CXN _110617_13 885_ Trích nhiều bài báo: “Trung Quốc đang cho các nước tham gia “Sáng kiến Vành đai và Con đường” vay rất nhiều tiền để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng. Bắc Kinh trở thành chủ nợ chi phối các nước này và đến khi tới hạn đáo nợ, rủi ro rất cao là các “con nợ” sẽ bị mất chủ quyền vào tay Trung Quốc. Tuy nhiên, khác với Mỹ và đồng minh, khi thiết lập sự hiện diện của mình tại Djibouti, Trung Quốc không chỉ mở căn cứ quân sự nước ngoài (công khai) đầu tiên của mình, mà họ còn mang theo dòng vốn vay đổ vào đất nước Châu Phi này theo “Sáng kiến Vành đai và Con đường”. Chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi vừa qua, thông qua ngân hàng nhà nước – Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, chế độ Bắc Kinh đã cung cấp cho Djibouti khoản vay lớn lên tới 1,4 tỷ USD, tương đương 75% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này. Và đội ngũ tư vấn của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD) có trụ sở tại Washington và London cũng đã xác định Djibouti là một trong những trường hợp đặc biệt nhất trong số các nước nghèo “đang đối mặt với nguy cơ gia tăng rủi ro đáng kể về mất chủ quyền quốc gia nếu các dự án đã lên kế hoạch theo Sáng kiến Vành đai và Con đường được hoàn thành“. Ngay trong cảnh báo của CGD cũng có ngụ ý rằng, mặc dù trường hợp của Djibouti có thể là nghiêm trọng nhất, nhưng đây không phải là nước duy nhất phải hứng chịu rủi ro mất chủ quyền vì thực hiện Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cung cấp khoản vay cho nhiều nước tương đối nghèo nhưng có vị trí địa lý chiến lược và Bắc Kinh nhanh chóng nổi lên là chủ nợ quốc tế, có ảnh hưởng lớn nhất. Trong một nghiên cứu mới phát hành tháng trước, CGD đã xác định ngoài Djibouti, còn có 14 nước khác có vay vốn của Trung Quốc theo Sáng kiến Vành đai và Con đường có nguy cơ rơi vào “kiệt quệ” tài chính. Trong đó, 7 nước có khả năng vì vay nợ sẽ đẩy nền kinh tế quốc gia đến bờ vực của cuộc khủng hoảng nợ công. Vấn đề vay nợ cao, trong khi doanh thu dự án không đủ bù đắp chi phí trả lãi, đang tạo ra mối lo lắng lớn. Chính phủ vạy nợ sẽ bỏ qua chi tiêu vào các lĩnh vực thiết yếu khác như y tế hay giáo dục hoặc thậm chí sẽ phải vay nợ thêm để trang trải khoản lãi vay. Những hậu quả có thể xảy ra là tăng trưởng chậm, tỉ lệ lãi vay cao khiến rủi ro gia tăng và mức tăng nợ công nhanh chóng thậm chí có thể khiến quốc gia vay nợ phụ thuộc lớn hơn vào chủ nợ chi phối vì những đối tác cho vay khác không dám cấp vốn vay tiếp. Kết quả cuối cùng sẽ hoặc là vỡ nợ với những khó khăn kinh tế trầm trọng hoặc phải tái cơ cấu nợ và dẫn tới rủi ro mất chủ quyền. Tái cơ cấu nợ là một viễn cảnh rất đáng quan ngại. Trung Quốc chưa ký kết tham gia vào Câu lạc bộ Paris tập hợp các chủ nợ quốc tế với các quy định thực thi tốt nhất về việc tái cơ cấu nợ. Thực tế, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã yêu cầu một mức giá cao đối với những nước đi vay muốn tái cơ cấu nợ. Vào năm 2011, Trung Quốc đã yêu cầu Tajikistan chuyển nhượng hàng nghìn km2 lãnh thổ để đổi lại việc được xóa nợ. Và vào năm 2017, Trung Quốc đã hoán đổi khoản nợ của Sri Lanka để được thuê 99 năm cảng biển Hambantota có vị trí chiến lược. Mô hình hiện tại của các khoản cho vay theo Sáng kiến Vành đai và Con đường đang thực hiện với các nước như Djibouti, khiến cho việc cơ cấu nợ theo cách của Trung Quốc đã làm với Tajikistan và Sri Lanka có thể tiếp diễn trong tương lai. Trung Quốc sẽ đòi hỏi các nước vay nợ phải nhượng bộ về chính trị hay lãnh thổ nặng nề để đổi lấy các điều khoản tái cơ cấu nợ dễ dàng hơn. Và nếu có ai nghĩ khác rằng Bắc Kinh đang cho các quốc gia tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường vay vốn vì lợi ích kinh tế của họ chứ không phải phục vụ cho lợi thế về chính trị và chiến lược của Trung Quốc, thì người đó chắc hẳn phải nhai lá khat để tạo hưng phấn như người Djibouti vẫn làm” Có một danh sách dài những quốc gia đang mắc vào chiếc thòng lọng của chiến lược “Một vành đai, một con đường” – với mồi câu là các dòng tín dụng cho vay dễ dãi của Trung Quốc, như Argentina, Namibia, Sri Lanka, Djibouti, Nepal, Campuchia, Myanmar, Indonesia, Hy Lạp, Ý, Úc… Những cái tên xuất hiện trải dài từ tiểu vùng hạ lưu sông Mê Kông, đến khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, châu Phi, thậm chí sang châu Âu. Mặc cho việc có quá nhiều ví dụ thực tiễn mất đất, mất cảng và tài nguyên đã xảy ra, ngày càng có nhiều quốc gia trở thành một phần của chiến lược “Một vành đai, một con đường”. Những quốc gia này sẵn sàng mời gọi và liên doanh với công ty Trung Quốc để làm dự án cảng biển, đặc khu kinh tế… bất chấp thực tế đang đặt các vùng chiến lược của đất nước trước nguy cơ rơi vào tay Trung Quốc. Thứ hai, các chính trị gia và lợi ích nhóm – những người phê duyệt dự án sẵn sàng “đi đêm” với Bắc Kinh để xúc tiến dự án, lợi ích mà những người này nhận được có thể là công ty sân sau tham gia hoặc nhận cổ phần ưu đãi trong công ty liên doanh, hay công ty khác được lập nên dưới sự hậu thuẫn từ Trung Quốc. Thực tiễn tại Myanmar và Campuchia đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp nhà nước liên doanh với công ty Trung Quốc làm đặc khu kinh tế đều có mối quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo Đảng cầm quyền. Chính vì một số lý do đó đã khiến chất lượng nhà thầu Trung Quốc cũng như các tác động về môi trường, an ninh quốc phòng đã dễ dàng bị bỏ qua tại các dự án liên doanh. Điều phổ biến thường thấy tại các dự án do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận thường là công nghệ máy móc lạc hậu, sử dụng nhân công Trung Quốc, dự án bị thiếu vốn hoặc đội vốn nhiều lần. (HT). (NX Phúc’s BRI Belt Road Initiatives, warning that NX Phúc PM and family will be wholly responsible for the finacial penalty due to the cancellation of Chinese contrcts, why other countries cancelled Chinese construction contracts?, top notch, dismantling of the administration, electricity and petrol taxes toincrease, CPI’s, the final collapse, system crumple, the economy isceasing to operate, bế tắc KT, idiotic PM, 2016-2020 restructuring, belltolled) : Thủ tướng hoan nghênh sáng kiến ‘Vành đai và con đường’ của TQ

Mời đọc website của Việt Nam Dân Tộc Tự Quyết bấm vào đây ở FB https://www.facebook.com/vietnamdantoctuquyet/

và blog này https://vndttq.home.blog/?blogsub=subscribed#blog_subscription-3

Professor GS Trần Thanh Đằng, một minh chủ Hậu CS, ngang tầm với 2 minh chủ kia NV Thiệu và NĐ Diệm, ko thua Lý Quang Diệu

Nếu không đọc được nội dung, hãy tải về ứng dụng Betternet VPN để vượt tường lửa.
Link vượt tường: http://bit.ly/2wzYDz9 > bấm GO
Tại VN, để xem được trang tin nước ngoài, các bạn cài VPN vượt tường lửa (cho máy tính và các thiết bị di động, smart phone). Link: http://bit.ly/2mYSZBq
xx

Mời bấm vào dưới đây để xem video

https://www.youtube.com/watch?v=uunbal7TUiY&feature=youtu.be&fbclid=IwAR1ddf5B19j5EE2Rp_UxzQLboqPuVFLNp8C6R_K6zmrXM0DYVq7f_THpcIw

Châu Xuân Nguyễn
xx
Mời đọc những trích dẫn từ hàng chục bài báo về Vành đai và con đường….

xx

http://trithucvn.net/the-gioi/cac-con-no-cua-trung-quoc-dang-phai-doi-mat-voi-rui-ro-cao-ve-mat-chu-quyen.html

Các “con nợ” của Trung Quốc đang phải đối mặt với “rủi ro cao” về mất chủ quyền

Thứ hai, 26/03/2018 | 06:03 GMT + 7430 lượt xem

Trung Quốc đang cho các nước tham gia “Sáng kiến Vành đai và Con đường” vay rất nhiều tiền để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng. Bắc Kinh trở thành chủ nợ chi phối các nước này và đến khi tới hạn đáo nợ, rủi ro rất cao là các “con nợ” sẽ bị mất chủ quyền vào tay Trung Quốc.

Tuy nhiên, khác với Mỹ và đồng minh, khi thiết lập sự hiện diện của mình tại Djibouti, Trung Quốc không chỉ mở căn cứ quân sự nước ngoài (công khai) đầu tiên của mình, mà họ còn mang theo dòng vốn vay đổ vào đất nước Châu Phi này theo “Sáng kiến Vành đai và Con đường”. Chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi vừa qua, thông qua ngân hàng nhà nước – Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, chế độ Bắc Kinh đã cung cấp cho Djibouti khoản vay lớn lên tới 1,4 tỷ USD, tương đương 75% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này.

Kết quả là, tỉ lệ nợ công của Djibouti so với GDP đã tăng lên 85%, trở thành một trong những nước thu nhập thấp có tỉ lệ nợ công cao nhất thế giới. Và nếu Trung Quốc tiếp tục giải ngân cho các cơ sở hạ tầng mới đã được lên kế hoạch bao gồm bến cảng, sân bay, đường cao tốc và đường sắt mới nối với Ethiopia, tỷ lệ nợ của Djibouti sẽ tăng lên hơn 90%, và đáng chú ý là đều nợ một chủ nợ – Trung Quốc.

Quốc tế bắt đầu dấy lên cảnh báo về sự gia tăng nợ công nhanh chóng tại Djibouti và lại tập trung duy nhất vào một chủ nợ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo rằng cách vay nợ của Djibouti là “rủi ro cao”. Và đội ngũ tư vấn của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD) có trụ sở tại Washington và London cũng đã xác định Djibouti là một trong những trường hợp đặc biệt nhất trong số các nước nghèo “đang đối mặt với nguy cơ gia tăng rủi ro đáng kể về mất chủ quyền quốc gia nếu các dự án đã lên kế hoạch theo Sáng kiến Vành đai và Con đường được hoàn thành“.

Ngay trong cảnh báo của CGD cũng có ngụ ý rằng, mặc dù trường hợp của Djibouti có thể là nghiêm trọng nhất, nhưng đây không phải là nước duy nhất phải hứng chịu rủi ro mất chủ quyền vì thực hiện Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cung cấp khoản vay cho nhiều nước tương đối nghèo nhưng có vị trí địa lý chiến lược và Bắc Kinh nhanh chóng nổi lên là chủ nợ quốc tế, có ảnh hưởng lớn nhất.

Trong một nghiên cứu mới phát hành tháng trước, CGD đã xác định ngoài Djibouti, còn có 14 nước khác có vay vốn của Trung Quốc theo Sáng kiến Vành đai và Con đường có nguy cơ rơi vào “kiệt quệ” tài chính. Trong đó, 7 nước có khả năng vì vay nợ sẽ đẩy nền kinh tế quốc gia đến bờ vực của cuộc khủng hoảng nợ công.

Nước dễ bị tổn thương nhất là quốc đảo Maldives tại Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã cho Maldives vay khoản tiền lớn để xây sân bay mới và các công trình phụ trợ liên quan trị giá tới 1,25 tỷ USD, và còn thêm một bến cảng. Kết quả là, nợ công của Maldives tương đương gần 75% GDP, trong đó 70% là nợ Trung Quốc. IMF vào năm ngoái đã cảnh báo việc Maldives gia tăng nợ công nhanh chóng sẽ gây ra rủi ro cao cho sức khỏe của nền kinh tế của quốc đảo này.

Các quốc gia nợ quá mức khác gồm Tajikistan, Cộng hòa Kyrgyz và Mông Cổ – đều nằm ở biên giới phía cực Tây của Trung Quốc, một khu vực mà chế độ Bắc Kinh thường xuyên trấn áp những người bất đồng chính kiến chính trị và tôn giáo.

Trong khi đó, tại Lào, các khoản vay của Trung Quốc đang tài trợ cho đất nước Đông Nam Á này xây dựng một tuyến đường sắt có giá trị bằng một nửa GDP. Và có thêm cả Pakistan, nước này đang vay Trung Quốc 50 tỷ USD theo lãi xuất thị trường để thực hiện một loạt các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng, nhưng rất ít dự án trong đó có cơ hội tạo ra đủ lượng tiền trong trung và dài hạn để trang trải các khoản chi phí lãi vay.

