, rất bình đẳng, rất nhân đạo, v. v.. Nhưng nếu bình tĩnh để suy xét thấu đáo thì sẽ giật mình nhận thấy cộng sản không chỉ rất sai lầm mà còn rất nguy hiểm, rất bất công, rất dã man. Vì các cá nhân vừa khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần vừa giống nhau về bản tính vị kỷ (ích kỷ, tư lợi và tham lam) nên cộng sản luôn luôn bất khả thi. Về mặt khác nhau giữa người với người, có người sinh ra rất khoẻ mạnh nhưng cũng có người sinh ra rất yếu đuối, có người học ít vẫn có thể hiểu nhiều hoặc hiểu đúng nhưng cũng có người học nhiều lại chỉ hiểu ít hoặc hiểu sai hoặc thậm chí không hiểu gì cả, v. v. 26). Về mặt giống nhau giữa người với người, mọi cá nhân đều có bản tính vị kỷ. Bản tính này vừa tốt vừa xấu, nó chỉ xấu khi thúc đẩy người ta làm điều xấu hoặc nó chỉ tốt khi thúc đẩy người ta làm điều tốt. Điều tốt làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu chỉ gây hại cho nhân loại (xem lại mục 02 ở trên). Vì giống nhau về bản tính vị kỷ nhưng lại khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần nên các cá nhân ắt phải khác nhau về cả CỐNG HIẾN lẫn HƯỞNG THỤ, cống hiến khác nhau, hưởng thụ khác nhau, hưởng thụ phải tương xứng với cống hiến mới công bằng. Công bằng phải CÂN BẰNG giữa cống hiến với hưởng thụ: làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, không làm không hưởng, xin xin hẳn, cho cho hẳn, vay phải trả, không cùn quỵt, không nhập nhằng. Nếu cống hiến khác nhau mà hưởng thụ giống nhau hoặc cống hiến giống nhau mà hưởng thụ khác nhau thì BẤT CÔNG, RẤT BẤT CÔNG, CỰC KỲ BẤT CÔNG, trái ngược hẳn với công bằng. Vậy nếu cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân như cộng sản đã được định nghĩa ở trên, tức là CÀO BẰNG TÀI SẢN, thì sẽ làm cho xã hội bất công: làm nhiều hưởng ít, làm ít hưởng nhiều, không làm cũng hưởng, hưởng không theo làm, người nào cống hiến nhiều hơn sẽ bị thua thiệt, người nào tử tế hơn sẽ bị vùi dập, người nào thông minh hơn sẽ bị tiêu diệt, v. v.. Muốn giành được lợi lộc đồng thời tránh bị thua thiệt, người ta sẽ phải lựa chọn sống lười nhác để ăn bám đồng thời lựa chọn “ngu sy hưởng thái bình” để dần dần trở nên ngu dốt theo ý muốn dẫn đến một xã hội bầy đàn dựa trên sự kìm hãm lẫn nhau giữa người với người, chẳng ai muốn kẻ khác hơn mình mà chỉ muốn kìm hãm kẻ khác để kẻ khác cũng chỉ như mình thôi, từ đó ắt phải dẫn đến xung đột xã hội. Chưa kể mọi sự xấu xa khác sẽ phát sinh từ đó. Ôi, thật khủng khiếp!

22/ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

Chủ nghĩa Cộng sản là một hệ tư tưởng chủ trương cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân 27). Vì các cá nhân vừa khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần vừa giống nhau về bản tính vị kỷ (ích kỷ, tư lợi và tham lam) làm cho cộng sản luôn luôn bất khả thi nên chủ nghĩa cộng sản không thể trở thành hiện thựcchỉ có thể trở thành ảo tưởng. Trở thành ảo tưởng, chủ nghĩa cộng sản chắc chắn sẽ làm hại mãi mãi cho những người nào vừa thông minh vừa chăm chỉ mặc dù có thể làm lợi nhất thời cho những người nào vừa dốt nát vừa lười nhác. Quả thật, vì chủ trương cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân nên chủ nghĩa cộng sản cực kỳ hấp dẫn đối với những người nào vừa dốt nát vừa lười nhác, những người đó vừa không thể sáng tạo vừa không thể cống hiến, những người đó chỉ giỏi hóng hớt đợi chờ kẻ khác tạo ra của cải cho mình hưởng thụ. Nhưng thật đáng tiếc cho cả nhân loại, những người đó lại thường chiếm tỷ lệ áp đảo tại các nước lạc hậu để chủ nghĩa cộng sản được hoan nghênh nhiệt liệt tại chính các nước đó làm cho một số người điển hình nhất dễ dàng trở thành người cộng sản vốn cũng chẳng hiểu gì hoặc chỉ hiểu saivề chủ nghĩa cộng sản. Như vậy tức là về lâu dài, chủ nghĩa cộng sản sẽ làm hại cho tất cả mọi người. Cũng chính vì cộng sản chỉ có thể gây ra hệ quả tai ác cho nhân loại như đã được trình bày khái quát ở trên nên muốn áp đặt được chủ nghĩa cộng sản vào đời sống thực tế, người cộng sản phải lừa dối đối với những người dốt nát vốn chiếm tỷ lệ áp đảo trong xã hội đồng thời phải bạo hành, tức là dùng bạo lực, đối với những kẻ khôn ngoan vốn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong xã hội 28). Vốn cũng chẳng hiểu gì hoặc chỉ hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành chân lý đối với chính họ, những người cộng sản không lừa dối chủ độngchỉ lừa dối thụ động đồng thời cũng không bạo hành chủ độngchỉ bạo hành thụ động, tức là lừa dối nhưng không nghĩ mình lừa dốicứ nghĩ mình nói đúng theo chân lý đồng thời bạo hành nhưng không nghĩ mình bạo hànhcứ nghĩ mình hành đạo theo chân lý, nhằm áp đặt bằng được chủ nghĩa cộng sản cho xã hội bất chấp hậu quả đau đớn về mọi mặt cho xã hội, nếu người cộng sản không lừa dối thụ động như vậy hoặc không bạo hành thụ động như vậy thì đa số người khác (trong đó sẽ bao gồm tất cả những người hiểu biết vốn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ) sẽ không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Tất nhiên, do nhận thức cảm tính nên đa số người khác cũng không biết mình bị lừa dối thụ động hoặc thậm chí cũng không biết mình bị bạo hành thụ độngchỉ nghĩ mình được giác ngộ chủ động theo chân lý hoặc được hành đạo chủ động theo chân lý để rồi tự phát chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, lừa dối dưới mọi hình thức cũng như bạo hành dưới mọi hình thức đều không thể dẫn đến một xã hội tốt đẹp mà chỉ có thể dẫn đến một xã hội xấu xa, không thể dẫn đến chế độ dân chủ mà chỉ có thể dẫn đến chế độ độc tài, tức là chủ nghĩa cộng sản ắt phải dẫn đến chế độ độc tài; hơn nữa, vì chỉ tồn tại được với nhận thức cảm tính nên chủ nghĩa cộng sản đòi hỏi nhà nước độc tài phải kiểm soát tư tưởng để dân chúng chỉ có thể suy nghĩ bằng nhận thức đó, tức là theo logic vận động, chủ nghĩa cộng sản ắt phải dẫn đến nền độc tài toàn trị thường được gọi tên bằng “nền độc tài cộng sản” hoặc “nền chuyên chính vô sản”.

Chủ nghĩa cộng sản chủ trương tiêu diệt sở hữu tư nhân để xác lập sở hữu công cộng như đã được trình bày khái quát ở trên nhưng vì không nhận thấy bản chất cho nhân loại bằng bản tính vị kỷ nên chủ nghĩa cộng sản không thể tiêu diệt được sở hữu tư nhân đồng thời cũng không thể xác lập được sở hữu công cộngchỉ có thể làm cho sở hữu tư nhân bị biến dạng quay quắt từ dạng công bằng thành dạng bất công. Trong nền độc tài cộng sản, sở hữu toàn dân cũng như sở hữu nhà nước chỉ làm hình thức mờ ảocho sở hữu tư nhân thuộc về một số ít người cộng sản nắm quyền lãnh đạo mà thôi, cũng như sở hữu tư nhân dưới nền độc tài phong kiến chỉ thuộc về vua chúa.

Vì chỉ có thể tồn tại được bằng chủ nghĩa cộng sản vốn đầy mâu thuẫn loại trừ nhau về logic nội tại đòi hỏi phải dựa vào bạo lực cùng với sự dối trá để cướp bóc nên nền độc tài cộng sản ắt phải làm mất lòng tin hoặc ít nhất cũng làm suy giảm lòng tin dẫn đến tiêu diệt nhau để tranh giành quyền lực tuyệt đối. Ngay cả những người cộng sản đích thực cũng không tin tưởng nhau dẫn đến tiêu diệt nhau. Mao Trạch Đông đã tiêu diệt Lưu Thiếu Kỳ cũng như Joseph Stalin đã tiêu diệt Leon Trotsky, v. v., rất nhiều vụ thanh trừng kinh khủng như thế.