Vấn đề vay nợ cao, trong khi doanh thu dự án không đủ bù đắp chi phí trả lãi, đang tạo ra mối lo lắng lớn. Chính phủ vạy nợ sẽ bỏ qua chi tiêu vào các lĩnh vực thiết yếu khác như y tế hay giáo dục hoặc thậm chí sẽ phải vay nợ thêm để trang trải khoản lãi vay. Những hậu quả có thể xảy ra là tăng trưởng chậm, tỉ lệ lãi vay cao khiến rủi ro gia tăng và mức tăng nợ công nhanh chóng thậm chí có thể khiến quốc gia vay nợ phụ thuộc lớn hơn vào chủ nợ chi phối vì những đối tác cho vay khác không dám cấp vốn vay tiếp.

Kết quả cuối cùng sẽ hoặc là vỡ nợ với những khó khăn kinh tế trầm trọng hoặc phải tái cơ cấu nợ và dẫn tới rủi ro mất chủ quyền. Tái cơ cấu nợ là một viễn cảnh rất đáng quan ngại. Trung Quốc chưa ký kết tham gia vào Câu lạc bộ Paris tập hợp các chủ nợ quốc tế với các quy định thực thi tốt nhất về việc tái cơ cấu nợ.

Thực tế, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã yêu cầu một mức giá cao đối với những nước đi vay muốn tái cơ cấu nợ. Vào năm 2011, Trung Quốc đã yêu cầu Tajikistan chuyển nhượng hàng nghìn km2 lãnh thổ để đổi lại việc được xóa nợ. Và vào năm 2017, Trung Quốc đã hoán đổi khoản nợ của Sri Lanka để được thuê 99 năm cảng biển Hambantota có vị trí chiến lược.

Mô hình hiện tại của các khoản cho vay theo Sáng kiến Vành đai và Con đường đang thực hiện với các nước như Djibouti, khiến cho việc cơ cấu nợ theo cách của Trung Quốc đã làm với Tajikistan và Sri Lanka có thể tiếp diễn trong tương lai. Trung Quốc sẽ đòi hỏi các nước vay nợ phải nhượng bộ về chính trị hay lãnh thổ nặng nề để đổi lấy các điều khoản tái cơ cấu nợ dễ dàng hơn. Và nếu có ai nghĩ khác rằng Bắc Kinh đang cho các quốc gia tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường vay vốn vì lợi ích kinh tế của họ chứ không phải phục vụ cho lợi thế về chính trị và chiến lược của Trung Quốc, thì người đó chắc hẳn phải nhai lá khat để tạo hưng phấn như người Djibouti vẫn làm.

Tác giả: Tom Holland (scmp.com)

Tân Bình dịch và biên tập

xx

https://trithucvn.net/kinh-te/dieu-gi-khien-nhieu-nuoc-roi-vao-bay-no-cua-trung-quoc.html
Điều gì khiến nhiều nước rơi vào ‘bẫy nợ’ của Trung Quốc?

  • Thứ Năm, 07/06/2018

Trung Quốc một ngàn năm trước là trung tâm của thế giới với nền kinh tế đi đầu và trình độ khoa học phát triển rực rỡ. Ấy vậy, một ngàn năm sau, người Trung Quốc không khỏi kinh ngạc khi đang sống trong môi trường ô nhiễm nặng nề, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo lớn và nổi tiếng về hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Tuy nhiên, đáng ngạc nhiên hơn hết, các quốc gia khác lại đang răm rắp theo sách lược của Trung Quốc.

bay no Trung Quoc(Ảnh minh họa: sundaytimes.lk)
Tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế Trung Quốc

Con số hào nhoáng về tốc độ phát triển cũng như quy mô của nền kinh tế đông dân nhất thế giới khiến nhiều quốc gia “lầm tưởng” về sức mạnh nền kinh tế Đại lục. Cần nhớ rằng Trung Quốc cần Mỹ và những nước khác để xuất khẩu hàng hóa, trong khi các quốc gia khác xuất khẩu vào nước này lại không nhiều. Thống kê từ CNBC cho thấy gần 90% thặng dư thương mại của Trung Quốc (hơn 375 tỷ USD) năm 2017 đến từ Mỹ. Và các nước như Đức, Anh, Ý, Pháp, Thụy Sĩ đều là những nước thuộc EU đang xuất khẩu lớn vào Mỹ. Do đó, càng không có lý do để Đức và EU đứng về phía Trung Quốc trong tranh chấp thương mại (nếu có).

Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu giá rẻ, điều này khiến nền kinh tế rất dễ bị tổn thương trước các xung đột thương mại và hàng rào thuế quan từ nước ngoài. Trong các xung đột thương mại Mỹ – Trung, Trung Quốc buộc phải đưa ra những nhượng bộ về giảm thuế, quyền sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường cho hàng Mỹ… mặc cho trước đó nền kinh tế lớn thứ hai thế giới luôn đe dọa sẵn sàng chiến đấu với Mỹ đến cùng.

xx

Tính theo thu nhập bình quân đầu người, nền kinh tế Trung Quốc có thực sự trở thành đối trọng thương mại lớn thứ hai thế giới sau Mỹ? Theo IMF, tính đến tháng 4/2018, thu nhập của bình quân của mỗi người Trung Quốc chỉ gần 28 USD/ngày, bằng 1/6 thu nhập của người Mỹ và người Singapore (hơn 170 USD/ngày), thậm chí thấp hơn nhiều so với Hồng Kông 133 USD/ngày.

Theo thống kê của Macquarie Research, Trung Hoa vào thế kỷ 15 và 16 chiếm khoảng 25% – 30% nền kinh tế toàn cầu. Nhưng đến khoảng năm 1950 – 1970, sau thế chiến 2 và dưới thời điều hành của Mao Trạch Đông, con số này đã giảm giật mình chỉ còn dưới 5%. Bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình, tăng trưởng bất chấp khiến Trung Quốc vươn lên chiếm khoảng 17% nền kinh tế TG vào năm 2015, gần tương đương với Mỹ. Song hậu quả là nhiều thành phố Trung Quốc bị ngập chìm trong khói bụi ô nhiễm, trở thành bãi rác thải công nghệ của thế giới, mức độ tín nhiệm quốc gia ở mức thấp chưa từng có trong lịch sử… Trong khi Trung Quốc muốn thoát khỏi hậu quả của việc phát triển công nghiệp quá mức trong thập kỷ trước gây nên, nó hướng các quốc gia nhỏ khác đi vào “vết xe đổ” với những dự án hào nhoáng.

Tại sao Trung Quốc ngày càng ảnh hưởng rộng?

Có một danh sách dài những quốc gia đang mắc vào chiếc thòng lọng của chiến lược “Một vành đai, một con đường” – với mồi câu là các dòng tín dụng cho vay dễ dãi của Trung Quốc, như Argentina, Namibia, Sri Lanka, Djibouti, Nepal, Campuchia, Myanmar, Indonesia, Hy Lạp, Ý, Úc… Những cái tên xuất hiện trải dài từ tiểu vùng hạ lưu sông Mê Kông, đến khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, châu Phi, thậm chí sang châu Âu.

Mặc cho việc có quá nhiều ví dụ thực tiễn mất đất, mất cảng và tài nguyên đã xảy ra, ngày càng có nhiều quốc gia trở thành một phần của chiến lược “Một vành đai, một con đường”. Những quốc gia này sẵn sàng mời gọi và liên doanh với công ty Trung Quốc để làm dự án cảng biển, đặc khu kinh tế… bất chấp thực tế đang đặt các vùng chiến lược của đất nước trước nguy cơ rơi vào tay Trung Quốc.

Có thể nhận thấy hai yếu tố khiến các quốc gia này tham gia vào sáng kiến “Một vành đai, một con đường” của Trung Quốc. Thứ nhất, các quốc gia nhỏ cần đầu tư cơ sở hạ tầng để phục vụ phát triển nên dễ dàng rơi vào “bẫy” cho vay của Trung Quốc. Thực tế trong danh sách dài các nước thành viên của OBOR, chiếm phần lớn là các quốc gia đang phát triển.

Thứ hai, các chính trị gia và lợi ích nhóm – những người phê duyệt dự án sẵn sàng “đi đêm” với Bắc Kinh để xúc tiến dự án, lợi ích mà những người này nhận được có thể là công ty sân sau tham gia hoặc nhận cổ phần ưu đãi trong công ty liên doanh, hay công ty khác được lập nên dưới sự hậu thuẫn từ Trung Quốc. Thực tiễn tại Myanmar và Campuchia đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp nhà nước liên doanh với công ty Trung Quốc làm đặc khu kinh tế đều có mối quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo Đảng cầm quyền.

Chính vì một số lý do đó đã khiến chất lượng nhà thầu Trung Quốc cũng như các tác động về môi trường, an ninh quốc phòng đã dễ dàng bị bỏ qua tại các dự án liên doanh. Điều phổ biến thường thấy tại các dự án do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận thường là công nghệ máy móc lạc hậu, sử dụng nhân công Trung Quốc, dự án bị thiếu vốn hoặc đội vốn nhiều lần.

xx
https://trithucvn.net/blog/chien-luoc-mot-vanh-dai-mot-con-duong-cua-trung-quoc.html
Chiến lược ‘Một Vành Đai, Một Con Đường’ của Trung Quốc

  • Thứ Năm, 21/06/2018

Quan sát những bước đi trong chính sách của Trung Quốc (TQ), nhiều người sẽ tự hỏi rằng TQ sẽ thực hiện những bước tiếp theo nào và đâu là mục đích cuối cùng.

Bài dưới đây trình bày về chiến lược TQ đang thực hiện, có tên gọi là Chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường”. Sự quan trọng của chiến lược nằm ở chỗ nó ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, và ngoại giao. Và do đó, sự hiểu biết một cách rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam là một điều cần thiết. Nó cần thiết không chỉ ở làm sao giữ được một Việt Nam độc lập, bình đẳng, và hòa bình bên cạnh TQ, mà còn ở làm sao Việt Nam có lợi trong một mối quan hệ với TQ, vì dù muốn dù không Việt Nam không thể tự mình cô lập với TQ.

mot vanh dai mot con duongSơ đồ Chiến lược Một Vành Đai Một Con Đường của Trung Quốc. (Nguồn hình: Xinhua Finance Agency, 2015).

Năm 2013 Trung Quốc phát động chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường – One Belt, One Road (OBOR))” trong nỗ lực vươn lên trở thành một lãnh đạo khu vực châu Á và một cường quốc thế giới.

Chiến lược OBOR hay còn được gọi là “Con Đường Tơ Lụa Mới” là một chiến lược kinh tế và chính trị gồm có hai phần: Một Vành Đai (One Belt) và Một Con Đường (One Road).

Một Vành Đai chỉ “Vành đai Tơ lụa Kinh tế” bắt nguồn từ Tây An băng qua các thành phố lớn gồm Almaty, Bishkek, Samarkand, Tehran, Istanbul, Moscow và Rotterdam trước khi kết thúc ở Venice. Kế hoạch là xây dựng hệ thống đường bộ, đường sắt, và hệ thống ống dẫn dầu khí xuyên Trung Á đến châu Âu.

Một Con Đường chỉ “Con đường Tơ lụa Hàng hải Thế kỉ 21″, bắt nguồn từ Phúc Châu (Fuzhou), kết nối các thành phố ven biển từ Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Kolkata, Nairobi, trước khi kết nối với “Vành đai Tơ lụa Kinh tế” ở Venice. Để chuẩn bị cho việc hình thành «Con đường Tơ lụa Hàng hải», kế hoạch sẽ là xây dựng các hải cảng và các cơ sở hậu cần đường thủy từ Thái Bình Dương sang biển Baltic. Mà ở Việt Nam đó sẽ là việc xây dựng hệ thống đường cao tốc nối các tỉnh phía Nam của Trung Quốc với Hà Nội và các hải cảng phía Bắc, đồng thời nâng cấp hoặc xây mới các hải cảng ở vùng này.

Qui mô của chiến lược được dự đoán ảnh hưởng trực tiếp đến 65 nước và 4,4 tỷ người, nối kết một khu vực địa lý tạo ra 55% tổng sản lượng toàn thế giới, đại diện cho 70% dân số toàn cầu, và chiếm xấp xỉ 75% tổng lượng năng lượng dự trữ đã biết. Dự án dự tính cần khoảng 30 đến 35 năm để hoàn thành.

Mục tiêu

OBOR có sáu mục tiêu chính ở tầm mức thế giới và nội địa.

Trước hết, chiến lược là một phương cách nhằm đối phó với các nỗ lực của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và các đối tác trong việc hình thành nên các hiệp định thương mại nhằm gạt TQ ra khỏi các mạng lưới liên kết đối tác. Cụ thể là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại Tự do xuyên Đại Tây Dương (TTIP). Nếu cả hai hiệp định này được thông qua thì khi đó hàng hóa có giá trị thấp của các nước châu Á sẽ thay thế hàng TQ trong mạng lưới các nước đối tác, trong khi hàng hóa công nghệ cao của Nhật và các nước châu Âu sẽ cạnh tranh hơn hẳn hàng hóa chất lượng cao của TQ. TQ do đó sẽ bị cô lập về kinh tế. Chiến lược OBOR, bằng cách thắt chặt nền kinh tế TQ với nền kinh tế các quốc gia trong mạng lưới OBOR, sẽ khiến các quốc gia khác chia sẻ một định mệnh kinh tế với mình.

Ở khía cạnh thứ hai, chiến lược như là một cố gắng của TQ trong việc kéo các nước châu Á tích hợp và phụ thuộc vào TQ và nền kinh tế của mình nhằm tạo ra một hệ thống quyền lực mới ở Châu Á đặt trọng tâm tại Bắc Kinh như là một cách để đối đầu và làm thất bại chiến lược xoay trục về châu Á của Hoa Kỳ. Đó là một nỗ lực của TQ nhằm gửi ra một thông điệp đến Hoa Kỳ rằng châu Á là của mình.

Một mục đích thứ ba của chiến lược đó là dùng các tiếp cận kinh tế từ hỗ trợ, đầu tư trực tiếp, cho đến xuất khẩu các chính sách phát triển quốc gia đến các nước châu Á trong khu vực như là một cách nhằm giải tỏa đi các tranh chấp biên giới và hàng hải. Các quốc gia có tranh chấp với TQ gồm Ấn Độ với tranh chấp đường biên giới, Việt Nam và Philippines với các tranh chấp về hải đảo. Bằng cách đưa “củ cà rốt” về lợi ích kinh tế tới các đối tác tranh chấp, TQ muốn họ đồng ý trong những đòi hỏi chủ quyền của mình.

Ở mục đích thứ tư, chiến lược, bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, tận dụng các hiệp định sẵn có và gỡ bỏ đi các rào cản thuế quan, cho phép nền kinh tế TQ tích hợp sâu hơn vào các nền kinh tế năng động khác. Nhờ đó giúp cho nền kinh tế TQ tăng xuất khẩu, giải quyết được khả năng sản xuất vốn đã bị dư thừa, và làm chậm lại quá trình đi xuống của nền kinh tế trong khi TQ đang cố gắng cải tổ nền kinh tế từ sản xuất để xuất khẩu sang tăng tiêu dùng nội địa.

Ở mục tiêu thứ năm, chiến lược cũng là một phương thức nhằm cải thiện hố ngăn cách về xã hội và kinh tế giữa các tỉnh duyên hải và nội địa của TQ. Các hành lang của chiến lược OBOR bắt đất từ các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây của TQ. Các kết nối hạ tầng của chiến lược giúp kết nối các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây, nơi vốn có mức lương thấp, với các thị trường mới ở nước ngoài sẽ giúp thúc đẩy một sự dịch chuyển các ngành kinh tế ở các tỉnh duyên hải ngược lên các tỉnh này. Bên cạnh đó, theo mô hình kinh tế đàn sếu bay, sự dịch chuyển đến lượt nó thúc đẩy các kết nối kinh tế mạnh mẽ hơn giữa duyên hải và nội địa, đồng thời tạo đà cho các sự phát triển các sản phẩm có giá trị cao hơn ở các tỉnh duyên hải.

Và cuối cùng, chiến lược đóng vai trò như một cách để giải quyết các thách thức về an ninh ở biên giới phía Tây và các vấn đề về an ninh năng lượng. Việc tích hợp về kinh tế của các tỉnh phía Tây Trung Quốc với hệ thống các chuỗi giá trị của thế giới thông qua các liên kết thương mại với các đối tác láng giềng giúp tăng cường khả năng chống khủng bố, ly khai và cực đoan tôn giáo trong khu vực, đặc biệt là vùng Tân Cương.

Phương thức thực hiện

Để đạt được ba mục tiêu như vậy, chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường” dựa trên ba trụ cột chính. Đầu tiên, chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển các kênh giao dịch thương mại mới.

Thứ hai, chiến lược nhằm tạo ra một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa TQ, các quốc gia và vùng miền khác thông qua các mạng lưới đối tác toàn cầu, mà một trong các phương thức đó là thúc đẩy nhiều hơn các thanh toán trực tiếp bằng đồng Nhân dân tệ, tạo ra các liên kết hợp tác thông qua các tổ chức đa phương mà TQ nắm quyền chi phối như Ngân hàng Đầu tư hạ tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank – AIIB), Ngân hàng Đầu tư mới (New Development Bank), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organisation), và ASEAN+1.

Và thứ ba, chiến lược tập trung vào châu Á như một phần của chính sách ngoại giao láng giềng mới. Bằng cách xây dựng lại mối quan hệ chặt chẽ hơn về kinh tế với các vùng miền dọc theo Con đường Tơ lụa Mới, Bắc Kinh đang cố gắng thắt chặt sự thịnh vượng của khu vực vào mối quan hệ với Trung Quốc nhằm giúp hình thành nên một đế quốc kinh tế có trung tâm đặt tại TQ.

Để thực hiện các dự án này, đặc biệt là các dự án cơ sở hạ tầng, TQ dựa phần lớn vào vai trò của các tập đoàn nhà nước. Để hỗ trợ tài chính cho các dự án, ngoài việc hợp tác với các chính phủ liên quan, các dự án còn có sự hỗ trợ nguồn lực tài chính thông qua ba tổ chức chính là quĩ Silk Road Fund với 40 tỷ đô la Mỹ, Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank — AIIB) với 100 tỷ đô la Mỹ, và Ngân hàng Đầu tư mới (New Development Bank) với 50 tỷ đô la Mỹ.

Nói một cách ngắn gọn, chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường” vừa nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững nền kinh tế trong nước của TQ, vừa thiết lập một hệ thống kinh tế mới nơi TQ đứng giữa chi phối các nền kinh tế của các quốc gia xoay quanh, khiến họ phụ thuộc vào nền kinh tế TQ, vừa để tránh việc Trung Quốc bị cô lập trên trường thương mại thế giới, và cuối cùng, một hệ thống như vậy còn giúp TQ tranh thủ ảnh hưởng để thực hiện các chính sách khác từ chính trị đến ngoại giao như giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay kiến tạo các quan hệ đồng minh.

Tham khảo thêm:

  • “One Belt, One Road (OBOR): China’s regional integration initiative”, Gisela Grieger, European Parliamentary Research Service, July 2016.
  • “One Belt, One Road”: China’s Great Leap Outward, Godement, F., and Kratz A., (eds.), European Council on Foreign Relations (ECFR), June 2015.
  • “China’s Silk Road Strategy”, Chi Lo, The International Economy, Fall 2015.

Theo Blog TS Nguyễn Huy Vũ

xx
https://www.sbtn.tv/bai-hoc-cho-viet-nam-sri-lanka-thieu-no-trung-cong-phai-tra-bang-lanh-tho/
Bài học cho Việt Nam: Sri Lanka thiếu nợ Trung Cộng phải trả bằng lãnh thổBài học cho Việt Nam: Sri Lanka thiếu nợ Trung Cộng phải trả bằng lãnh thổẢnh: SCMP

Hambantota, Sri Lanka – Có thể nói, Srilanka là một bài học rất rõ cho chính quyền CSVN hiện nay về ý đồ chiếm đất của Trung Cộng.

Mỗi khi cựu tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa tìm đến Trung Cộng để hỏi mượn tiền cho dự án xây dựng cảng, Bắc Kinh luôn luôn hào phóng đồng ý, bất chấp nhiều nghiên cứu cho thấy dự án này không khả thi, và nhiều chủ nợ quen thuộc khác của Sri Lanka như Ấn Độ đều đã từ chối cho vay tiền.

Hậu quả tất nhiên là số nợ của Sri Lanka dưới thời Tổng Thống Rajapaksa đã tăng lên nhanh chóng. Sau nhiều năm xây dựng và tái đàm phán với hãng China Harbour Engineering, một trong các hãng quốc doanh lớn nhất của Bắc Kinh, dự án phát triển cảng Hambantota đã thất bại đúng như dự đoán. Với hàng chục ngàn con tàu đi ngang qua trong năm 2012, hải cảng này chỉ thu hút 34 tàu cập cảng.

Ông Rajapaksa đã phải rời vị trí lãnh đạo quốc gia vào năm 2015. Nhưng chính phủ mới của Sri Lanka vẫn không thể trả nổi các khoản nợ mà tổng thống này để lại. Dưới áp lực nặng nề và sau nhiều tháng đàm phán, vào tháng 12 năm ngoái, chính phủ Colombo đã phải đồng ý giao hải cảng và 15,000 acre đất xung quanh cho Trung Cộng trong 99 năm. Việc chuyển giao này giúp Trung Cộng kiểm soát được vùng lãnh thổ nằm cách bờ biển của đối thủ Ấn Độ chỉ vài trăm dặm, và có vị trí chiến lược dọc theo một tuyến đường hàng hải và quân sự quan trọng.

Sự việc này là một trong các ví dụ rõ ràng nhất cho thấy ý đồ của Trung Cộng trong việc sử dụng các khoản cho vay và viện trợ để tạo ảnh hưởng trên toàn thế giới. Đây cũng là bằng chứng cho các cáo buộc rằng sáng kiến Vành đai và Con đường của Tập Cận Bình- một chương trình cho vay và đầu tư toàn cầu- thực chất chỉ là những bẫy nợ nhắm vào những quốc gia nghèo khó và tham nhũng. (Ngô Bảo)

xx
https://trithucvn.net/kinh-te/sri-lanka-nan-nhan-moi-nhat-cua-chien-luoc-ngoai-giao-bay-no-cua-trung-quoc.html
Sập ‘bẫy nợ’: Sri Lanka buộc phải cho Trung Quốc thuê cảng trong 99 năm

  • Thứ Sáu, 01/06/2018

Bắc Kinh đã ký được hợp đồng thuê cảng biển Hambantota của Sri Lanka trong 99 năm. Đây là một điều kiện trong thỏa thuận giảm nợ cho Sri Lanka, khi mà người ta đang nhắc đến Trung Quốc với một khái niệm mới: Chủ nghĩa đế quốc chủ nợ, sau khi Trung Quốc mua dần các cảng biển chiến lược ở Piraeus (Hy Lạp), Darwin (Úc) và Djibouti (châu Phi).

images?q=tbn:ANd9GcRq__VJtIKovAqTqpYcX5KRobqME2ZSuBAQ4DoNi_3ummA-i99FIpY8k7Se

Đối với Bắc Kinh, dự án cảng Hambantota là một bước đệm của sáng kiến ”Vành đai và Con đường”.

Chiến lược ngoại giao bằng “bẫy nợ”

Tháng 12/2017, Sri Lanka không có khả năng chi trả các khoản nợ tích tụ mà họ đã vay từ Trung Quốc, quốc gia này đã buộc phải chính thức bàn giao cảng Hambantota chiến lược của họ cho Trung Quốc tiếp quản.

Đây là bằng chứng về chiến lược ngoại giao bằng “bẫy nợ” cực kỳ lợi hại của Trung Quốc – một nước cờ quan trọng của sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, mà Tập Cận Bình gọi đó là “dự án của thế kỷ” .

Không giống như các khoản cho vay của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), các khoản cho vay của Trung Quốc được đảm bảo bởi các tài sản tự nhiên có tầm quan trọng chiến lược với giá trị dài hạn cao (ngay cả khi các tài nguyên ấy thiếu giá trị kinh tế hiện thời).

Ví dụ, cảng Hambantota chiến lược của Sri Lanka nằm giữa các tuyến thương mại liên kết Ấn Độ Dương với Châu Âu, Châu Phi, và kết nối Trung Đông đến châu Á. Để đổi lấy tài chính và cơ sở hạ tầng mà các quốc gia nghèo hơn cần, Trung Quốc đòi hỏi sự tiếp cận thuận lợi tới tài nguyên thiên nhiên của những nước này, từ tài nguyên khoáng sản cho đến các cảng biển chiến lược.

Sri LancaVị trí cảng Hambantota của Sri Lanca.

>> Những sự kiện nổi bật nhất tại Trung Quốc Đại Lục năm 2017 (Phần 2)

Hơn nữa, trường hợp của Sri Lanka đã minh hoạ rõ rệt về khả năng sử dụng “bẫy nợ” để trói buộc các quốc gia “đối tác” của Bắc Kinh. Thay vì tài trợ hoặc cho vay ưu đãi, Trung Quốc cung cấp các khoản vay lớn liên quan đến dự án theo lãi suất thị trường, với các điều khoản thiếu minh bạch, và thường rất ít hoặc không có đánh giá tác động của dự án đến môi trường và xã hội. Như Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson cho biết gần đây, với sáng kiến Vành đai và Con đường, Trung Quốc đang nhằm hướng đến xác lập “các quy tắc và chuẩn mực riêng của mình.”

Để tăng cường vị thế hơn nữa, Trung Quốc khuyến khích các công ty trong nước đấu thầu mua toàn bộ các cảng biển chiến lược ở bất cứ nơi đâu có thể. Cảng Piraeus là một ví dụ, nằm ở biển Địa Trung Hải, cảng Piraeus của Hy Lạp là cửa ngõ quan trọng của hàng hóa vào châu Âu, năm 2016, nó đã được một công ty Trung Quốc mua lại với giá 436 triệu USD, trở thành một mắt xích “đầu rồng” cho tham vọng vươn vòi đến châu Âu của Bắc Kinh.

Bằng cách sử dụng “mồi câu” tài chính theo cách này, Trung Quốc đã bắn một mũi tên trúng hai đích. Thứ nhất, nó giúp giải quyết tình trạng dư thừa sản xuất trong nước bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài. Thứ hai, nó gia tăng lợi ích chiến lược quốc gia, bao gồm mở rộng ảnh hưởng ngoại giao, tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, thúc đẩy việc sử dụng đồng Nhân dân tệ và đạt được lợi thế tương đối so với các cường quốc khác.