Về TỪ NGUYÊN, chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ “COMMUNISM” (Anh văn) hoặc “COMMUNISME” (Pháp ngữ) vốn mang Ý NGHĨA TỐT ĐẸP. Nếu được dịch sát nghĩa thì COMMUNISM = CHỦ NGHĨA CỘNG ĐỒNG, tức là một hệ tư tưởng chủ trương xác lập lợi ích chung về cả kinh tế, chính trị, văn hoátư tưởng, v. v., cho tất cả mọi người để tất cả mọi người đều quan tâm bảo vệ lợi ích đó trong một xã hội dân chủ dựa trên Tự doBình đẳngBác ái. Hay, rất hay, cực kỳ hay. Không thể chê bai vào đâu được! Chính vì cực kỳ hay như vậy nên CHỦ NGHĨA CỘNG ĐỒNG (COMMUNISM / COMMUNISME) được lấy làm MỤC TIÊU ĐÍCH THỰC cho CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ để rồi chỉ có CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ mới có thể đạt được mục tiêu đó. Quả thật, pháp luật theo ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó vốn phải làm căn bản cho chế độ dân chủ tất yếu phải bảo vệ sở hữu tư nhân làm cho mọi công dân đều có thể có nhiều tài sản tư nhân. Với tài sản này, người ta sẽ đua nhau đóng góp thật nhiều cho cộng đồng để tạo nên rất nhiều tài sản công cộng được sở hữu chung bởi toàn thể cộng đồng. Từ đó suy ra rằng: xoá bỏ tài sản tư nhân cũng sẽ làm tiêu tán tài sản công cộng. Như vậy tức là sở hữu công cộng phải dựa vào sở hữu tư nhân, nếu không có sở hữu tư nhân thì cũng không thể có sở hữu công cộng, xoá bỏ sở hữu tư nhân cũng sẽ làm tiêu tan sở hữu công cộng. Muốn xác lập sở hữu công cộng, nhất thiết phải bảo vệ sở hữu tư nhân. Aristotle (384 – 322) đã từng nói đúng rằng: nếu có sở hữu tư nhân thì mỗi cá nhân nhất định mới quan tâm đến việc bảo toàn của cải rồi chia sẻ với bạn bè, qua đó mới tự nguyện tạo ra những cái chung. Ông nhấn mạnh rằng: cách hay nhất là có những cái riêng để sử dụng chung mới làm cho người ta hạnh phúc đồng thời có cơ sở để thực tập đức tính vừa tiết chế vừa rộng lượng 29). Nhưng khốn nỗi, Chủ nghĩa Marx vốn được khởi xướng bởi cả Karl Marx (1818 – 1883) lẫn Friedrich Engel (1820 – 1895) dẫn đến phong trào marxist bùng phát từ khoảng giữa thế kỷ XIX đến khoảng giữa thế kỷ XX đã tuyệt đối hoá KHÍA CẠNH KINH TẾ cho COMMUNISM / COMMUNISME, tức là chỉ đặt trọng tâm vào việc CÀO BẰNG TÀI SẢN, đồng thời chủ trương thiết lập COMMUNISM / COMMUNISME bằng BẠO LỰC CÁCH MẠNG, để COMMUNISM / COMMUNISME được dịch sang Việt ngữ thành CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN như đã được định nghĩa ở trên. CHỦ NGHĨA CỘNG ĐỒNG (COMMUNISM / COMMUNISME) được định nghĩa sai lạc theo quyết định luận kinh tế thành CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN đã dẫn đến nền độc tài toàn trị vốn sẽ nguy hiểm hơn nhiều so với mọi nền độc tài khác. Chính vì chủ nghĩa cộng sản đã dẫn đến nền độc tài toàn trị như vậy nên tất cả các quốc gia dân chủ đều phải chống chủ nghĩa cộng sản.

Không phải vô cớ mà tất cả các quốc gia dân chủ đều chống chủ nghĩa cộng sản!

23/ DÂN CHỦ HOÁ TẠI NƯỚC TÀU

Nước Tàu có truyền thống lâu đời sống theo chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo 30). Đến thế kỷ XX, truyền thống đó lại được kích hoạt mạnh mẽ bởi Chủ nghĩa MarxLenin khiến nước Tàu đã chuyên chế rồi lại càng chuyên chế hơn nữa 31). Trên thế giới hiện nay, nước Tàu lạc hậu nhất về văn hoá chính trị. Chính vì nước Tàu lạc hậu nhất về văn hoá chính trị nên một mặt, chính quyền độc tài tại nước Tàu đang ra sức ngăn chặn tiến trình dân chủ hoá ở ngay nước Tàu bằng mọi phương cách có thể được, kể cả giết chóc; mặt khác, chính quyền đó đang dẫn dắt nước Tàu đi theo con đường đế quốc để trở thành một đế quốc nguy hiểm nhất trên thế giới từ xưa đến nay, không chỉ làm lực cản lớn nhất cho tiến trình dân chủ hoá trên toàn thế giới mà còn làm kẻ thù nguy hiểm nhất cho mọi quốc gia khác!

Một số nhà lãnh đạo cộng sản, trong đó có cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình, rất lo sợ diễn biến hoà bình. Họ hình dung diễn biến hoà bình như một nguy cơ nghiêm trọng nhất rồi bị ám ảnh nặng nề bởi chính nguy cơ đó. Họ đã làm cho một số nhà lãnh đạo cộng sản tại Việt nam cũng lo sợ diễn biến hoà bình như họ.

Tuy nhiên, Đế quốc Tàu đang mưu toan thôn tính Việt nam để thống trị thế giới khiến Đảng Cộng sản Việt nam cũng phải dè chừng.

24/ DÂN CHỦ HOÁ TẠI VIỆT NAM

Do những nguyên nhân sâu xa về Địa lý Chính trị khiến Việt nam tuy tương đồng với nước Tàu về cả tư tưởng chính trị lẫn thể chế chính trị nhưng lại đang bị đe doạ thôn tính bởi chính Đế quốc Tàu nên tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng hơn làm cho tiến trình đó không thể diễn biến nhanh chóng mà chỉ có thể diễn biến chậm chạp 32).

Ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào, tiến trình dân chủ hoá luôn luôn phải đối mặt với ít nhất hai lực cản ghê gớm nhất: lợi ích cục bộ ở tầng lớp lãnh đạo cùng với nhận thức sai lầm ở mọi thành phần nhân dân. Tầng lớp lãnh đạo muốn giữ nguyên hiện trạng chính trị để hưởng lợi ích cục bộ hoặc tránh rủi ro bất định khiến họ không muốn dân chủ hoá hoặc thậm chí sẽ chống lại tiến trình dân chủ hoá. Nhưng nhận thức chung ở mọi thành phần nhân dân lại đóng vai trò quan trọng hơn nhiều: nếu nhận thức đó mà sai lầm hoặc tối tăm thì sẽ chỉ giúp tầng lớp lãnh đạo củng cố hiện trạng chính trị; ngược lại, nếu nhận thức đó mà đúng đắn hoặc sáng suốt thì sẽ thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá cho dù tầng lớp lãnh đạo muốn chống lại cũng không thể chống lại được mà phải chấp nhận tiến trình dân chủ hoá để tồn tại trong thể chế dân chủ hoặc thậm chí sẽ chủ động thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá để hạ cánh an toàn. Tại Việt nam hiện nay, tiến trình dân chủ hoá không chỉ phải đối mặt với hai lực cản kia mà còn phải đối mặt với ít nhất một lực cản khác ghê gớm hơn nhiều so với hai lực cản kia, đó là mối đe doạ thôn tính từ Đế quốc Tàu. Chính vì mối đe doạ đó nên tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam chỉ có thể được thực hiện thành công với ít nhất ba điều kiện cơ bản: Thứ nhất, nhận thức chung phải đúng đắn hoặc sáng suốt, tức là tư tưởng dân chủ phải được phổ biến rộng khắp trong xã hội trở thành tư tưởng chủ đạo để mọi người Việt nam đều thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước chân chính. Đó là một hệ tư tưởng dựa trên sự thật về Quốc gia Việt nam làm cho mọi người Việt nam đều hướng về lợi ích chung mà liên kết chặt chẽ với nhau để xây dựng một tương lai chung. Đây là điều kiện tiên quyết tạo nên nội lực cho Việt nam, nếu không có điều kiện này thì mọi điều kiện khác đều vô nghĩa. Thứ hai, hợp tác quân sự với các nước dân chủ phải đủ mạnh mẽ để Việt nam có thể được bảo vệ về quân sự bởi các nước đó, ít nhất Mỹ cùng các đồng minh chiến lược phải hiện diện quân sự tại Việt nam hoặc xung quanh Đế quốc Tàu để có thể ngăn cản Đế quốc Tàu chống phá tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam. Thứ ba, Đế quốc Tàu phải suy yếu đến một mức độ nhất định khiến nó không thể can thiệp sâu rộng vào đời sống chính trị tại Việt nam hoặc không thể chống phá tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam. Trong ba điều kiện đó, điều kiện thứ ba cũng như điều kiện thứ hai đang hình thành, điều kiện thứ nhất đóng vai trò quan trọng nhất như đã nói ở trên nhưng lại chưa hình thành. Giới đấu tranh cần phải hiểu biết sâu rộng về địa lý chính trị để đấu tranh đúng đắn theo phương pháp đúng đắn mới có thể tạo ra được điều kiện thứ nhất: không được chửi bới chính quyền, không được bạo hành với chính quyền, không được đe doạ lật đổ chính quyền, không được toan tính lật đổ chính quyền, không được làm cách mạng bằng bạo lực dưới mọi hình thức, tuyệt đối không được gây ra sợ hãi cho mọi quan chức nhà nước mà phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bất hại (không được làm hại bất cứ ai), chỉ vận dụng triệt để phương pháp ôn hoà, bất bạo động, phải tránh đối đầu để chỉ đối thoại, phải tập trung truyền bá tư tưởng dân chủ cho mọi thành phần xã hội trong nhân dân để mọi thành phần đó đều có thể biết Đối thoạiTương kínhKhoan dung, phải nỗ lực tối đa để tạo ra điều kiện tiên quyết như đã nói ở trên. Chỉ khi đã có đủ ít nhất ba điều kiện đó mới có thể tiến hành sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng dân chủ.