Trung Quốc – một đế quốc chủ nợ kiểu mới

Cách tiếp cận “diều hâu” của Trung Quốc – và sự hả hê khi tiếp quản cảng Hambantota – thật là mỉa mai khi nhìn lại lịch sử. Trong các mối quan hệ với các quốc gia nhỏ hơn như Sri Lanka, Trung Quốc đang diễn lại âm mưu đã từng chống lại chính nước này trong giai đoạn thuộc địa của châu Âu, bắt đầu từ cuộc chiến thuốc phiện vào năm 1839-1860 và kết thúc vào năm 1949, một thời Trung Quốc cay đắng khi nhắc đến “thế kỷ của sự nhục nhã.”

Trung Quốc từng miêu tả việc khôi phục lại chủ quyền đối với Hồng Kông vào năm 1997 – sau hơn một thế kỷ dưới thuộc địa của Anh – là làm chính lại một bất công lịch sử. Tuy nhiên, như sự tiếp quản cảng Hambantota cho thấy, Trung Quốc hiện đang thực hiện chủ nghĩa thực dân mới theo kiểu mà họ đã bị mất Hồng Kông trước đây. Rõ ràng lời hứa của ông Tập Cận Bình về “trẻ hóa đất nước Trung Quốc” là không thể tách rời khỏi sự xâm lấn chủ quyền của các quốc gia nhỏ hơn.

>> Khảo sát Pew: Người dân ở châu Á – Thái Bình Dương xem Trung Quốc là một mối đe dọa

Cũng như các cường quốc của đế quốc châu Âu đã sử dụng ngoại giao tàu chiến để mở rộng thị trường mới và các tiền đồn thuộc địa, Trung Quốc sử dụng nợ chính phủ để “uốn cong” các quốc gia khác theo ý muốn của họ, mà không cần súng ống.

Giống như thuốc phiện người Anh từng xuất khẩu sang Trung Quốc, các khoản cho vay dễ dãi của Trung Quốc cũng là chất gây nghiện. Và bởi vì Trung Quốc chọn các dự án theo chiến lược giá trị dài hạn của họ, do đó, các dự án này có thể mang lại lợi nhuận ngắn hạn không đủ để các nước trả nợ. Điều này cho phép Trung Quốc tăng thêm đòn bẫy nợ, điều có thể sử dụng để buộc nước đi vay phải hoán đổi nợ thành vốn chủ sở hữu, qua đó mở rộng dấu vết toàn cầu của Trung Quốc bằng cách nắm thóp một số lượng ngày càng tăng các quốc gia mang nặng nợ.

Thậm chí các điều khoản của hợp đồng thuê cảng Hambantota trong 99 năm cũng lặp lại những điều mà các đế quốc phương Tây đã từng sử dụng để bắt buộc Trung Quốc cho thuê đất. Vào năm 1898, Anh đã thuê khu Tân Giới (New Territories) của Trung Quốc trong 99 năm, khiến cho vùng địa giới Hồng Kông được nới rộng thêm 90%.

Hiện tại, Trung Quốc cũng đang áp dụng khái niệm thuê 99 năm của đế quốc Anh năm xưa. Thỏa thuận cho Trung Quốc thuê cảng Hambantota đã được thông qua vào mùa hè năm nay, trong đó Trung Quốc cam kết sẽ giảm 1,1 tỷ USD nợ cho chính phủ Sri Lanka.

Vắt kiệt tài nguyên của các quốc gia bị sập “bẫy nợ”

Trước đó vào năm 2015, một công ty Trung Quốc đã ký được hợp đồng thuê 99 năm đối với cảng nước sâu Darwin của Úc – nơi đóng quân của hơn 1.000 thủy quân lục chiến Hoa Kỳ – với giá trị 388 triệu USD (506 đô la Úc).

Tương tự, sau khi cho quốc gia châu Phi Djibouti vay hàng tỷ đô đến mức ngập nợ, Trung Quốc đã thiết lập căn cứ quân sự ở nước ngoài đầu tiên của nước này trong năm 2017. Căn cứ này tuy nhỏ nhưng mang tính chiến lược quan trọng, chỉ cách căn cứ hải quân Mỹ vài km – cơ sở quân sự thường trực duy nhất của Mỹ ở Châu Phi. Bị mắc kẹt trong khủng hoảng nợ, Djibouti không có lựa chọn nào khác ngoài việc cho Trung Quốc thuê đất với mức giá 20 triệu USD/năm. Trung Quốc cũng đã sử dụng “bẫy nợ” đối với Turkmenistan (một quốc gia tại Trung Á) để khai thác khí tự nhiên của nước này thông qua một đường ống dẫn khí mà phần lớn dẫn sang Bắc Kinh.

Một số quốc gia khác như Argentina, Namibia hay Lào đều bị rơi vào “bẫy nợ” của Trung Quốc, buộc những nước này phải đối mặt với những quyết định đau đớn để ngăn chặn tình trạng vỡ nợ. Khoản nợ nần của Kenya với Trung Quốc giờ đây đang đe dọa biến cảng Mombasa tấp nập – cửa ngõ vào Đông Phi – thành một Hambantota khác.

Những kinh nghiệm này nên được nghiêm túc coi như một lời cảnh báo rằng sáng kiến Vành đai và Con đường về cơ bản là một dự án đế quốc nhằm mục đích hoàn thành tham vọng bành trướng hoang đường của Trung Quốc. Các quốc gia bị nô lệ nợ cho Trung Quốc có nguy cơ mất cả tài sản thiên nhiên có giá trị nhất lẫn chủ quyền của họ.

Găng tay gai bọc nhung khổng lồ của đế quốc mới này che giấu một nắm đấm sắt – một thứ với sức mạnh vắt kiệt sức sống ra khỏi các quốc gia nhỏ hơn.

Tác giả: Giáo sư Brahma Chellaney, bản quyền thuộc về Project Syndicate, 2017.
Chân Hồ biên dịch

xx
https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/tai-sao-sri-lanka-nhuong-trung-cong-99-nam/
Tại sao Sri Lanka nhường Trung Cộng 99 năm?

Ngô Nhân Dụng

June 27, 2018

images?q=tbn:ANd9GcRq__VJtIKovAqTqpYcX5KRobqME2ZSuBAQ4DoNi_3ummA-i99FIpY8k7Se

John Adams, người kế vị Tổng Thống George Washington, đã nói: Có hai cách để khuất phục một quốc gia, một là dùng gươm, hai là cho vay nợ. Ở Sri Lanka, Trung Cộng đã dùng nợ để chiếm lấy một hải cảng. Ông tổng thống Mỹ này không biết con cháu Tôn Tử, Khổng Minh còn nhiều cách khác, và họ vẫn còn đang đã thi thố ở Việt Nam.

Khi bênh vực dự luật Đặc Khu nhường quyền cho ngoại quốc 99 năm, một quan chức Cộng Sản nêu thí dụ chính phủ Sri Lanka cũng nhường cho Trung Cộng sử dụng hải cảng Hambantota trong 99 năm; để chứng tỏ việc đây là chuyện bình thường!

Nhưng việc Trung Cộng chiếm được cảng Hambantota rất bất thường! Đồng bào Việt ta nên biết câu chuyện này diễn ra thế nào để khỏi bị hai đảng Cộng Sản đánh lừa!

Câu chuyện bắt đầu với cựu Tổng Thống Mahinda Rajapaksa, được bầu lên năm 2005. Năm 2009, cuộc nội chiến với sắc dân Tamil chấm dứt sau 26 năm đẫm máu. Ông Rajapaksa và ba người em trai chia nhau kiểm soát quyền chi tiêu 80% ngân sách chính phủ. Ông muốn mở mang một hải cảng ở Hambantota, chỉ vì đó là đơn vị của ông, mặc dù hải cảng chính ở thủ đô Colombo gần đó không thiếu chỗ và đang trên đà phát triển mạnh.

Dự án được các chuyên viên kinh tế của chính phủ nghiên cứu, kết luận rằng một hải cảng ở Hambantota không mang ích lợi nào, so với phí tổn. Thêm một chứng cớ, là khi Rajapaksa đi vay tiền các ngân hàng Ấn Độ, họ từ chối. Vì họ tính toán thấy rằng hải cảng đó, trong tương lai sẽ không làm ra đủ tiền để trả nợ.

Nhưng Cộng Sản Trung Quốc sẵn sàng cho vay. Tất nhiên, đối với họ lợi ích kinh tế không quan trọng bằng vị trí chiến lược của địa điểm này. Dùng Hambantota, Trung Cộng có thể khống chế đường giao thương trong Ấn Độ Dương. Đây sẽ là một mắt xích quan trọng trong kế hoạch Một Vòng Đai, Một Con Đường của Tập Cận Bình, về mặt kinh tế cũng như quân sự.

Món nợ đầu tiên, $307 triệu trả lãi suất thay đổi từ 1% đến 2%, trong khi chính phủ Nhật Bản thường cho vay các công trình hạ tầng cơ sở với lãi suất dưới một nửa phần trăm. Món nợ đó kèm theo điều kiện, là Sri Lanka phải để cho một công ty quốc doanh Trung Cộng, China Harbor, lo việc xây dựng, với các công nhân người Tàu. Ông Rajapaksa chấp nhận hết, vì muốn làm gấp để xong trước ngày18 Tháng Mười Một, 2010, là sinh nhật 65 tuổi của ông ta. Ông tới làm lễ khánh thành đúng ngày đó, mặc dù không chiếc tàu lớn nào vô được bến, vì đá ngầm chặn ngoài cửa biển.

Sau khi chi $40 triệu phá đá ngầm, hải cảng Hambantota vẫn vắng khách. Năm 2012, trên con đường hàng hải Ấn Độ Dương với hàng chục ngàn thương thuyền qua lại, chỉ có 34 chiếc tàu ghé Hambantota, trong lúc cảng Colombo có 3,667 chuyến tàu tới bốc dỡ hàng. Hambantota không sinh ra tiền để trả nợ. Ông Rajapaksa lại sang Tàu cầu cứu. Lúc đó các Chú Ba mới đặt điều kiện mới. Món nợ cũ từ nay phải trả lãi suất cố định, 6.3%. Ông Rajapaksa đành chấp nhận vì không một ngân hàng quốc tế nào cho vay, họ biết rằng cái cảng này không có bao nhiêu thương thuyền sử dụng!

Nhưng ông Rajapaksa còn có những kế hoạch khác cho Hambantota, kiểu “xây dựng tượng đài” ở Việt Nam: Làm một sân banh “cricket;” những ngôi nhà chọc trời, một xa lộ, và một phi trường quốc tế. Cho nên, năm 2012, ông Rajapaksa đã xin vay thêm $757 triệu nữa. Hiện nay, cái xa lộ xuyên ngang quận Hambantota rất yên tĩnh; nông dân phơi lúa trên mặt đường, lâu lâu lại có mấy con voi từ trong rừng thủng thẳng băng qua. Còn phi trường chỉ có một hãng máy bay của Dubai thuê dùng hằng ngày, chuyến bay chót chấm dứt hợp đồng trong Tháng Sáu.

Sri Lanka còn phải nhượng bộ thêm, cho phép một công ty China Harbor xây dựng một bến tàu mới tại hải cảng chính của quốc gia, Colombo, với 20,000 mẫu tây đất, mà nước chủ nhà không có quyền can dự việc điều hành trong đó. Năm 2014, khi Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đến thăm thủ đô Colombo, Trung Cộng đã cho một chiếc tàu ngầm tới đậu trên bến cảng, diễu võ dương oai!

Năm 2015, ông Rajapaksa thất cử, sau khi các đảng đối lập tố cáo những phí phạm và nhũng lạm của gia đình ông. Mặc dù trong cuộc tranh cử đó, Rajapaksa đã được Trung Cộng nhiệt liệt ủng hộ. Đại sứ Trung Cộng ở Colombo đi đánh golf còn công khai khuyên mấy người bản xứ hầu hạ nên bỏ phiếu cho Rajapaksa, trái với quy tắc ngoại giao!

Các chứng cớ trong sổ sách ngân hàng cho thấy công ty China Harbor đã góp $7.6 triệu vào quỹ tranh cử chính thức của ông tổng thống. Mười ngày trước khi dân bỏ phiếu, thêm $3.7 triệu đưa cho những người chung quanh ông chi dùng, $678,000 để làm $678,000 áo T-shirts tranh cử, $297,000 mua quà tặng cử tri, như váy saris tặng các bà. Họ còn chi $38,000 cho một nhà sư ủng hộ ông Rajapaksa, chưa kể hai ngân phiếu tổng cộng 1.7 triệu cúng vô chùa của ông sư này.

Hành động này không có gì lạ. Trung Cộng theo kế của John Admas, đã từng bị tố cáo dùng tiền bạc lũng đoạn các nước khác. Bangladesh, chẳng hạn, đã cấm công ty China Harbor bén mảng, sau khi họ bị bắt quả tang hối lộ một quan chức Bộ Giao Thông Vận Tải, với $100,000 tiền mặt, đựng trong một hộp trà. Công ty mẹ của nó, năm 2009, đã bị Ngân Hàng Thế Giới cấm dự thầu trong tám năm vì tội hối lộ ở Philippines.

Chính phủ mới lên thay ông Rajapaksa thừa hưởng những món nợ khổng lồ ông để lại. Họ không thể chui đầu sâu hơn vào trong cái thòng lọng vay nợ mà Trung Cộng móc sẵn trên cổ. Sau hàng năm thương thuyết, Tháng Bảy năm ngoái chính phủ mới phải ký giấy “trừ nợ,” chuyển nhượng hải cảng Hambantota Trung Cộng, biến một tỷ đô la tiền nợ thành 85% cổ phần, Sri Lanka có 15%, để có tiếng vẫn giữ được chút chủ quyền. Công ty Trung Cộng sẽ được làm chủ 6,000 mẫu đất trong 99 năm!