Song song với việc sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng dân chủ, cần phải thực thi nghiêm chỉnh một đạo luật đặc biệt về hoà hợp dân tộc nhằm ngăn ngừa việc trả thù báo oán giữa các thành phần khác nhau trong nhân dân đồng thời củng cố tăng cường sự đoàn kết quốc gia.

Một khi đã xác lập được nền tảng tư tưởng cho tiến trình dân chủ hoá, đồng thời vượt qua được những thách thức về địa lý chính trị được trình bày khái quát ở đây, Việt nam chắc chắn sẽ trở thành một cường quốc về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá – tư tưởng v. v., để được nể trọng trên toàn thế giới.

25/ VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Việt nam Cộng hoà chính là miền Nam Việt nam dưới chính thể cộng hoà từ ngày 26 Tháng Mười 1955 đến ngày 30 Tháng Tư 1975. Được sáng lập bởi Ngô Đình Diệm (1901 – 1963), lúc đầu chính thể này vẫn còn mang tính chất độc tài. Hiến pháp 1956 tập trung quá nhiều quyền lực cho Tổng thống để Tổng thống có thể khuynh loát toàn bộ chính trường. Sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ Ngô Đình Diệm vào ngày 01 Tháng Mười một 1963 được hậu thuẫn bởi người Mỹ khiến Ngô Đình Diệm bị thảm sát cùng với một số thân nhân, chính thể này lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng: không chỉ bị tấn công từ bên ngoài bởi Quân đội Cộng sản từ miền Bắc Việt nam mà còn bị tấn công từ bên trong bởi các tướng lĩnh quân đội tranh nhau nắm quyền lãnh đạo thông qua đảo chính quân sự xảy ra liên tục từ năm 1964 đến năm 1965. Người Mỹ đã can thiệp quân sự để cứu vãn chính thể này làm cho Chiến tranh Việt nam leo thang ác liệt. Hiến pháp Dân chủ được thông qua vào ngày 01 Tháng Tư 1967 thường được gọi tên bằng “Hiến pháp 1967” mặc dù có Điều 4 chống cộng sản vừa rất thừa vừa rất nguy hại cho chính chính thể cộng hoà nhưng đã góp phần chấm dứt giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, cuộc tấn công đẫm máu trên khắp miền Nam Việt nam vào đầu năm 1968 (Tết Mậu thân) được thực hiện bởi Quân đội Cộng sản đã làm cho người Mỹ phải rút hết quân đội khỏi Việt nam vào năm 1973 để chính thể cộng hoà bị suy sụp nghiêm trọng hơn nữa. Quân đội Cộng sản chiếm được Sài gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đặt dấu chấm hết cho Việt nam Cộng hoà 33).

Như vậy Việt nam Cộng hoà chỉ tồn tại được ngắn ngủi với một lịch sử bi thương có thể được phân chia thành ba giai đoạn chính: giai đoạn hình thành từ năm 1955 đến năm 1963, giai đoạn hỗn loạn từ năm 1964 đến năm 1966, và giai đoạn suy vong từ năm 1967 đến năm 1975. Trong cả ba giai đoạn đó, chính thể cộng hoà đều có những nhược điểm hiển nhiên vừa bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại vừa bắt nguồn từ những nguyên nhân ngoại lai. Trong giai đoạn hình thành, văn hoá chính trị vẫn mang tính chất cổ truyền dựa trên Nho giáo vốn xuất nguồn từ nước Tàu làm cho chính thể cộng hoà vào giai đoạn này không thể dân chủ thực sự. Ngay cả Ngô Đình Diệm kịch liệt chống cộng sản nhưng lại cực kỳ tâm đắc với Nho giáo làm cho chính thể cộng hoà được sáng lập bởi chính ông không thể tránh khỏi tính chất độc tài: tránh vỏ dưa nhưng lại gặp vỏ dừa, tránh độc tài cộng sản nhưng lại quay trở về độc tài phong kiến dựa trên Nho giáo. Trong giai đoạn hỗn loạn, chính thể cộng hoà vẫn chưa thoát khỏi tính chất độc tài lại phải chịu đựng áp lực to lớn hơn nữa: không chỉ bị tấn công quân sự bởi Quân đội Cộng sản từ miền Bắc mà còn bị áp đặt trắng trợn bởi người Mỹ từ bên ngoài Việt nam làm cho các tướng lĩnh cộng hoà xâu xé nhau, chưa kể đua nhau tham nhũng bắt đầu từ đó. Trong giai đoạn suy vong, chính thể cộng hoà đạt được hình thức hoàn chỉnh với Hiến pháp 1967 nhưng lại bị đánh một đòn chí tử vào Tết Mậu thân (đầu năm 1968) khiến người Mỹ nhận thấy mình sai lầm rồi bỏ rơi Việt nam Cộng hoà từ năm 1973 để chính thể này bị tiêu diệt vào ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt nam, tất cả các bên liên quan đều phạm sai lầm chết người gây ra đau khổ nhiều nhất cho Quân đội Cộng hoà để tất cả những người lính cộng hoà đều phải chiến đấu bằng tâm trạng tuyệt vọng. Đó chính là nguyên nhân làm cho tôi yêu những người lính cộng hoà. Tôi bày tỏ tình yêu đối với những người lính cộng hoà không phải để khơi lại quá khứ đau thương mà chỉ để gợi ý cho mọi người Việt nam hãy hoà giải với nhau. Hoà giải với nhau để xây dựng một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ!

Vì Việt nam Cộng hoà đã bị tiêu diệt đẫm máu vào ngày 30 Tháng Tư 1975 bởi những người Cộng sản Việt nam nên tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà đều có thể gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay, cũng như vong hồn từ nạn nhân luôn luôn gây ra nỗi ám ảnh cho sát thủ vậy. Cũng chính vì tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà đều có thể gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay nên bất cứ ai tham gia công cuộc dân chủ hoá cho Việt nam bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, cũng tuyệt đối không nên dùng tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà, như Cờ Vàng chẳng hạn, v. v., làm biểu tượng đấu tranh. Nếu dùng những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà làm biểu tượng đấu tranh thì sẽ gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay. Vì sẽ gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay nên bất cứ ai dùng những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà làm biểu tượng đấu tranh cũng sẽ bị đàn áp khốc liệt. Cần phải hiểu đúng đắn rằng: đấu tranh dân chủ bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, không được gây ra sợ hãi cho đối phương, không được gây ra đau khổ cho đối phương, không được gây ra chết chóc cho đối phương, không được gây ra mát mát cho đối phương, không được gây ra thù hận cho đối phương, v. v.. Tóm lại, không được gây ra vấn đề cho đối phương mà phải mang lại giải pháp cho đối phương, tức là phải chỉ ra lối thoát cho đối phương để tất cả cùng thắng.

Tôi nhắc lại về Việt nam Cộng hoà không phải để gợi nhớ lại về quá khứ đau thương mà chỉ để bày tỏ mong muốn về sự hoà hợp quốc gia làm cho người Việt nam hoà giải với nhau. Hoà giải với nhau để xây dựng một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ. Một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ sẽ cần một lá cờ khác, tuy vẫn kế thừa cả màu Vàng lẫn màu Đỏ từ cả Cờ Vàng lẫn Cờ Đỏ nhưng phải thêm màu Xanh tượng trưng cho Hoà bình. Màu Xanh phải chiếm tỷ lệ áp đảo bằng cả hai màu kia cộng lại!

HÀ HUY TOÀN.

________________________

1) Có thể xem thêm thông tin về Chính trị tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn(https://en.wikipedia.org/wiki/Politics) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Politique) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Politik) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Политика) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Chính_trị) hoặc Tàu ngữ(https://zh.wikipedia.org/wiki/政治), v. v..

2) Có thể xem thêm thông tin về Quyền tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ(https://vi.wikipedia.org/wiki/Quyền). Tính đến ngày 4 Tháng Hai 2018, Bách khoa Toàn thư Mở vẫn chưa có thông tin về Quyền bằng các ngôn ngữ khác.

3) Có thể xem thêm thông tin về Nghĩa vụ tại Từ điển Mở bằng Việt ngữ(https://vi.wiktionary.org/wiki/nghĩa_vụ#Tiếng_Việt).

4) Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa cá nhân cần được hiểu thế nào cho đúng? Diễn đàn Xã hội Dân sự, ngày 01 Tháng Giêng 2014. Trang mạng đó đã bị phá bỏ nhưng tiểu luận này vẫn được lưu giữ tại Facebook (https://www.facebook.com/diendanxhds/posts/407606209372159).

5) Cộng hòa nhất thiết phải được hiểu theo ý nghĩa tinh thần nhưng tuyệt đối không thể được hiểu theo ý nghĩa kinh tế mà chỉ có thể phải được hiểu theo ý nghĩa chính trị, theo đó khái niệm này đòi hỏi phải cộng lại để phân chia đồng đều cả quyền lẫn nghĩa vụ cho mọi cá nhân dẫn đến sự công bằng, tức là sự cân bằng giữa quyền với nghĩa vụ (làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, nếu xin thì xin hẳn, nếu cho thì cho hẳn, không lẫn lộn nhập nhằng, không được bỏ rơi trẻ con, không được bỏ rơi người già, không được bỏ rơi người khuyết tật). Nếu được hiểu theo ý nghĩa kinh tế thì Cộng hòa sẽ biến thành Cộng sản, tức là cộng lại để chia đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân. Đó chính là cào bằng tài sản làm cho xã hội bất công: làm nhiều hưởng ít, làm ít hưởng nhiều, không làm cũng hưởng, hưởng không theo làm, người nào cống hiến nhiều hơn sẽ bị thua thiệt, người nào tử tế hơn sẽ bị vùi dập, người nào thông minh hơn sẽ bị tiêu diệt, v. v., từ đó ắt phải dẫn đến xung đột xã hội. Chưa kể mọi sự xấu xa khác sẽ phát sinh từ đó. Vậy Cộng sản không chỉ khác biệt rõ ràng mà còn đối lập hẳn với Cộng hoà. Xin độc giả hãy xem tác giả giải thích về Cộng sảnmục 21 dưới đây.

6) Khi tìm hiểu “Phong trào Dân chủ” tại Việt nam hiện nay, tôi bất ngờ nhận thấy nhiều đấu sỹ dân chủ không hiểu hoặc chỉ hiểu lơ mơ về dân chủ, thậm chí còn thiếu hẳn những kiến thức cơ bản về dân chủ, khiến tôi rất thất vọng. Trong đó có một số ít đấu sỹ nổi tiếng còn mưu toan tìm kiếm vinh quang bằng những định nghĩa hời hợt về dân chủ làm cho khái niệm về dân chủ bị hiểu sai lạc đến tệ hại để nhiều người khác không thể hiểu đúng về dân chủ. Qua đó, tôi cũng nhận thấy ngay chính sự thể đó đã làm nguyên nhân sâu xa cho sự nghi kỵ nội bộ dẫn đến sự chia rẽ nội bộ giữa các hội nhóm dân chủ. Con đường dẫn đến dân chủ cho Việt nam còn rất dài đang đòi hỏi phải được rút ngắn nhanh chóng bởi một cuộc cách mạng tư tưởng. Cuộc cách mạng này phải dựa trên căn bản khoa học dẫn đến Đối thoạiTương kínhKhoan dung mới có thể thành công.

7) Nền Dân chủ Cổ điển hoặc nền Dân chủ Chủ nôTây phương vào thời đại cổ xưa với hình mẫu điển hình nhất thuộc về cả Hy lạp lẫn La mã không công nhận tất cả mọi người đều được làm Công dân mà chỉ công nhận nam giới giàu có, tức là tầng lớp chủ nô, mới được làm Công dân. Còn lại tất cả các thành phần khác: người nghèo, nữ giới, trẻ con, v. v., đều không được làm Công dân. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, tình trạng tương tự cũng xảy ra với nền Dân chủ Tư sản tại Anh, Mỹ, Pháp, v. v.. Chỉ có một sự khác biệt quan trọng xác nhận sự tiến bộ thực sự: tầng lớp tư sản không có quyền sở hữu đối với đồng loại như tầng lớp chủ nô có quyền sở hữu đối với nô lệ. Từ khoảng giữa thế kỷ XX đến nay, dân chủ không chỉ đã được hoàn thiện tại nhiều nước phát triển thuộc về Tây phương mà còn bành trướng sang nhiều nước khác thuộc về Đông phương, như Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan, Philippines, Indonesia, v. v., bất chấp nhiều phong trào phản động (phong trào cộng sản, phong trào fascist, phong trào khủng bố, v. v.) đã ra sức cản trở nó để tất cả mọi người thuộc về nó đều được làm Công dân. Ngược lại, dân chúng bị cai trị hà khắc tại nhiều nước độc tài vào cùng giai đoạn này lại được công nhận làm “Công dân” trên danh nghĩa nhưng trên thực tế lại vẫn chỉ được làm Thần dân hoặc Nô dân mà thôi. Hiện tượng này đã cho thấy khái niệm về dân chủ đang bị lạm dụng phổ biến tại hầu hết các nước độc tài vào thời đại hiện nay.

8) Độc giả có thể hiểu đúng về chế độ dân chủ theo triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

9) Xem Hà Huy Toàn: Pháp luật là gì? Dân Luận, ngày 03 Tháng Mười một 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20171103/phap-luat-la-gi).

10) Xem Hà Huy Toàn: Quan niệm đúng về Hiến pháp. Dân Luận, ngày 20 Tháng Năm 2016 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20160520/quan-niem-dung-ve-hien-phap).

11) Độc giả có thể hiểu đúng về nhà nước pháp quyền theo triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

12) Xem Hiến pháp Nga bằng Việt ngữ trên Internet (https://diendancuachungta.com/tai-lieu-tham-khao/hien-phap-nga/). Có thể xem thêm thông tin về Hiến pháp Nga tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Конституция_Российской_Федерации) hoặc Anh văn(https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution_of_Russia) hoặc Pháp ngữ(https://fr.wikipedia.org/wiki/Constitution_de_la_fédération_de_Russie) hoặc Đức ngữ(https://de.wikipedia.org/wiki/Verfassung_der_Russischen_Föderation) hoặc Việt ngữ(https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiến_pháp_Liên_bang_Nga) hoặc Tàu ngữ(https://zh.wikipedia.org/wiki/俄罗斯联邦宪法), v. v.. Cũng có thể xem thông tin về Hiến pháp Thái lantrên Bách khoa Toàn thư Mở bằng Thái ngữ (https://th.wikipedia.org/wiki/รัฐธรรมนูญแห่งราชอาณาจักรไทย) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution_of_Thailand) hoặc Việt ngữ(https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiến_pháp_Thái_Lan), v. v..

13) Xem Hà Huy Toàn: Hiểu thế nào cho đúng về tam quyền phân lập? Dân Luận, ngày 03 Tháng Hai 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170203/hieu-the-nao-cho-dung-ve-tam-quyen-phan-lap).

14) Độc giả có thể tìm hiểu triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

15) Xem chú thích 14.

16) Xem chú thích 14.

17) Xem chú thích 14.

18) Xem chú thích 14.

19) Xem chú thích 14.

20) Xem chú thích 14.

21) Xem chú thích 14.

22) Xem chú thích 14.

23) Xem Hà Huy Toàn: Cần minh định về phương pháp đấu tranh. Dân Luận, ngày 6 Tháng Tư 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170404/can-minh-dinh-ve-phuong-phap-dau-tranh).

24) Xem thông tin về Diễn biến Hòa bình tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn(https://en.wikipedia.org/wiki/Peaceful_Evolution_theory) hoặc Việt ngữ(https://vi.wikipedia.org/wiki/Diễn_biến_hòa_bình) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/和平演变), v. v..

25) Rất nhiều người không hiểu hoặc chỉ hiểu sai lạc về cộng sản. Ngay cả những người cộng sản cũng không hiểu hoặc chỉ hiểu sai lạc về cộng sản. Nghịch lý hơn nữa, nhiều người chống cộng sản cũng không hiểu hoặc chỉ hiểu sai lạc về cộng sản. Cộng sản dựa trên nhận thức cảm tính vốn không xác định được bản chất cho nhân loại. Nhận thức lý tính xác định được bản chất cho nhân loại sẽ không chấp nhận cộng sản.

26) Tôi xin mở ngoặc ở chỗ này: có học mà học nhiều kiến thức sai lầm sẽ còn tệ hại hơn cả vô học.

27) Có thể xem thêm thông tin về chủ nghĩa cộng sản tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn(https://en.wikipedia.org/wiki/Communism) hoặc Pháp ngữ(https://fr.wikipedia.org/wiki/Communisme) hoặc Đức ngữ(https://de.wikipedia.org/wiki/Kommunismus) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Коммунизм) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Chủ_nghĩa_cộng_sản) hoặc Tàu ngữ(https://zh.wikipedia.org/wiki/共产主义), v. v.. Tại Đông phương (Việt nam cũng như nước Tàu, v. v.), chủ nghĩa cộng sản còn phức tạp hơn nhiều, không đơn giản như chủ nghĩa cộng sản ở Tây phương, mặc dù đều bắt nguồn trực tiếp từ Chủ nghĩa Marx. Muốn hiểu được tại sao chủ nghĩa cộng sản ở Đông phương phức tạp hơn nhiều so với chủ nghĩa cộng sản ở Tây phương, độc giả cần phải xem Hà Huy Toàn: Sự tương đồng giữa Nho giáo với Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 5 Tháng Mười một 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20151104/ha-huy-toan-su-tuong-dong-giua-nho-giao-va-chu-nghia-marx). Nền chuyên chế phong kiến dựa trên Nho giáo tồn tại dai dẳng qua nhiều thế kỷ làm cho tuyệt đại đa số dân chúng không chỉ nghèo khổ cùng cực mà còn mê muội cùng cực với đầu óc đầy tràn ảo tưởng để dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản pha trộn với Nho giáo tạo ra một hệ tư tưởng độc đoán đầy bệnh hoạn có thể được gọi tên bằng Nho giáo Cộng sản hoặc Cộng sản Nho giáo. Một khi đã bị vướng vào Nho giáo Cộng sản sẽ vô cùng khó thoát khỏi cái hệ tư tưởng đó. Cần phải trải nghiệm một cuộc cách mạng tư tưởng thực sự khai sáng mới có thể thoát khỏi cái hệ tư tưởng đó. Nhưng thật đáng tiếc cho giới đấu tranh ở cả nước Tàu lẫn Việt nam đã không nhận thấy yêu cầu đó.

28) Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt nam tiến hành Cải cách Điền địa bằng bạo lực đẫm máu nhằm vào những phần tử khôn ngoan nhất tại miền Bắc Việt nam từ năm 1954 đến năm 1955 để dân chúng ở đây chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Còn nhiều ví dụ khác ở các nước khác, như Cải cách Điền địanước Tàu từ năm 1946 đến năm 1950 cũng như Nội chiến Cách mạng tại nước Nga từ năm 1920 đến năm 1922, v. v., cũng cho thấy cái tất yếu tinh thần được trình bày rõ ràng ở đây nhưng vì Việt nam rất lạc hậu về triết lý chính trị nên tôi phải lấy ví dụ thực tế tại Việt nam để đồng bào Việt nam có thể hiểu được cái tất yếu kia.

29) Plato chủ trương sở hữu công cộng (xem Plato: The Republic. Đỗ Khánh Hoan chuyển dịch từ Anh văn sang Việt ngữ: Cộng hòa. Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội 2013) nhưng Aristotle (vốn làm học trò cho Plato) lại chống lại sở hữu công cộng để chủ trương sở hữu tư nhân. Theo Aristotle, sở hữu công cộng tạo nên tranh giành quyền lực khi chính các cá nhân đã có khó khăn làm việc chung với nhau; nếu có sở hữu tư nhân thì mỗi cá nhân nhất định mới quan tâm đến việc bảo toàn của cải rồi chia sẻ với bạn bè, qua đó mới tự nguyện tạo ra những cái chung. Ông nhấn mạnh rằng, cách hay nhất là có những cái riêng để sử dụng chung mới làm cho người ta hạnh phúc đồng thời có cơ sở để thực tập đức tính vừa tiết chế vừa rộng lượng. Quan sát đời sống thực tế ở các nước dân chủ, như Thuỵ điển chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy được Aristotle có não trạng uyên bác thế nào. Tôi trích dẫn cả Plato lẫn Aristotle qua Vũ Quang Việt: Thử tìm hiểu quan niệm về dân chủ, quyền lực chính trị và cơ sở kinh tế của chúng. Tạp chí Thời đại Mới, ngày 08 Tháng Bảy 2003 (http://www.tapchithoidai.org/200401_VQViet.htm). Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng Aristotle đã không giải thích sở hữu tư nhân bằng bản tính vị kỷ đồng thời cũng không dùng bản tính đó để giải thích sự khó khăn khi làm việc chung với nhau mà chỉ giải thích cả sở hữu tư nhân lẫn sự khó khăn khi làm việc chung với nhau bằng các lý lẽ siêu hình đầy tư biện về đời sống chính trị mặc dù ông luôn kêu gọi phải lấy bản chất nhân loại để giải thích đời sống xã hội, nhưng ông không xác định bản chất cho nhân loại bằng bản tính vị kỷ mà lấy ngay sinh vật chính trị làm bản chất cho nhân loại: “nhân loại, từ bản chất, là một sinh vật chính trị”, ông nói như vậy tức là không giải thích đời sống chính trị bằng bản tính vị kỷ mà chỉ giải thích đời sống chính trị bằng sinh vật chính trị. Quan niệm đó không hề xác định bản chất cho nhân loại mà chỉ khẳng định đời sống chính trị đóng vai trò quyết định đối với nhân loại, đúng đắn nhưng thiếu sót. Lý lẽ siêu hình đầy tư biện về đời sống chính trị được xác lập bởi Aristotle: “cái tổng thể luôn nhất thiết phải hiện hữu trước cá thể [theo tự nhiên]” hoặc “ta thấy nhà nước hiện hữu bởi tự nhiên và có trước cá nhân. [Chứng cứ của cả hai lập luận này là sự kiện nhà nước là tổng thểcòn cá nhân là cá thể]”. Lý lẽ này vừa lủng củng vừa kỳ quặc, không giải thích mối quan hệ tương tác giữa cá nhân với nhà nước bằng nhu cầu cá nhân mà chỉ giải thích mối quan hệ đó bằng lý lẽ siêu hình chẳng liên quan gì với cả cá nhân lẫn nhà nước (xem Aristotle: The Politics. Nông Duy Trường chuyển dịch từ Anh văn sang Việt ngữ: Chính trị luận. Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội 2015. Quyển I, từ trang 41 đến trang 82: Chương 2, từ trang 43 đến trang 49).

30) Xem Hà Huy Toàn: Nho giáoMột hệ tư tưởng nguy hiểm. Dân Luận, ngày 10 Tháng Tám 2015. Xem cả đoạn 1 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-1) lẫn đoạn 2 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-2).

31) Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 15 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx).

32) Xem thông tin về Việt nam tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ(https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Vietnam) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Вьетнам), v. v..

33) Có thể xem thêm thông tin về Việt nam Cộng hoà tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ(https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam_Cộng_hòa) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南共和国) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/South_Vietnam) hoặc Pháp ngữ(https://fr.wikipedia.org/wiki/République_du_Việt_Nam) hoặc Đức ngữ(https://de.wikipedia.org/wiki/Südvietnam) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Южный_Вьетнам), v. v..

Thân thế, sức khỏe lãnh đạo VN là ‘bí mật nhà nước’?

https://www.bbc.com/vietnamese/45987937

Việt Nam, Quốc hộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionDự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước đưa thông tin về thân thế, sức khỏe lãnh đạo vào diện mật

Dự Luật Bảo vệ bí mật nhà nước khiến nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) quan ngại vì cho rằng quy định về thông tin mật hiện ‘quá rộng’, theo truyền thông Việt Nam. Continue reading

Hơn 25.000 lao động Trung Quốc đang làm việc tại Việt Nam

https://trithucvn.net/kinh-te/hon-25-000-lao-dong-trung-quoc-dang-lam-viec-tai-viet-nam.html

  • Thứ Sáu, 26/10/2018

Lao động nước ngoài tại Việt Nam đa phần đến từ Trung Quốc với 25.100 người, chiếm khoảng 1/3 tổng số lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam.

Lao động Trung Quốc chiếm 1/3 tổng số lao động nước ngoài tại Việt Nam. (Ảnh: CNN) Continue reading

CXN_102618_13 855_Tại sao giờ này mới viết ??? Có ng dự báo và viết ra từ ngày 20.5.18 (5 tháng trước). Trích: “CXN_052018_13 467_Tuyên bố long trọng của CXN ngày 20.5.18 về sự sụp đổ Kinh Tế của ĐCSVN”(HT) (Parliament realised that budget needs real money, SOE up to their necks with debts, SOE sale 2018 to be slow, slowed down on sell-off, massive sell off DNNN by cities & central, PPP, terminology, electricity and petrol taxes to increase, CPI’s, the final collapse, power of corruption, system crumple, the economy is ceasing to operate, bế tắc KT, idiotic PM, 2016-2020 restructuring, bell tolled) : Rủi ro lạm phát ép chính sách tiền tệ

Mời đọc website của Việt Nam Dân Tộc Tự Quyết bấm vào đây ở FB https://www.facebook.com/vietnamdantoctuquyet/

và blog này https://vndttq.home.blog/?blogsub=subscribed#blog_subscription-3

Professor GS Trần Thanh Đằng, một minh chủ Hậu CS, ngang tầm với 2 minh chủ kia NV Thiệu và NĐ Diệm, ko thua Lý Quang Diệu

Nếu không đọc được nội dung, hãy tải về ứng dụng Betternet VPN để vượt tường lửa.
Link vượt tường: http://bit.ly/2wzYDz9 > bấm GO
Tại VN, để xem được trang tin nước ngoài, các bạn cài VPN vượt tường lửa (cho máy tính và các thiết bị di động, smart phone). Link: http://bit.ly/2mYSZBq
xx

Mời bấm vào dưới đây để xem video

https://www.youtube.com/watch?v=uunbal7TUiY&feature=youtu.be&fbclid=IwAR1ddf5B19j5EE2Rp_UxzQLboqPuVFLNp8C6R_K6zmrXM0DYVq7f_THpcIw

Châu Xuân Nguyễn Continue reading

KHÔN NHƯ MÀY NHÀ TAO NUÔI ĐẦY

http://www.thesaigonposts.com/2018/10/khon-nhu-may-nha-tao-nuoi-ay.html

Gửi : Hoàng Văn Cường, đại biểu thành phố Hà Nội. Anh ăn cái gì mà mày ngu thế hả? Tôi nói cho anh biết là cái trò đề nghị không dùng tiền mặt để giao dịch là cái trò ở bên Tàu. Anh Trọng vừa lên ngôi vua xong là các áp luôn cái chính sách ở bên đó về. Tôi vạch mặt luôn cả các anh ra cho dân ị vào mặt cái lũ bán nước chúng mày. Continue reading

Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa

https://baotiengdan.com/2018/10/26/kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia/

Nhân Trần

26-10-2018

Có một câu nói tôi nhớ không nhầm lần đầu tiên được nghe từ người bạn của tôi trong môn học “Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1

989-2000” khi chúng tôi thảo luận về Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường:“Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng đi lên Chủ nghĩa tư bản?”. Sau này tôi mới biết là của một thầy giáo khác nói như vậy. Continue reading

Ai được lợi trước quyết định kỷ luật chàng Chu Hảo?

https://baotiengdan.com/2018/10/26/ai-duoc-loi-truoc-quyet-dinh-ky-luat-chang-chu-hao/

FB Lưu Trọng Văn

26-10-2018

GS Chu Hảo

Gã gặp chàng ở đâu là thấy khuôn mặt chàng luôn tươi rói cùng nụ cười. 78 tuổi, với thói bẩm sinh rạng rỡ nên sức trẻ, sức sống, sức yêu, sức thương, luôn tràn đầy. Gã biết, trước kỷ luật của Uỷ ban KT trung ương, chàng vẫn thế: cười. Continue reading

Thư ngỏ: Đứng cùng Giáo sư Chu Hảo

https://baotiengdan.com/2018/10/26/thu-ngo-dung-cung-giao-su-chu-hao/

FB Nguyễn Vi Yên

26-10-2018

Báo giới hôm qua vừa đưa tin rằng Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét kỷ luật Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức, vì ông đã cho “xuất bản một số cuốn sách có nội dung trái với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước.” Continue reading

Tuyên bố về kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng CSVN đối với ông Chu Hảo

https://baotiengdan.com/2018/10/25/tuyen-bo-ve-ket-luan-cua-uy-ban-kiem-tra-trung-uong-dang-csvn-doi-voi-ong-chu-hao/

Lão Mà Chưa An

25-10-2018

Báo chí vừa đưa tin, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra kết luận về ông Chu Hảo và đề nghị kỷ luật ông.

“Lão mà chưa an” tuyên bố như sau: Continue reading

Linh mục Đặng Hữu Nam bị thành viên Hội cờ đỏ dọa giết

https://www.sbtn.tv/linh-muc-dang-huu-nam-bi-thanh-vien-hoi-co-do-doa-giet/

Linh mục Đặng Hữu Nam bị thành viên Hội cờ đỏ dọa giếtẢnh: BBC

Linh mục Anton Đặng Hữu Nam cho hay ông đang bị một thành viên Hội cờ đỏ ở Nghệ An dọa giết.

BBC hôm Thứ Tư (24 tháng 10) dẫn lời Linh mục Nam cho biết, kẻ dọa giết linh mục là Lê Đình Thọ, hội trưởng Hội cờ đỏ xóm Quỳnh Khôi, xã Khánh Thành, huyện Yên Thành. Ông Thọ đã ba lần đột nhập vào nhà thờ giáo xứ Mỹ Khánh, nơi Linh mục Nam đang quản nhiệm và đe dọa giết ông. Continue reading

GS. Chu Hảo bị đề nghị kỷ luật vì ‘suy thoái tư tưởng chính trị’; trí thức phản ứng

https://www.voatiengviet.com/a/gs-chu-hao-bi-de-nghi-ky-luat-vi-suy-thoai-tu-tuong-chinh-tri-tri-thuc-phan-ung/4628816.html

Giáo sư Chu Hảo.

Giáo sư Chu Hảo.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vừa đề nghị kỷ luật Giáo sư Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường, vì cho rằng ông “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khi xuất bản những cuốn sách có nội dung trái với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng. Continue reading

Trung Quốc châm chọc Trump về vụ ‘nghe lén điện thoại’

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-45987773

Ông Trump khẳng định ông chỉ dùng điện thoại chính phủ phê chuẩnBản quyền hình ảnhWHITE HOUSEImage captionÔng Trump khẳng định ông chỉ dùng loại điện thoại chính phủ phê chuẩn

Trung Quốc ‘gợi ý’ Tổng thống Mỹ Donald Trump có lẽ nên dùng một chiếc điện thoại Huawei thay vì iPhone nếu ông sợ Bắc Kinh nghe lén điện thoại cá nhân của mình. Continue reading

Thủ thiêm, Nguyên Chủ tịch quận 2 và tiết lộ thú vị

http://thaotin.net/thu-thiem-nguyen-chu-tich-quan-2-va-tiet-lo-thu-vi.html

Khoảng năm 2000, trong cuộc họp HĐND TPHCM, sau khi phê phán gay gắt lãnh đạo Q.2 chậm trễ trong công tác giải tỏa đền bù, chủ tịch UBND TP khi đó – Võ Viết Thanh gút lại: “Anh Chín Lực (Đỗ Tiến Lực – nguyên chủ tịch UBND Q.2), tôi đã chỉ đạo, nhắc nhở anh nhiều lần phải tiến hành cắm mốc đường dẫn từ hầm Thủ Thiêm lên (đường Mai Chí Thọ bây giờ), để bàn giao cho đơn vị thi công, tôi cho anh hứa lần cuối, chừng nào cắm xong?”.

Anh Chín Lực ngửa bài: “Thưa anh Bảy, anh làm ơn nói với các ông lớn, bà lớn cho tôi biết đất chỗ nào của ông nào hay của bà nào, để tôi biết đường mà cắm”. Toàn thể đại biểu cười rần, có lẽ chạm vào vấn đề nhạy cảm, ông Bảy Thanh chuyển sang phần nghị sự khác. Continue reading

Không còn đất để bán, Đà Nẵng sẽ ‘âm’ nguồn thu

http://plo.vn/thoi-su/khong-con-dat-de-ban-da-nang-se-am-nguon-thu-799157.html

Thứ Ba, ngày 23/10/2018

Không còn đất để bán, Đà Nẵng sẽ 'âm' nguồn thu

(PLO)- “Bây giờ chúng ta nhìn lại nguồn thu mới thấy thu ngân sách Trung ương thì không đạt, thu ngân sách địa phương vượt mức. Theo đó, tổng thu ngân sách tăng 3% nhưng cái gì tạo ra 3% để bù lỗ cho Trung ương đó là đất”. Continue reading

Tài sản giới giàu nhất Trung Quốc giảm mạnh

https://www.tienphong.vn/kinh-te/tai-san-gioi-giau-nhat-trung-quoc-giam-manh-1338536.tpo

Các tỷ phú Trung Quốc chứng kiến giá trị tài sản cá nhân sụt nhanh chóng trong bối cảnh chiến tranh thương mại, đồng Nhân dân tệ mất giá và nền kinh tế giảm tốc.

Tỷ phú Jack Ma, người giàu nhất Trung Quốc năm 2018 theo xếp hạng của tạp chí Forbes.Tỷ phú Jack Ma, người giàu nhất Trung Quốc năm 2018 theo xếp hạng của tạp chí Forbes.

Theo danh sách 400 người giàu nhất Trung Quốc Forbes China Rich List được tạp chí Forbes công bố ngày 25/10, tổng tài sản của nhóm tỷ phú và triệu phú Trung Quốc này năm 2018 giảm còn 1,06 nghìn tỷ USD, so với mưc 1,19 nghìn tỷ USD trong năm ngoái. Continue reading

Chính phủ chủ trương bỏ chế độ “công chức suốt đời”

http://cafef.vn/chinh-phu-chu-truong-bo-che-do-cong-chuc-suot-doi-20181026101241027.chn

26-10-2018

Chính phủ chủ trương bỏ chế độ "công chức suốt đời"

Chính phủ kiên quyết xỏa bỏ nạn lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền…

Đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, tập trung siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Continue reading

Thua lỗ, lo ‘đụng’ tàu Trung Quốc, hơn ngàn tàu cá ở Bà Rịa phải nằm bờ

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/thua-lo-lo-dung-tau-trung-quoc-hon-ngan-tau-ca-o-ba-ria-phai-nam-bo/

October 25, 2018

Đội tàu kéo lưới của ông Nguyễn Văn Minh ở cảng Phước Tỉnh. (Hình: VNExpress)

BÀ RỊA-VŨNG TÀU, Việt Nam (NV) – Giá dầu tăng cao, thiếu người làm công, hải sản đánh bắt giảm và thường hay “đụng” tàu Trung Quốc đã khiến hàng ngàn tàu cá đánh bắt xa bờ ở Bà Rịa-Vũng Tàu ngưng hoạt động không đi biển dù đang vào vụ cá cuối năm. Continue reading

Tôm hùm chết mỗi ngày cả tấn, người dân Khánh Hòa điêu đứng

https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/tom-hum-chet-moi-ngay-ca-tan-nguoi-dan-khanh-hoa-dieu-dung/

October 25, 2018

Người dân phải vớt tôm hùm bán tháo cho thương lái. (Hình: VNExpress)

KHÁNH HÒA, Việt Nam (NV) – Người dân trên vịnh Vân Phong, thuộc hai xã Vạn Thạnh, Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, đang lao đao vì tôm hùm nuôi với trọng lượng khoảng một kg mỗi con bị chết, phải bán tháo “được đồng nào hay đồng nấy.” Continue reading

Quốc hội Mỹ phê chuẩn thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan

https://tuoitre.vn/quoc-hoi-my-phe-chuan-thuong-vu-ban-vu-khi-cho-dai-loan-20181026101119924.htm

26/10/2018

TTO – Hợp đồng trị giá 330 triệu USD, chủ yếu gồm các linh kiện máy bay, là thương vụ vũ khí thứ 2 bán cho Đài Loan trong vòng chưa đầy 18 tháng qua của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Quốc hội Mỹ phê chuẩn thương vụ bán vũ khí cho Đài Loan - Ảnh 1.