Đó là con số 99 năm mà Cộng Sản Việt Nam đang muốn dành cho các công ty ngoại quốc ở ba đặc khu họ tính tạo ra với dự luật mới.

Sau khi xóa được một tỷ đô la, Sri Lanka vẫn chưa hết nợ Trung Cộng, vì tiền lãi đắp vào chồng chất trên nợ cũ. Trong mười năm cầm quyền, ông Rajapaksa đã tăng gấp ba số nợ nần của quốc gia, lên tới gần $45 tỷ. Rajapaksa phải trả cho Trung Cộng lãi suất cao hơn mức lời các ngân hàng quốc tế khác đòi hỏi. Trong năm 2018, chính phủ Sri Lanka phải trả lãi và vốn đáo hạn $12.3 tỷ trong khi chỉ thu được $14.8 tỷ tiền thuế!

Các nhà quan sát quốc tế đều thấy rằng lý do Trung Cộng lãnh lấy hải cảng Hambantota hoàn toàn là “phi kinh tế;” không thể nào thu lại số tiền trừ nợ một tỷ đô la. Lý do duy nhất là Bắc Kinh muốn chiếm lấy một vị trí chiến lược trong kế hoạch “Nhất Đái Nhất Lộ.” Khi hải cảng được chính thức trao cho Trung Cộng, Tháng Mười Hai năm ngoái, họ đã hoan hô trên mạng Twitter #BeltandRoad, nói rằng đây là một dấu hiệu thành công lớn!

Cựu Ngoại Trưởng Ấn Độ Shivshankar Menon đã nhận xét, lý do duy nhất mà Trung Cộng muốn chiếm hải cảng này là vấn đề an ninh quốc gia. Ngay từ khi cho vay $307 nợ đầu tiên, Trung Cộng đã yêu cầu Sri Lanka phải chia sẻ các tin tức tình báo, về tầu thuyền quốc tế qua lại trong Hambantota. Ông Menon tiên đoán có ngày họ sẽ đem quân tới đóng.

Ông Gotabaya Rajapaksa, người em của cựu tổng thống sẽ ra tranh cử năm 2020. Chắc chắn Trung Cộng sẽ hỗ trợ; với hy vọng sẽ tiếp tục mua bằng tiền. Họ không dùng gươm, súng, và chỉ cho vay nợ cũng cướp đoạt chủ quyền một quốc gia khác.

Chỉ có một hàng rào cản đường xâm lấn của Trung Cộng là những lá phiếu của người dân Sri Lanka. Nếu ý thức được mưu đồ bành trướng của đế quốc Đỏ, dân Sri Lanka sẽ bảo vệ được tổ quốc bằng cách chọn những người lãnh đạo đáng tin cậy hơn.

Dân Việt Nam không có quyền lựa chọn lựa người cầm quyền như vậy! Mà ở nước ta, Trung Cộng cũng không dùng gươm súng hay dùng nợ nần để lũng đoạn.

Từ năm 1959, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tự đặt mình trong bàn tay Cộng Sản Trung Quốc, khi tôn xưng tư tưởng Mao Trạch Đông và áp dụng các chính sách tàn khốc của Trung Cộng.

Năm 1990, Việt Cộng lại đầu hàng một lần nữa ở hội nghị Thành Đô. Trung Cộng có những mánh khóe xâm lăng mà Tổng Thống John Adams thế kỷ 18, 19 không tưởng tượng ra được. (Ngô Nhân Dụng)

xx

https://trithucvn.net/the-gioi/da-tam-va-hiem-hoa-tu-mot-vanh-dai-mot-con-duong-cua-trung-quoc.html
Dã tâm và hiểm họa từ “Một vành đai Một con đường” của Trung Quốc

  • Thứ Bảy, 30/06/2018

Gần đây, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã mở rộng bàn tay đen kiểm soát tự do báo chí tới Úc. Ngòi nổ của vụ việc là trailer phim được phát sóng trên chuyên mục “60 phút” của một kênh truyền hình Úc, đề cập về một báo cáo điều tra liên quan ảnh hưởng ngoại giao, tiền tệ và quân sự của ĐCSTQ ở Nam Thái Bình Dương. Các nhà sản xuất chương trình truyền hình nổi tiếng ở Úc đã tiết lộ, việc sản xuất đoạn phim giới thiệu báo cáo điều tra đã bị quan chức phụ trách thông tin của Cộng sản Trung Quốc trú tại Đại sứ quán Úc đến yêu cầu hủy bỏ.

một vành đai một con đườngTham vọng và nguy hiểm của ĐCSTQ đằng sau “Một vành đai Một con đường”. (Ảnh: Adobe stock)

Hàng chục nước có nguy cơ rơi vào bẫy nợ

Đoạn trailer có cảnh phỏng vấn Malcolm Davis, một nhà phân tích cao cấp về chiến lược và khả năng quốc phòng thuộc Viện Chính sách Chiến lược Úc, ông nhận định rằng ĐCSTQ đã khiến các nước khác nghiện nợ, sau đó thu về hoặc là bến tàu hoặc là hòn đảo nào đó.

Một báo cáo nghiên cứu mới được Trung tâm Phát triển Toàn cầu (Center for Global Development) công bố vào ngày 4/3 chỉ ra, dự án “Một vành đai Một con đường” do ĐCSTQ đưa ra có thể khiến nhiều quốc gia nhỏ rơi vào bẫy nợ, trong đó có 8 quốc gia đặc biệt đáng lo ngại vì nguy cơ “nợ chủ quyền”.

“Nợ chủ quyền” đề cập đến khoản nợ mà một quốc gia vay mượn từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới hoặc các quốc gia khác với tín dụng bảo đảm chính là chủ quyền của nước vay nợ. Các quốc gia này lần lượt là Pakistan, Djibouti, Maldives, Lào, Mông Cổ, Montenegro, Tajikistan và Kyrgyzstan.

Tổng hợp thông tin từ CNBC và CNN cho thấy, báo cáo nghiên cứu này đã chỉ ra trong 68 nước ký kết thỏa thuận tham gia vào “Một vành đai Một con đường” thì đã phát hiện có 23 nước bị nguy cơ thảm họa nợ (debt distress) “rất cao”. Sri Lanka là một trong những quốc gia như vậy. Tháng 12 năm ngoái, đất nước này đã phải bàn giao quyền kiểm soát cảng chiến lược Hambantota của mình cho ĐCSTQ vì không có khả năng thanh toán các khoản nợ.

Vi phạm Công ước Liên hiệp quốc về Chống tham nhũng

Các chuyên gia và học giả đã phân tích rằng trong sáng kiến “Một vành đai Một con đường” của ĐCSTQ ở Trung Á và Đông Nam Á không chỉ xuất khẩu khả năng sản xuất, mà còn chuyển vận cả văn hóa hối lộ rất phổ biến ra ngoài Trung Quốc Đại lục.

Theo CNN, khi dự án “Một vành đai Một con đường” khiến các đối tác không ngừng vay nợ, ĐCSTQ sẽ có cơ hội ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của các quốc gia này, hoặc giành quyền kiểm soát những cơ sở hạ tầng quan trọng. Điều này đã được chứng minh ở một đất nước nhỏ như Sri Lanka.

CNN lấy ví dụ trường hợp ông Hà Chí Bình (Patrick Ho) là Cục trưởng Cục Sự vụ Hồng Kông đã đút lót Tổng thống Tổng thống Cộng hòa Tchad tại Trung Phi, theo đó lên án ĐCSTQ dùng “thủ đoạn bẩn” hối lộ các quan chức cao cấp và thậm chí cả Tổng thống các nước châu Phi, CNN chỉ trích ĐCSTQ chưa bao giờ tuân thủ Công ước Liên hiệp quốc về Chống tham nhũng.

VOA Mỹ dẫn lời một nhà phân tích chỉ ra Bắc Kinh đang đẩy mạnh kế hoạch “Một vành đai Một con đường”, và hiện đang tìm kiếm dự án tại châu Âu và châu Mỹ.

Trước ngày 20/6, Tổng công ty Lưới điện Quốc gia Trung Quốc (SGCC) đã ký thỏa thuận mua 20% cổ phần của 50Hertz, công ty lưới điện khổng lồ của Đức, một lần nữa khiến chính phủ Đức cảm thấy lo ngại. Giới truyền thông Đức đưa tin chính phủ Đức đang cố gắng ngăn chặn SGCC mua thêm những cổ phần khác.

Có nhận định rằng Tổng công ty Lưới điện Quốc gia Trung Quốc đã mua cổ phần mạng lưới điện của một số nước châu Âu khác như Bồ Đào Nha, Italia và Hy Lạp, lần này lại ngắm vào Đức, mục tiêu là để học kinh nghiệm công nghệ năng lượng của Đức, trong vấn đề này cũng có thể liên quan kế hoạch xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng “Một vành đai Một con đường”.

Tại châu Âu, không chỉ Đức giữ cảnh giác đối với SGCC. Hai năm trước, SGCC đã cố gắng mua cổ phần của công ty năng lượng Eandis của Bỉ, công ty này cung cấp 80% lượng điện và khí tự nhiên cho cư dân ở vùng Vlaanderen tại Bỉ. Trong một bản ghi nhớ tại thời điểm đó, cơ quan tình báo Bỉ đã cảnh báo chính phủ Bỉ phải “cực kỳ thận trọng” việc Cộng sản Trung Quốc nỗ lực tham gia vào lưới điện của Bỉ. Cảnh báo của cơ quan tình báo Bỉ cuối cùng đã thành công trong việc ngăn chặn thương vụ này.

Sau khi thất bại ở châu Âu, ĐCSTQ tiếp tục tìm kiếm thị trường ở châu Phi, châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á.

Cuộc cách mạng đầu ra của sáng kiến “Một vành đai Một con đường” mang theo cả thủ đoạn hối lộ của ĐCSTQ đã dấy lên cảnh giác, vì đã có nhiều bài học từ quá khứ. Việc các nước từ chối hợp tác với công ty Trung Quốc vì vấn đề lo lắng lớn nhất là Cộng sản Trung Quốc lợi dụng đầu tư để ràng buộc và thâm nhập vào bộ máy chính trị của các nước khác. Mặc dù các nước này thèm muốn đầu tư của Cộng sản Trung Quốc, nhưng gần đây đã bắt đầu thận trọng, cho thấy nỗi ám ảnh sâu sắc của cộng đồng quốc tế đối với chủ nghĩa cộng sản.

Huệ Anh

xx
http://vi.rfi.fr/chau-a/20180701-sri-lanka-hai-quan-kiem-soat-cang-bien-cho-trung-quoc-thue
Sri Lanka: Hải quân kiểm soát cảng biển cho Trung Quốc thuêMinh AnhĐăng ngày 01-07-2018 Sửa đổi ngày 01-07-2018 11:36
mediaMột cảnh cảng nước sâu Hambantota, Sri Lanka.©LAKRUWAN WANNIARACHCHI / AFP

Chính phủ Sri Lanka ngày 30/06/2018 thông báo cảng biển Hambantota cho Trung Quốc thuê sẽ do hải quân Sri Lanka kiểm soát và Trung Quốc không được phép sử dụng cảng biển này cho các mục đích quân sự.

Văn phòng thủ tướng Sri Lanka còn nêu rõ bộ tư lệnh hải quân phía nam sẽ được dời về cảng biển Hambantota, nằm dọc con đường giao thương hàng hải đông – tây.

Thông báo này được đưa ra trong bối cảnh Ấn Độ quan ngại cảng biển nước sâu này có khả năng mang lại cho quân đội Trung Quốc một vị thế chiến lược chắc chắn tại vùng Ấn Độ Dương.

Tuy nhiên, theo giải thích của AFP, do nợ Trung Quốc đến hàng tỷ đô la vay từ thời cựu tổng thống Mahinda Rajapakse để phát triển cơ sở hạ tầng, cảng biển Hambantota đã bị nhượng quyền khai thác cho Trung Quốc đến 99 năm. Nước này nắm giữ đến 70% cổ phần các hoạt động khai thác cảng biển.

Việc Trung Quốc nắm giữ đến ngần ấy cổ phần của cảng biển Hambantota đã khiến cho Ấn Độ và Hoa Kỳ lo lắng về sáng kiến Một Vành Đai, Một Con Đường. Nhiều nước châu Á nằm trong dự án này đã vay những khoản tiền khổng lồ của Trung Quốc để phát triển cơ sở hạ tầng nhằm phát triển giao thương trên bộ.

AFP nhắc lại, hồi tháng 5/2017, tân chính phủ của tổng thống Maithripala Sirisena đã từ chối cho một tầu ngầm Trung Quốc ghé cảng Colombo, ít lâu sau chuyến thăm Sri Lanka của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi.

xx
https://www.bbc.com/vietnamese/business-44765441
Ông Mahathir sẽ nêu với ông Tập về ba dự án của TQ

Mahathir MohamadBản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionBác sĩ Mahathir Mohamad quay trở lại làm thủ tướng thứ 7 của Liên bang Malaysia

Chính phủ Malaysia cho ngưng ba dự án đầu tư lớn của Trung Quốc nhưng sẽ bàn về chúng khi ông Mahathir Mohamad thăm Bắc Kinh tháng sau.