Hai chiến đấu cơ của Đài Loan đóng tại căn cứ không quân Hoa Liên, phía đông Đài Loan vào ngày 4-6-2018 – Ảnh: EPA-EFE Continue reading

Thanh khoản eo hẹp, NHNN bơm ròng hơn 56.000 tỷ đồng sau 3 tuần tháng 10

https://trithucvn.net/kinh-te/thanh-khoan-eo-hep-nhnn-bom-manh-56-450-ty-dong-sau-3-tuan-thang-10.html

  • Thứ Sáu, 26/10/2018

Tính từ đầu tháng đến ngày 24/10, NHNN đã thực hiện bơm ròng 3 tuần liên tiếp, với tổng lượng tiền bơm ra thị trường lên tới 56.450 tỷ đồng.

bom tienNHNN đã bơm mạnh hơn 56.000 tỷ đồng ra thị trường sau 3 tuần tháng 10. (Ảnh: Justin Mott/Bloomberg qua Getty Images)

Báo cáo của Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho biết trong tuần qua (15 – 19/10), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện bơm ròng 250 tỷ đồng ra thị trường qua kênh tín phiếu. Continue reading

‘Trung Quốc ngày càng gia tăng bức hại tất cả tín ngưỡng, tôn giáo’

https://trithucvn.net/the-gioi/trung-quoc-ngay-cang-gia-tang-buc-hai-tat-ca-tin-nguong-ton-giao.html

  • Thứ Sáu, 26/10/2018

Phát biểu vào hôm 25/10 nhân dịp kỷ niệm 20 năm nước Mỹ ban hành Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế, Đại sứ toàn quyền Mỹ về tự do tôn giáo quốc tế Samuel Brownback nói rằng Mỹ không hài lòng với tình hình tự do tôn giáo quốc tế nói chung và đặc biệt tại Trung Quốc đang ngày càng gia tăng bức hại tất cả các tín ngưỡng, tôn giáo.

BrownbackĐại sứ toàn quyền Mỹ về tự do tôn giáo quốc tế Samuel Brownback phát biểu tại Trung tâm Báo chí Đối ngoại ở Washington D.C hôm 25/10/2018. (Ảnh: Jennifer Zeng/The Epoch Times)

Trong bài phát biểu tại Trung tâm Báo chí Đối ngoại ở Tòa nhà Báo chí Quốc gia, Washington D.C, Đại sứ Brownback nhấn mạnh về tình huống “thương tâm” ở Trung Quốc. Ông Brownback cho hay: “Hạn chế tôn giáo đối với Người Duy Ngô Nhĩ là sai. Điều đó là vi phạm Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền. Mọi người có quyền lựa chọn và thực hành đức tin mà họ thấy phù hợp”. Continue reading

Hai quỹ đầu tư của chính phủ Trung Quốc bất ngờ bán hết cổ phiếu

https://www.dkn.tv/kinh-te/hai-quy-dau-tu-cua-chinh-phu-trung-quoc-bat-ngo-ban-het-co-phieu.html

16:32, 25/10/2018

Hai quỹ đầu tư của chính phủ Trung Quốc đã bán ra tất cả cổ phiếu và trái phiếu của họ trong quý III/2018 mà không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào, khiến giới đầu tư hoang mang. Continue reading

26/10-Thế giới đêm qua: WTO tuyên bố cải cách sau khi bị cáo buộc ‘ưu ái’ Trung Quốc

https://www.dkn.tv/the-gioi/26-10-the-gioi-dem-qua-wto-tuyen-bo-cai-cach-sau-khi-bi-cao-buoc-uu-ai-trung-quoc.html

07:15, 26/10/2018

Mục Thế giới đêm qua, sáng thứ Sáu ngày 26/10, xin gửi tới quý độc giả phần tóm lược những tin nổi bật.

WTO tuyên bố cải cách sau khi bị cáo buộc ‘ưu ái’ Trung Quốc Continue reading

Tài sản cán bộ công chức không rõ nguồn gốc: Đưa ra tòa xử

https://thesaigontimes.vn/280761/tai-san-can-bo-cong-chuc-khong-ro-nguon-goc-dua-ra-toa-xu.html

Ngọc Lan
Thứ Năm, 25/10/2018, 20:59
(TBKTSG Online) – Sau nhiều kỳ tranh luận, cuối cùng phương án xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm của cán bộ, công chức… không giải trình được nguồn gốc được Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) chốt lại là đưa ra tòa.

Quốc hội thảo luận về Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi). Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội.

Đưa ra tòa theo cách nào? Continue reading

Lãnh đạo Samsung: Triều Tiên có khả năng thay thế Việt Nam trở thành công xưởng sản xu ất điện thoại thông minh

https://nhadautu.vn/lanh-dao-samsung-trieu-tien-co-kha-nang-thay-the-viet-nam-tro-thanh-cong-xuong-san-xuat-dien-thoai-thong-minh-d14596.html

PV19, Tháng 10, 2018 | 13:31

“Đối với Samsung Electronics, Triều Tiên là một ứng cử viên tiềm năng để xây dựng chuỗi dây chuyền sản xuất bởi họ có lao động giá rẻ, ở cùng múi giờ và chẳng có rào cản ngôn ngữ nào ở đây”, You Seung Min, chiến lược gia trưởng của Samsung Securities cho biết. Continue reading

Tổng thống Trump: “Không xuống thang và muốn Trung Quốc “đớn đau hơn” trong cuộc chiến th ương mại”

https://nhadautu.vn/tong-thong-trump-khong-xuong-thang-va-muon-trung-quoc-don-dau-hon-trong-cuoc-chien-thuong-mai-d14685.html

CHÍ THÀNH22, Tháng 10, 2018 | 16:39

Tổng thống Mỹ Donald Trump nói sẽ không xuống thang trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, tờ Business Insider dẫn nguồn từ cổng thông tin Axios cho hay. Continue reading

“Nếu Mỹ-Trung có chiến tranh, nguy cơ tấn công hạt nhân không nhỏ”

http://vi.rfi.fr/chau-a/20181025-neu-my-trung-chien-tranh-nguy-co-tan-cong-hat-nhan-khong-nho

Trọng ThànhĐăng ngày 25-10-2018 Sửa đổi ngày 25-10-2018 20:26
mediaSinh viên Philippines biểu tình phản đối Trung Quốc triển khai tên lửa địa đối không HQ9 trên đảo Phú Lâm (Woody Island), quần đảo Hoàng Sa, ngày 19/02/2016 trước sứ quán Trung Quốc ở Manila.REUTERS/Erik De Castro Continue reading

Chúc mừng ông, Giáo Sư Chu Hảo

https://www.voatiengviet.com/a/giao-su-chu-hao-nha-xuat-ban-tri-thuc/4629297.html

Giáo sư Chu Hảo.

Giáo sư Chu Hảo.

Chỉ vài ngày sau lễ đăng quang của ông Nguyễn Phú Trọng là bản án cho một trí thức nổi tiếng Việt Nam: GSTS Khoa học Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, được Ủy Ban Kiểm tra Trung ương đưa ra với những cụm từ quen thuộc mà ông Trọng từng lập đi lập lại trong những lần có dịp phát biểu trước cử tri hay trước các Đại hội do Đảng tổ chức. Continue reading

Mỹ trừng phạt các công ty Singapore né tránh chế tài Triều Tiên

https://www.voatiengviet.com/a/my-trung-phat-cac-cong-ty-singapore-ne-tranh-che-tai-trieu-tien/4629558.html

Bộ Tài chính Mỹ đã áp đặt các chế tài lên hai công ty đặt tại Singapore và một người đàn ông bị buộc tội rửa tiền thông qua hệ thống tài chính của Mỹ nhằm né tránh các chế tài nhắm vào Triều Tiên, bộ cho biết trong một thông cáo hôm thứ Năm. Continue reading

TQ gợi ý chính quyền Trump dùng điện thoại Huawei để khỏi bị nghe lén

https://www.voatiengviet.com/a/trung-quoc-goi-y-chinh-quyen-trump-dung-dien-thoai-huawei-de-khoi-bi-nghe-len/4629556.html

Mặc dù Tổng thống Donald Trump đã được thuyết phục sử dụng điện thoại dây nối an ninh ở Nhà Trắng thường xuyên hơn, ông vẫn không chịu từ bỏ điện thoại di động của mình, báo The New York Times đưa tin.

Mặc dù Tổng thống Donald Trump đã được thuyết phục sử dụng điện thoại dây nối an ninh ở Nhà Trắng thường xuyên hơn, ông vẫn không chịu từ bỏ điện thoại di động của mình, báo The New York Times đưa tin. Continue reading

Ông Trump đã đẩy Trung-Nhật đến gần nhau hơn?

https://www.voatiengviet.com/a/%C3%B4ng-trump-%C4%91%C3%A3-%C4%91%E1%BA%A9y-trung-nh%E1%BA%ADt-%C4%91%E1%BA%BFn-g%E1%BA%A7n-nhau-h%C6%A1n-/4629538.html

Ông Trump đã đẩy Trung-Nhật đến gần nhau hơn?

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe được Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tiếp đón

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe được Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tiếp đón

Đó là khoảnh khắc sống sượng được phát sóng trên toàn thế giới.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, trong lần gặp nhau lần đầu tiên với tư cách lãnh đạo đất nước vào năm 2014, đã bắt tay, mắt nhìn xuống với vẻ mặt tối sầm.

Cả hai ông đều quyết tránh bất cứ dấu hiệu nào cho thấy rằng họ hứng thú với cuộc gặp diễn ra ở Bắc Kinh này.

Bốn năm sau, ông Abe đã nhận được phản ứng nồng hậu hơn nhiều khi ông đến Bắc Kinh hôm 25/10 trong chuyến công du chính thức đầu tiên của ông đến Trung Quốc trong nhiều năm.

Và đó phần lớn là nhờ vào Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Chính sách đối ngoại phi truyền thống của chính quyền Trump về thương mại và liên minh quân sự đã khiến Tokyo cảm thấy không chắc về sự ủng hộ của Mỹ vốn đã là nền tảng trong quan hệ quốc tế của Nhật kể từ khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc.

Ông Trump đã liên tục kêu gọi các đồng minh đông Á chi trả cho quốc phòng của họ, úp mở về việc chấm dứt sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực trong khi thúc đẩy Nhật mua thêm nhiều vũ khí Mỹ.

Còn đối với Trung Quốc, Bắc Kinh đang hứng chịu sức ép ngày càng tăng của chính quyền Trump và đang rất cần đồng minh kinh tế và ngoại giao trong khu vực.

“Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều bị Mỹ chĩa mũi dùi,” ông Koichi Nakano, giáo sư khoa học chính trị thuộc Đại học Sophia ở Tokyo nói với CNN. “Ông Tập Cận Bình muốn nói với ông Abe rằng họ cùng chung cảnh ngộ.”

Về mặt lịch sử, Bắc Kinh và Tokyo có quan hệ rất khác với Washington – một nước là đối thủ còn một nước là đồng minh thân cận. Nhưng giờ đây cả hai nước đều gặp sự thù địch từ chính quyền Trump.

Hàng tỷ đô la giá trị hàng hóa Trung Quốc đã bị chính quyền Trump áp thuế trong khi giới chức Mỹ cáo buộc Trung Quốc ăn cắp sở hữu trí tuệ của Mỹ.

Trong những tháng gần đây, tranh chấp Mỹ-Trung đã lan ra khỏi phạm vị kinh tế vào lĩnh vực quân sự và chính trị, với những tuyên bố không có chứng cớ của ông Trump rằng Bắc Kinh can thiệp vào bầu cử Mỹ.
Còn về phía Nhật, bất chấp nhiều cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước và nỗ lực có phối hợp nhằm ve vãn ông Trump, Chính phủ Nhật hầu như vẫn trắng tay.

“Tất cả những việc này, và mối quan hệ giữa ông Abe và ông Trump, không thật sự dẫn đến cách đối xử đặc biệt nào cho Nhật mà lại là thái độ thù địch và lỗ mãng trên vấn đề mậu dịch,” ông Nakano nói.

Về ngoại giao, ông Abe đã bị cho ra rìa trong các cuộc đàm phán nổi bật giữa Bình Nhưỡng, Washington và Seoul, một sự bỉ mặt được cảm nhận rất nặng nề ở Tokyo.

Mặc dù là đồng minh thân cận, Nhật không hề được ông Trump miễn thuế nhôm và thép xuất khẩu sang Mỹ trong khi ông Trump cũng có những lời lẽ gay gắt về giao thương với Nhật.

Hồi tháng Tư, ông Trump đã viết trên Twitter rằng Nhật ‘đã khiến chúng ta tổn thất về thương mại rất nhiều trong nhiều năm’. Nhật có thặng dư thương mại vào khoảng 70 tỷ đô la với Mỹ.
Tuy nhiên, bất chấp sự thù địch của Mỹ đã kéo Bắc Kinh và Tokyo lại gần nhau hơn, lịch sử lâu đời và đầy xích mích giữa hai nước đã khiến cho sự xích lại gần nhau trở nên khó khăn.

Quan hệ song phương đã trải qua con đường gập ghềnh kể từ khi kết thúc Đệ nhị Thế chiến giữa những lời lên án về lịch sử chiếm đóng tàn bạo của người Nhật ở Trung Quốc.

Những tiến triển hướng đến ‘bình thường hóa quan hệ’ đã thất bại hồi năm 2012 khi sự thù địch âm ỉ giữa hai bên xung quanh chủ quyền một chuỗi đảo trên Biển Hoa Đông đã sôi sục với các cuộc biểu tình bạo lực và đe dọa trả đũa.

Tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư-Senkaku đã dẫn đến quan hệ hai nước lạnh nhạt mà đỉnh cao là cuộc gặp lạnh lùng giữa ông Tập và ông Abe hồi năm 2014.

Đồng thời, tình cảm bài Nhật xung quanh sự chiếm đóng của Nhật ở Trung Quốc một lần nữa lại trỗi dậy với việc Bắc Kinh chính trị hóa sự tàn bạo của người Nhật trong chiến tranh trong khi những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Tokyo lập luận rằng đất nước của họ nên lấy lại lòng tự hào dân tộc.

Quá trình cải thiện quan hệ hai nước bắt đầu hồi tháng 9 năm 2017 khi ông Abe trở thành nhà lãnh đạo Nhật đầu tiên trong vòng 15 năm đến dự lễ mừng Quốc khánh Trung Quốc tại Đại sứ quán nước này ở Tokyo.

Kể từ đó, ông Abe và ông Tập đã gặp nhau nhiều lần tại các thượng đỉnh quốc tế. Hai nước đều dành cho nhau những lời khen ngợi trong việc cải thiện quan hệ.

Hồi tháng 5, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã trở thành nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc diện kiến Nhật hoàng Akihito trong gần một thập niên.

Các chuyên gia cho rằng với việc ông Trump đang áp lực lên cả hai nước về thương mại và an ninh, Trung Quốc và Nhật Bản đang nỗ lực bình ổn các quan hệ trong khu vực trong lúc họ đang tìm kiếm đồng minh để đối phó với cơn bão từ Mỹ.

“Trung Quốc đang tìm kiếm một người bạn, cho nên điều đó có nghĩa là họ sẵn sàng đáp ứng Nhật và bỏ qua những khác biệt chiến lược trầm trọng. Điều đó cũng đúng với Nhật,” ông Richard McGregor, chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Viện Lowy ở Sydney, nhận định.

Trong khi Trung Quốc cần sự giúp đỡ của Nhật để phản công các hành động thương mại của ông Trump, Nhật đang tuyệt vọng bảo vệ trật tự kinh tế tự do hiện hành ở khu vực, ông Stephen Nagy, nhà nghiên cứu khách mời tại Viện Quan hệ Quốc tế Nhật Bản, được CNN dẫn lời nói.
“Mối quan ngại của của họ là nếu quan hệ xấu đi thì sẽ có một thị trường Mỹ riêng biệt và một thị trường Trung Quốc riêng biệt khép kín… điều đó sẽ làm tăng chi phí của các công ty Nhật,” ông nói. “Họ không muốn điều đó xảy ra.”

Hiện tại, cả hai nước dường như đều rất sốt sắng thúc đẩy giao thương tự do, ít nhất là về mặt công khai. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ South China Morning Post trong lúc ông Abe sắp sửa đến Bắc Kinh, ông Trình Vĩnh Hoa, Đại sứ Trung Quốc ở Nhật, đã ca ngợi nền kinh tế ‘có tính bổ trợ cao’ cho nhau của hai nước.

“Chúng ta không thể ngồi nhìn và bàng quan trước những thiệt hại đối với thương mại toàn cầu và chuỗi cung ứng toàn cầu,” ông nói. “Chúng ta nên đoàn kết lên tiếng thể hiện sự ủng hộ kiên quyết đối với thương mại tự do và phản đối chủ nghĩa bảo hộ.”

Tuy nhiên sự xích lại gần nhau giữa hai nước không có nghĩa là tất cả mọi vấn đề giữa Tokyo và Bắc Kinh đã được giải quyết.

Tuần trước, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã công khai nghiêm khắc chỉ trích Thủ tướng Abe đã gửi phẩm vật cúng tế đến Đền Yasukuni nơi có thờ phượng một số tù nhân chiến tranh đã bị kết tội.

“Chúng tôi kêu gọi Nhật Bản hãy thẳng thắn đối mặt và suy gẫm về lịch sử xâm lược của họ,” phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Lục Khảng nói.

Trong khi các tổng thống Mỹ đến rồi đi và chính sách của Mỹ thay đổi theo từng đời tổng thống, sự bất đồng ăn sâu giữa Bắc Kinh và Tokyo về lịch sử và lãnh thổ vẫn còn hết sức gây chia rẽ và vẫn chưa được giải quyết.

“Những vấn đề cơ bản này có thể là có liên quan nhiều hơn và có ảnh hưởng nhiều hơn là nhân tố tạm thời như ông Trump,” Nakano nói.

(Theo CNN)