Theo các báo Đông Nam Á, bác sĩ Mahathir Mohamad gọi đây là “các dự án không công bằng” cho Malaysia, và sẽ nêu vấn đề này khi gặp Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 8.

Theo báo Strait Times ở Singapore, ông Mahathir có động tác đầu tiên sau khi thắng cử trong tháng 5 vừa qua là ra lệnh ngưng (stop-work order) ngay ba dự án của Trung Quốc.

Tổng cộng các dự án bị ngưng lên tới 22,3 tỷ USD, và ông Mahathir có cuộc họp báo tuần qua để nói “tiền lãi suất” của các dự án này cao hơn cả mức chính phủ đi vay.

Bộ Tài chính Malaysia cho biết đó là dự án hỏa xa Bờ Đông (East Coast Railway Link – 20 tỷ USD), và hai đường ống (2,3 tỷ USD).

Cả ba công trình này đều dùng tiền vay của Trung Quốc và do các công ty nhà nước Trung Quốc thực hiện, do chính phủ tiền nhiệm ký kết.

Cựu thủ tướng Najib Razak (đảng UMNO) bị mất chức sau cuộc tổng tuyển cử “đổi chiều gió” đã bị bắt và ngay đang tại ngoại trong thời gian bị điều tra nghi vấn tham nhũng.

Bạn bè và quyền lợi

MalaysiaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionMalaysia là điểm chiến lược trên tuyến đường hàng hải Đông Nam Á thuộc dự án Một Vàng đai một Con đường của TQ

Thủ tướng Mahathir Mohamad, người sắp 93 tuổi, đã có cú trở lại chính trường ngoạn mục nhờ đứng về phe đối lập để chống lại đảng UMNO cũ của ông.

Nhưng tờ The Star của Malaysia cũng nói ông từng được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tôn trọng và gọi là “người bạn già của nhân dân Trung Quốc”.

Năm 2013, khi ông Tập thăm Malaysia ở cương vị Chủ tịch Trung Quốc, ông đã đến nhà riêng thăm ông Mahathir và sự kiện đó được đài báo nhà nước TQ đăng tải rộng rãi.

Mahathir có thể dùng sự khôn ngoan chính trị để xóa đi hình ảnh ‘chống Trung Quốc’ của ông bằng cách hoan nghênh đầu tư Trung Quốc, cùng lúc nhờ ông Tập xem xét lại các dự án của Trung Quốc ở MalaysiaKeith Li

Nhưng khi tranh cử, ông Mahathir, người từng làm thủ tướng Malaysia nhiều năm, đã lớn tiếng chỉ trích các dự án đầu tư của Trung Quốc.

Sau khi thắng cử, ông giảm bớt độ nóng của lời chỉ trích nhưng có sự trông đợi ở Malaysia rằng ông sẽ dùng uy tín cá nhân của mình để thay đổi các dự án Trung Quốc.

Trang The Star trích lời ông Keith Li, Chủ tịch Hội Doanh nhân Trung Quốc tại Malaysia nói “cuộc gặp Mahathir với Chủ tịch Tập sẽ thân thiện”.

“Trong chuyến thăm, Mahathir có thể dùng sự khôn ngoan chính trị để xóa đi hình ảnh ‘chống Trung Quốc’ của ông bằng cách hoan nghênh đầu tư Trung Quốc, cùng lúc nhờ ông Tập xem xét lại các dự án của Trung Quốc ở Malaysia. Cả hai nhà lãnh đạo đều muốn giữ mặt cho nhau nên sẽ hỗ trợ nhau.”

Quan hệ Malaysia-Trung Quốc trong chỉ xoay quanh các dự án xây cất.

Con số du khách Trung Quốc sang Malaysia có thể tăng lên sáu triệu trong năm nay, nếu được Bắc Kinh khuyến khích và nếu Malaysia bỏ visa nhập cảnh cho công dân Trung Quốc.

Trung Quốc hiện còn là khách hàng nhập khẩu dầu cọ lớn nhất từ Malaysia (1,92 triệu tấn năm 2017).

Tuy nhiên, các dự án xây cất khổng lồ của Trung Quốc ở Malaysia bị phe đối lập trong nhiệm kỳ trước phê phán.

Giống các dự án ở Pakistan, Sri Lanka, Myanmar, Campuchia, Việt Nam và Trung Á, chúng thường được vận hành theo mô thức nhận tiền cho vay từ các ngân hàng Trung Quốc.

Bên thi công cũng là các công ty nhà nước của Trung Quốc và họ thường đưa công nhân nhân của mình sang để thực hiện dự án.

Một số công trình đã gây ra tranh cãi, thậm chí phản đối trong dư luận nước sở tại và khiến các nhân vật chính trị bị điều tra, điển hình là trường hợp Sri Lanka.

Báo Mỹ, tờ New York Times nêu cáo buộc rằng trên 7,6 triệu USD được một công ty Trung Quốc chuyển vào chiến dịch tranh cử của nguyên Tổng thống Sri Lanka, Mahinda Rajapaksa, điều ông này và thân nhân bác bỏ.

xx
http://cafef.vn/du-an-nghin-ty-usd-cua-trung-quoc-di-vao-be-tac-20180805172835472.chn
xx
Dự án nghìn tỷ USD của Trung Quốc đi vào bế tắc

05-08-2018 – 20:05 PM | Tài chính quốc tế

Chia sẻ 0

Dự án nghìn tỷ USD của Trung Quốc đi vào bế tắc
Cảnh báo của những người theo chủ nghĩa hoài nghi đang dần trở thành sự thật.

Có thể bạn không chú ý nhưng chính sách ngoại giao kinh tế của Trung Quốc trong thời gian vừa qua không hề tốt. Sáng kiến “Một vành đai, Một con đường” hiện đang phải đối mặt những rào cản ngày càng lớn, và thậm chí đã bị ngưng trệ.

Dấu hiệu rõ ràng nhất của tình trạng này là sự kiện Malaysia tạm dừng các dự án trị giá 22 tỉ USD của Trung Quốc, bao gồm cả hệ thống đường sắt gây tranh cãi dọc bờ biển phía đông của đất nước. Đây dường như là một quyết định không thể thiếu sau cuộc bầu cử tháng năm vừa rồi. Một trong những nội dung chủ chốt trong chiến dịch tranh cử thành công để hạ gục Najib Razak của Thủ tướng Mahathir Mohamad là cáo buộc mối quan hệ thân cận giữa Najib và Trung Quốc đã kéo theo tình trạng tham nhũng và những quyết định tồi tệ.

Trung Quốc “vấp ngã” tại Malaysia chính là những gì những người theo chủ nghĩa hoài nghi đã cảnh báo. Những dự án thường bị trì hoãn và vượt quá chi phí tại các quốc gia ít trung lập. Không chỉ vậy, tình trạng nợ, thâm hụt và dân nhập cư Trung Quốc tăng sẽ gây xung đột chính trị. Ngoài ra, khi một bên huỷ bỏ những dự án này, căng thẳng song phương và đơn phương chắc chắn sẽ xảy ra.

Malaysia là ví dụ điển hình nhất. Về phía bắc, trong một cuộc phỏng vấn với Nikkei trong tuần này, Bộ trưởng Kế hoạch và Tài chính của Myanmar Soe Win cho biết chính phủ Myanmar có thể sẽ yêu cầu giảm diện tích cảng tàu trên Vịnh Bengal. Với Trung Quốc, cảng này vô cùng quan trọng; đây sẽ là con đường ngắn nhất để vận chuyển dầu từ Ấn Độ Dương tới Trung Quốc, tránh các trạm kiểm soát chiến lược trên Eo biển Malacca.

Tại Sri Lanka, sự quá khích trong tài chính Trung Quốc đã đem đến cho quốc gia này một khoản nợ khổng lồ. Tiền thuế quốc gia chỉ đủ để trả tiền lãi, khoảng 11 tỉ USD mỗi năm, cho khoản nợ này. Do đó, chính phủ mới tại Sri Lanka buộc phải trao quyền kiểm soát cảng Hambantota cho Trung Quốc.

Tại Pakistan, Hành lang Kinh tế Trung Quốc-Pakistan vốn đã được thành lập nhằm chống lại sự phụ thuộc vào phương tây. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách tại đây đang suy nghĩ lại. Nhập khẩu máy móc đắt tiền từ Trung Quốc sẽ khiến thâm hụt tài khoản vãng lai tăng vọt. Dự trữ của ngân hàng trung ương Pakistan chỉ đủ để nhập khẩu máy móc trong vài tháng, chưa kể tới khoản vay Trung Quốc gần 4 tỉ USD vào năm ngoái.

Các quan chức Pakistan đã khuyến cáo Trung Quốc nên tiếp tục cho họ vay tiền hoặc họ sẽ hợp tác cùng IMF; điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ phải tiết lộ toàn bộ những điều khoản Trung Quốc đã chấp thuận để xây dựng CPEC. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ sớm nhận ra bài học mà nước Mỹ từng rút ra nhiều năm trước: Pakistan là quốc gia duy nhất trên thế giới đàm phán với một khẩu súng chĩa vào đầu mình.

Khi Vành đai, Con đường được công bố lần đầu tiên, sáng kiến giống như một món quà từ thiên đường đối với nhiều chính phủ đang mong muốn kiếm tiền nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng mà người dân của họ mong muốn. Tuy nhiên, trên thực tế, các khoản đầu tư của Trung Quốc đi kèm những điều kiện nguy hiểm: lãi suất cao hơn, đảm bảo nhập khẩu từ các công ty Trung Quốc và nhập khẩu nhân công. Bên cạnh đó, chính Trung Quốc cũng chưa thực sự sẵn sàng cho những rào cản trong các khoản đầu tư cho các quốc gia với nền chính trị lộn xộn.

Liệu có thể cứu vớt sáng kiến này? Trung Quốc cần giải quyết tình trạng thặng dư vốn. Tuy nhiên, nếu mong muốn đầu tư bền vững, Trung Quốc sẽ phải hành xử cẩn trọng hơn tại các quốc gia đối tác. Không chỉ vậy, Trung Quốc cần hợp tác với vốn địa phương và tôn trọng nền chính trị của các đối tác dù có bất đồng quan điểm. Hay nói các khác, Trung Quốc cần học theo cách hành xử của khu vực tư nhân, và rõ ràng điều này không hề dễ dàng.

“Một vành đai, một con đường” – Tham vọng 1.000 tỷ USD của ông Tập Cận Bình

Quỳnh Mai

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

xx
http://nghiencuuquocte.org/2018/08/09/hop-tac-dia-kinh-te-my-an/
Hợp tác địa kinh tế Mỹ-Ấn trong bối cảnh Sáng kiến Vành đai và Con đường của TQPosted on 09/08/2018 by The Observer

Biên dịch: Trần Quang

Mỹ và Ấn Độ có cơ hội để cùng xác định và triển khai một tầm nhìn địa kinh tế cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương dựa trên các giá trị chung về tính tự do và minh bạch. Tuy nhiên, họ vẫn cần phải vượt qua nhiều trở ngại khó khăn. Những nỗ lực từ Mỹ đều thất thường và đôi khi là thất sách, chẳng hạn như việc rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hơn nữa, lịch sử và danh tiếng của Ấn Độ trong việc làm việc với các thể chế kinh tế đa phương khá hỗn tạp, ít nhất có thể nói như vậy.

Chính trong bối cảnh này, sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc – một chiến lược cơ sở hạ tầng trị giá 1.000 tỷ USD – có tiềm năng định hình lại bối cảnh kinh tế và địa chính trị trong tương lai của vành đai Ấn Độ Dương và khu vực Á-Âu. Cả Washington và New Delhi đều hoài nghi BRI. Tuy nhiên không bên nào có đủ nguồn lực để định hình nó một cách hiệu quả, và chắc chắn không đưa ra được một phương án thay thế thuyết phục. Chỉ bằng cách hợp tác cùng nhau – và với các đối tác chung tư tưởng khác – Mỹ và Ấn Độ mới có thể phát triển một cách ứng phó hiệu quả với BRI, mà sẽ khuyến khích Trung Quốc tuân thủ các chuẩn mực và tiêu chuẩn toàn cầu, hợp tác với Trung Quốc một cách chọn lọc, cạnh tranh mạnh mẽ và khôn ngoan khi cần thiết, tất cả với mục tiêu cuối cùng là củng cố trật tự thế giới dựa trên quy tắc.

Bất chấp một số thất bại đáng chú ý gần đây trong một số dự án BRI, Trung Quốc hiện vẫn tiếp tục sáng kiến này. Cả Mỹ và Ấn Độ đều chưa phát triển một chiến lược chặt chẽ đối với BRI. Nghị trình kết nối khu vực của Chính quyền Obama chỉ là một cách ứng phó rời rạc. Vẫn chưa chắc chắn liệu Chính quyền Trump có biến sự tập trung ngày càng tăng vào BRI thành một chiến lược có hệ thống và đầy đủ nguồn lực hay không. Về phần mình, Ấn Độ chủ yếu coi BRI như là một sự mở rộng của chiến lược bao vây trong dài hạn của Trung Quốc. Họ đã phản ứng bằng cách tăng cường các mối quan hệ với các nước trong khu vực Ấn Độ Dương (IOR) và ở bên ngoài cũng như thúc đẩy các tổ chức khu vực, nhưng những nỗ lực này cho đến nay vẫn mang tính cơ hội hơn là chiến lược.

Để liên kết các cách tiếp cận tương ứng của họ đối với BRI, Mỹ và Ấn Độ cần phải thực hiện một loạt hành động đơn phương, song phương và đa phương như sau:

  • Hình thành một trung tâm phát triển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Mỹ cần phải phát động một sáng kiến liên ngành tập hợp các nhân vật quan trọng, các công cụ và nguồn lực từ các bộ ngành và cơ quan của Mỹ để tập trung vào cơ sở hạ tầng trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.
  • Tăng cường hành lang kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Mỹ cần chuyển đổi sáng kiến này – do Chính quyền Obama đưa ra nhằm thúc đẩy sự kết nối trong khu vực Nam Á và giữa khu vực này với Đông Nam Á – thành một nỗ lực tham vọng hơn do Ấn Độ cùng dẫn dắt.
  • Quảng bá các mô hình tăng trưởng doanh nghiệp. Phối hợp trong bất cứ lĩnh vực nào có thể, Mỹ và Ấn Độ cần khởi động một loạt diễn đàn doanh nghiệp cho các nước trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để cung cấp cho họ một mô hình tăng trưởng bền vững hơn là sự phát triển cơ sở hạ tầng do nợ thúc đẩy có liên quan đến BRI.
  • Xác định Ấn Độ là nước bảo vệ cho trật tự kinh tế dựa trên quy tắc. Mỹ và Ấn Độ cần làm việc cùng nhau để đưa Ấn Độ trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC).
  • Kết hợp các khoản đầu tư chiến lược giữa Mỹ-Ấn Độ-Nhật Bản. Hai nền dân chủ châu Á ở 2 bờ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Mỹ cần phải làm việc cùng nhau để tạo ra một khuôn khổ chiến lược nhằm xác định các khu vực địa lý và các dự án chủ chốt trong khu vực, đảm bảo các khoản đầu tư ưu tiên dựa trên sự kết hợp các tiêu chí về kinh tế, phát triển và quân sự.

Mỹ và Ấn Độ có một sự quan tâm rất lớn khi chứng kiến trật tự dựa trên nguyên tắc mà đã nuôi dưỡng sự ổn định và thịnh vượng toàn cầu trong hơn 7 thập kỷ đang lâm vào khó khăn. Để thúc đẩy mối quan tâm chung này, 2 nước cần kết hợp các cách tiếp cận của họ đối với BRI, tận dụng tất cả công cụ sức mạnh quốc gia để định hình sáng kiến này khi có thể, hợp tác với Trung Quốc khi thích hợp và cạnh tranh khi cần thiết.

Tại sao BRI lại quan trọng

Được Chủ tịch Tập Cận Bình công bố vào mùa Thu năm 2013, kể từ đó cái được biết đến với tên gọi Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (mặc dù đôi khi vẫn được nhắc đến với cái tên “Một vành đai, một con đường”) là một nỗ lực dài hạn của Bắc Kinh nhằm kết nối các khu vực của châu Á, Trung Đông, châu Phi và châu Âu thông qua việc xây dựng cảng, đường ray, đường bộ, đường ống dẫn và các mạng viễn thông, và các loại hình cơ sở hạ tầng khác. Về mặt địa lý, BRI bao gồm các quốc gia chiếm 65% dân số thế giới và 1/3 sản lượng kinh tế thế giới. Trung Quốc có kế hoạch dành 1.000 tỷ USD để hỗ trợ cho sáng kiến này, hiện bao gồm 2 phần chính: một “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” kéo dài từ Đông Nam Á qua Ấn Độ Dương tới biển Địa Trung Hải; và một “Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa” trải dài khắp khu vực Á-Âu với các nhánh kết thúc ở Pakistan, châu Âu và các địa điểm tiềm năng khác nữa. Một “Con đường tơ lụa kỹ thuật số mới” bao phủ cả hành lang trên biển và trên đất liền với cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin liên lạc có thể cuối cùng sẽ trở thành phần chính thứ 3 của BRI.

BRI vô cùng tham vọng. Ngay cả khi nhiều dự án chưa bao giờ được thực hiện đầy đủ hay thất bại, nó vẫn có thể định hình lại bối cảnh kinh tế và địa chính trị của vành đai Ấn Độ Dương và khu vực Á-Âu theo những cách có thể gây ra một thách thức đối với trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc hiện nay. Các hoạt động cho vay của Trung Quốc liên quan đến BRI đôi khi chệch ra khỏi các tiêu chuẩn toàn cầu, chẳng hạn như các thủ tục đầu tư minh bạch phù hợp với pháp trị và các phương hướng cho sự bền vững xã hội và môi trường. Bằng cách cho các nước khác vay ở mức vượt quá khả năng chi trả của họ, Trung Quốc đã tạo ra những chiếc bẫy nợ mà sau đó sẽ biến thành lợi thế đòn bẩy về tài chính và các quan hệ ngoại giao không bình đẳng vĩnh viễn. Điều này đến lượt nó đem lại cho Trung Quốc một cơ hội để tận dụng cơ sở hạ tầng lưỡng dụng được xây dựng nhờ các khoản đầu tư của BRI vào các cơ sở quân sự trong tương lai mà có thể cung cấp một nền tảng triển khai sức mạnh theo những cách vượt ra ngoài việc thực hiện các cuộc sơ tán dân sự và chống cướp biển. Cuối cùng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số gắn liền với BRI có thể góp phần làm xói mòn hơn nữa quyền con người ở các quốc gia quản lý kém.

Mỹ và BRI

Phản ứng của Mỹ trước BRI vẫn liên tục thay đổi. Chính quyền Obama thiếu một quan điểm chặt chẽ về BRI. Cách tiếp cận từng phần của họ đối với việc thúc đẩy kết nối khu vực đã tạo thành một phản ứng thực tế – nếu không muốn nói là hạn chế. Chính quyền Trump đã bày tỏ những quan điểm rõ ràng hơn về BRI, bày tỏ lo ngại về tác động của nó đối với các tiêu chuẩn toàn cầu và khả năng thúc đẩy các lợi ích địa chính trị của Trung Quốc. Tuy nhiên, liệu Chính quyền Trump có biến những quan ngại này thành một cách tiếp cận có tính hệ thống đối với BRI hay không vẫn còn chưa chắc chắn.

Cách tiếp cận từng phần của Chính quyền Obama

Trong nhiệm kỳ của Obama tại Nhà Trắng, BRI chiếm một vị trí thứ yếu trong thứ bậc các vấn đề cấu thành nên chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Các vấn đề khác đã chi phối sự tập trung của Chính quyền Obama vào Bắc Kinh. Trên khía cạnh hợp tác, chính quyền này ưu tiên giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, thúc đẩy phát triển kinh tế toàn cầu, và đảm bảo sự hỗ trợ cho các biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với Iran. Về mặt cạnh tranh, việc đối phó với hoạt động xây dựng và sau đó là quân sự hóa các tiền đồn trên đảo nhân tạo của Bắc Kinh ở Biển Đông đã thu hút sự chú ý của các quan chức cấp cao. Kết quả là, Chính quyền Obama chưa bao giờ chính thức hóa một quan điểm đối với BRI. Dù thế, cam kết của họ trong việc tăng cường kết nối khu vực – như được thể hiện qua nhiều sáng kiến trên khắp Trung Á, Nam Á và Đông Nam Á – và nỗ lực thúc đẩy đầu tư của Mỹ trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã đóng vai trò như một phản ứng thực tế.

Sáng kiến Con đường tơ lụa mới được cho là nỗ lực kết nối đặc trưng của Chính quyền Obama, nhưng với quy mô địa lý khiêm tốn hơn nhiều so với BRI. Quả thực, Sáng kiến Con đường tơ lụa mới được đưa ra trước BRI, và bắt đầu chủ yếu như một nỗ lực nhằm ổn định Afghanistan bằng cách hợp nhất nước này về mặt kinh tế vào khu vực xung quanh thông qua việc tái thiết các kết nối cơ sở hạ tầng vận tải và năng lượng. Trong chừng mức mà Con đường tơ lụa mới có liên quan đến Trung Quốc, đó là một cơ hội cho hợp tác. Công bố sáng kiến này vào năm 2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kêu gọi Trung Quốc bắt tay cùng Mỹ và Ấn Độ để “tạo ra một con đường tơ lụa mới. Không phải một con đường duy nhất như con đường trùng tên trong lịch sử, mà là một chuỗi và mạng lưới quốc tế bao gồm các kết nối kinh tế và quá cảnh”.

Cuối cùng, Sáng kiến Con đường tơ lụa mới đã không thể kích thích nền kinh tế của Afghanistan, và sự quan tâm của Chính quyền Obama trong nỗ lực này đã suy giảm. Sự tập trung của họ ngày càng chuyển sang Nam Á và Đông Nam Á. Lần này, bên cạnh việc theo đuổi các phương án kết nối có thể thúc đẩy sự thịnh vượng và hòa hợp trong khu vực, có một nhận thức rõ ràng về sự cần thiết phải cạnh tranh với tầm ảnh hưởng đang mở rộng của Trung Quốc về kinh tế, bao gồm cả các tác động tiềm tàng của BRI.

Nhận thức này đã củng cố một số sáng kiến mới. Nổi bật nhất là TPP, sáng kiến mà Chính quyền Obama coi như một công cụ quản lý kinh tế mạnh mẽ có thể mở ra các thị trường cho Mỹ trong khi nâng cao các tiêu chuẩn thương mại, lao động và môi trường trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Obama và êkíp chính sách đối ngoại của ông cũng làm rõ nguyên nhân căn bản về địa chính trị: mở rộng tầm ảnh hưởng kinh tế của Mỹ ở châu Á vào thời điểm các mối quan hệ thương mại và đầu tư của Trung Quốc đang ngày càng kéo các nước vào quỹ đạo của họ.

Một số sáng kiến kết nối chủ chốt phần lớn liên quan đến khu vực Đông Nam Á. Năm 2013, Chính quyền Obama đã đưa ra Sáng kiến kết nối Mỹ-ASEAN thông qua thương mại và đầu tư (USACTI). Là một dự án kết hợp giữa Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) và Bộ Ngoại giao Mỹ, USACTI tìm cách giảm bớt các rào cản đối với hội nhập kinh tế của ASEAN trong khi thúc đẩy các ngành công nghiệp mới và trao quyền cho các bên tham gia kinh doanh phi truyền thống. Tháng 8/2015, Chính quyền Obama đã khởi động sự kiện “Chặng đường đổi mới của Mỹ” cho châu Á, với trọng tâm ban đầu là ASEAN. Sự kiện này có sự tham gia của các quan chức kinh tế và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ, nhằm mục đích vừa thể hiện sự ưu tú của Mỹ trong quá trình đổi mới vừa cổ vũ các doanh nghiệp châu Á.

Trong một nỗ lực nhằm kết nối khu vực Nam Á giàu cơ hội với khu vực phía Đông, Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đưa ra một sáng kiến kết nối với tên gọi Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPEC). IPEC tập trung vào 4 mục tiêu chính cho khu vực: tạo ra các liên kết năng lượng mới trong khu vực; cải thiện các hành lang thương mại và vận tải; tinh giản thủ tục hải quan và các vấn đề đi lại qua biên giới; đưa các doanh nghiệp và doanh nhân trong toàn khu vực xích lại gần nhau. Nổi lên song song với BRI, mặc dù không nhằm cạnh tranh với nó, IPEC chưa bao giờ nhận được khoản phân phối kinh phí đáng kể.

Khi Chính quyền Obama gần đi đến kết thúc, mặc dù thiếu một quan điểm chính thức về BRI, Mỹ vẫn thông qua một cách tiếp cận phần nào mang tính cạnh tranh. Tuy nhiên, tính chất đặc biệt của phản ứng của Mỹ cùng với việc Quốc hội không thể phê chuẩn TPP và ứng viên tổng thống từ 2 đảng lớn đều phản đối hiệp định này đã khiến Mỹ trở thành một bên tham gia thứ yếu khi Trung Quốc hành động để biến BRI từ một tầm nhìn trở thành hiện thực.

Sự tập trung ngày càng tăng của Chính quyền Trump

Mặc dù Chính quyền Trump vẫn chưa tiết lộ một cách ứng phó có hệ thống đối với BRI, họ đã làm rõ rằng trong những năm tới, BRI sẽ chiếm một vị trí tương đối nổi bật trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trên khía cạnh cạnh tranh của mối quan hệ này – mặc dù không phải hoàn toàn, như được minh họa bằng sự hiện diện chính thức của Mỹ tại Diễn đàn “Vành đai và Con đường” mới đây nhất của Trung Quốc.

Không giống như những người tiền nhiệm thời Obama của họ, các quan chức cấp cao của Chính quyền Trump đã công khai nói về BRI. Trong phiên điều trần trước Quốc hội, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã thẳng thắn nhận xét: “Trong một thế giới toàn cầu hóa, có nhiều vành đai và nhiều con đường, và không quốc gia nào có thể tự cho mình quyền tuyên bố về ‘một vành đai, một con đường’”. Phát biểu tại Diễn đàn quỹ Hội đồng Đại Tây Dương-Hàn Quốc năm 2017, Ngoại trưởng Mỹ Tillerson đã công khai chỉ trích BRI: “Sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, theo quan điểm của chúng tôi, cần diễn ra trong hệ thống các quy tắc và chuẩn mực quốc tế, và ‘Một vành đai, một con đường’ dường như muốn xác định các quy tắc và chuẩn mực của riêng nó”. Trump vẫn chưa trực tiếp đề cập đến BRI trong các bình luận công khai. Tuy nhiên, trong bài phát biểu của ông tại Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC vào tháng 11/2017, ông đã đưa ra một lời chỉ trích úp mở, kêu gọi các phương án thay thế cho “những sáng kiến do nhà nước điều hành đi kèm với rất nhiều ràng buộc”.

Sự hoài nghi phổ biến bên trong Chính quyền Trump về các ý định của Bắc Kinh cùng với những lo ngại về hệ quả lâu dài của BRI có thể lý giải cho việc vị trí của nó đã được nâng cao trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Về mặt kinh tế, những lo ngại này tập trung vào sự xói mòn của các tiêu chuẩn kinh tế toàn cầu, việc tạo ra một sân chơi không công bằng cho các công ty Mỹ hoạt động tại các khu vực lớn của vành đai Ấn Độ Dương và khu vực Âu-Á, và khoản nợ không bền vững mà các nước nhận đầu tư của BRI đang tích lũy. Về mặt địa chính trị, các mối lo ngại này tập trung vào khả năng Trung Quốc biến ảnh hưởng đòn bẩy về tài chính của họ thành các quan hệ ngoại giao không công bằng vĩnh viễn mà, cùng với cơ sở hạ tầng lưỡng dụng do BRI tạo ra, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng quân sự của Trung Quốc ở nước ngoài. Không có chính quyền nào “vững như bàn thạch”, nhưng cảm nhận chung là BRI có tiềm năng biến phần lớn của thế giới thành một phạm vi lấy Trung Quốc làm trung tâm.

Chính quyền Trump đã bắt đầu hành động theo các mối lo ngại này. Trump đã tuyên bố tại Diễn đàn doanh nghiệp APEC rằng Mỹ sẽ cải tổ lại các thể chế tài chính dành cho phát triển của nước này để tạo động lực mới cho đầu tư vào khu vực tư nhân. Ông cũng kêu gọi các thể chế tài chính quốc tế (IFI) dành nguồn lực lớn hơn nữa cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn. Tuy nhiên, ngay cả nếu các IFI đi theo hướng này, thay đổi cũng sẽ xảy ra chậm do sự trì trệ mang tính tổ chức; và phần lớn sẽ không chấp nhận trở thành công cụ cho Mỹ cạnh tranh với BRI, thay vào đó họ muốn hợp tác với Trung Quốc để định hình sáng kiến này từ bên trong.

Khía cạnh hứa hẹn nhất trong phản ứng đang gia tăng của Chính quyền Trump đối với BRI là sự hợp tác ngày càng tăng với các đồng minh và đối tác. Trong suốt chuyến thăm của tổng thống tới châu Á hồi tháng 11/2017, chính quyền của ông đã tuyên bố rằng Cơ quan đầu tư tư nhân nước ngoài của Mỹ (OPIC) sẽ hợp tác cùng các đối tác Nhật Bản để “mang lại các giải pháp thay thế chất lượng cao về đầu tư cơ sở hạ tầng Mỹ-Nhật trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. BRI dường như cũng là một chủ đề thảo luận trong các cuộc họp cấp cao gần đây với Ấn Độ, cũng như các cuộc đàm phán 4 bên Mỹ-Nhật Bản-Úc-Ấn Độ, được gọi là Bộ tứ. Nhìn chung, Chính quyền Trump dường như có xu hướng phát triển một cách đối phó chiến lược mạnh mẽ đối với BRI. Thực tế, mặc dù không nhắc đích danh BRI, Chiến lược an ninh quốc gia của Chính quyền Trump thừa nhận một sự “cạnh tranh địa chính trị giữa tầm nhìn tự do và hà khắc về trật tự thế giới đang diễn ra ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”, nêu ra vai trò của Trung Quốc trong việc sử dụng các ưu đãi kinh tế và đầu tư cơ sở hạ tầng để theo đuổi các tham vọng địa chính trị của họ. Tuy nhiên, liệu Chính quyền Trump có thể thực hiện đầy đủ một cách ứng phó với BRI hay không vẫn còn chưa chắc chắn, nhất là trong bối cảnh các ưu tiên ngân sách của họ và khuynh hướng chống lại các tổ chức đa phương.

Ấn Độ và BRI

BRI đã làm gia tăng các mối lo ngại của Ấn Độ về sự bao vây của Trung Quốc. Những mối lo ngại này đã có từ trước BRI. Chúng nổi lên từ giữa những năm 2000 trong phản ứng trước sự phát triển cơ sở cảng biển của Bắc Kinh trong IOR – điều mà nhiều nhà quan sát gọi là “chiến lược Chuỗi ngọc trai”. Khi BRI đã củng cố hơn nữa sự hiện diện của Trung Quốc trong IOR, các mối lo ngại của New Delhi tiếp tục gia tăng. Họ đã lần lượt tăng cường quan hệ với các nước trong IOR và xa hơn nữa, và thúc đẩy một tầm nhìn khu vực, mặc dù những nỗ lực đa dạng này vẫn chưa dẫn dến một chiến lược bao quát đối với BRI.

Quan điểm từ New Delhi

Những nỗi lo sợ của Ấn Độ về sự kìm kẹp chiến lược bằng “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc là quá sớm, nếu không muốn nói là bị thổi phồng. Như quan sát từ New Delhi, các yếu tố của BRI đã gây ra một thách thức tức thì trải rộng trên các khía cạnh ngoại giao, kinh tế và quân sự.

Điều này thể hiện rõ ràng nhất qua Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC) với mục đích hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của Pakistan thông qua một loạt dự án vận tải và năng lượng trị giá hơn 60 tỷ USD. Các mối lo ngại của Ấn Độ với CPEC xuất phát từ 2 vấn đề chính. Thứ nhất, các phần của CPEC chạy qua Kashmir, phần lãnh thổ mà cả Pakistan và Ấn Độ đều tuyên bố chủ quyền, điều này có thể làm phức tạp thêm hòa bình và an ninh ở đó. Thứ hai, một trong những dự án chủ đạo của CPEC là phát triển cảng Gwadar. New Delhi vẫn lo ngại rằng Bắc Kinh sẽ có được một chỗ đứng quân sự thông qua Gwadar, nơi nằm ngay phía Tây Ấn Độ Dương.

Sri Lanka là một trọng tâm khác trong các mối lo ngại của Ấn Độ về BRI. Nằm ở trung tâm Ấn Độ Dương, Sri Lanka nằm ở phía Bắc của các tuyến đường biển mà 2/3 lượng dầu của thế giới và nửa số tàu chuyên chở đi qua. Dưới chế độ Rajapaksa tham nhũng, Sri Lanka đã hoan nghênh các khoản vay với lãi suất tương đối cao từ Trung Quốc tài trợ cho việc xây dựng cảng Hambantota và sân bay quốc tế Mattala Rajapaksa. Chính phủ có tư tưởng cải cách hiện nay đã phải vật lộn để thoát khỏi gánh nặng nợ nần nặng nề này với Trung Quốc. Gần như không có lựa chọn nào tốt, Colombo đã ký một hợp đồng cho Trung Quốc thuê cảng phía Nam Hambantota trong 99 năm, thực sự biến khoản nợ này thành một sự hoán đổi vốn cho phép Trung Quốc có được một tài sản chiến lược ở trung tâm Ấn Độ Dương.

Khả năng của Bắc Kinh thúc đẩy BRI nhằm tăng cường sự hiện diện quân sự của họ tại IOR thông qua can dự với các quốc đảo nhỏ hơn cũng đã gây ra lo lắng trong giới tinh hoa về chính sách đối ngoại và an ninh của New Delhi. Khi Trung Quốc tăng cường quan hệ kinh tế với Maldives – nổi bật nhất là việc xây dựng cây cầu hữu nghị Trung Quốc-Maldives – Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã bắt đầu tiến hành các chuyến thăm cảng ở thủ phủ Male. Hơn nữa, Trung Quốc đã sử dụng quốc đảo nhỏ Seychelles như là một tiền đồn để tiếp nhiên liệu và tiếp tế cho PLAN.

Ấn Độ sẽ xem xét bất kỳ cuộc xâm nhập nào của Trung Quốc vào khu vực ngoại vi của họ với thái độ hoài nghi. Cùng với nhau, nhiều người ở New Delhi đã coi BRI là một phần của cuộc cạnh tranh “được mất ngang nhau” với Bắc Kinh để tranh giành quyền lực và tầm ảnh hưởng ở châu Á.

Phản ứng đang nổi lên của Ấn Độ

Thông qua một mối quan hệ đối tác chiến lược đang mở rộng với Nhật Bản, các quan hệ song phương và đa phương được tăng cường với các nước trong IOR, và việc vạch ra một tầm nhìn khu vực, Ấn Độ đã bắt đầu phản ứng với BRI. Phản ứng của họ cho đến nay phần lớn là chống đối, như được thể hiện rõ ràng nhất qua việc New Delhi từ chối tham gia Diễn đàn “Vành đai và Con đường” do Trung Quốc tổ chức vào tháng 5/2017. Tuy nhiên, cách tiếp cận của Ấn Độ với BRI phần lớn vẫn còn nhiều bất cập và mang tính cơ hội hơn là chiến lược.

Một yếu tố chủ chốt trong phản ứng đang nổi lên của Ấn Độ đối với BRI là quan hệ đối tác chiến lược phát triển nhanh với Nhật Bản. Đầu năm 2017, Thủ tướng Ấn Độ Modi và Thủ tướng Nhật Bản Abe đã ký kết hơn một chục hiệp định từ hợp tác an ninh cho đến phát triển cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cải cách của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong một hội nghị thượng đỉnh song phương gần đây, 2 vị thủ tướng đã mạnh mẽ khẳng định lại cam kết của 2 nước đối với một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở – một khái niệm vẫn chưa được xác định nhưng có tiềm năng trở thành một phương án thay thế cho BRI. Ấn Độ và Nhật Bản cũng đã phát động một sáng kiến mới để hội nhập tốt hơn nữa các nền kinh tế quanh IOR, được gọi là Hành lang tăng trưởng Á-Phi (AAGC). Nhìn chung, Ấn Độ và Nhật Bản dường như đã liên kết chặt chẽ về BRI, sự phối hợp giữa 2 nước đã vượt xa sự phối hợp giữa Ấn Độ với bất kỳ nước lớn nào khác, kể cả Mỹ.

Một phần do lo ngại về tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc như là hệ quả của BRI, Ấn Độ cũng đã tăng cường quan hệ với các nước láng giềng Nam Á của mình. Tháng 6/2015, Ấn Độ đã ký Hiệp định về phương tiện xe gắn máy để tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải đường bộ xuyên biên giới với Bangladesh, Bhutan và Nepal. Hơn nữa, Ấn Độ và Bangladesh đã hoàn tất một thỏa thuận ranh giới trên đất liền vào năm 2015, kết thúc nhiều năm tranh chấp lãnh thổ. Cuối cùng, Ấn Độ đã tìm cách quảng bá Sáng kiến Vịnh Bengal cho Hợp tác công nghệ và kinh tế kỹ thuật đa ngành (BIMSTEC), một tập hợp khu vực trong đó Ấn Độ giữ vai trò chi phối do đã loại trừ Pakistan.

Với Sri Lanka, Ấn Độ đã cố gắng sử dụng kết hợp áp lực và khích lệ. Áp lực đã thất bại: Chính phủ Sri Lanka ngập trong nợ nần cuối cùng cũng đồng ý cho Trung Quốc thuê cảng Hambantota trong 99 năm. Tuy nhiên, New Delhi giờ đây dường như đã sẵn sàng ký kết một thỏa thuận với Colombo để nắm cổ phần lớn của sân bay quốc tế Mattala Rajapaksa gần đó, ngăn Trung Quốc sử dụng chiêu trò tương tự, và hạn chế một cách hiệu quả khả năng Hambantota trở thành một căn cứ tương lai cho PLAN.

Một phần để đối phó với BRI, New Delhi đã tìm cách đưa ra một tầm nhìn cho IOR. Modi đã tuyên bố các nguyên tắc dẫn dắt cho việc Ấn Độ can dự với khu vực này trong năm 2015 qua một số chuyến thăm nước ngoài tới một vài quốc đảo nằm rải rác trên Ấn Độ Dương. Ông cũng công bố một tầm nhìn mới cho vai trò của Ấn Độ trong lĩnh vực hàng hải, với tên gọi An ninh và Tăng trưởng cho các bên trong khu vực (SAGAR). Các nguyên tắc do Modi thúc đẩy bao gồm việc duy trì sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh hàng hải; tăng cường các mối quan hệ an ninh với các đối tác khu vực; mở rộng các cơ hội phát triển kinh tế trong khu vực; và quan trọng nhất là hợp tác với các nước lớn khác có lợi ích trong khu vực Ấn Độ Dương, bao gồm cả Mỹ.

Cuối cùng, khi được hỏi liệu Ấn Độ có tham dự Diễn đàn “Vành đai và Con đường” vào tháng 5/2017 hay không, Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra một loạt nguyên tắc để đánh giá những sáng kiến kết nối mà đã tạo nên một sự chỉ trích gián tiếp – nhưng công khai – đối với BRI. Những nguyên tắc này bao gồm “quản trị tốt, sự cai trị của pháp luật, công khai, minh bạch và bình đẳng”, cũng như “trách nhiệm tài chính để tránh các dự án tạo ra gánh nặng nợ nần không bền vững” đồng thời bảo vệ môi trường và chuyển giao kỹ năng tới các cộng đồng địa phương.

Mặc dù New Delhi không đứng yên khi BRI gia tăng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong vành đai Ấn Độ Dương, tập hợp các phản ứng của Ấn Độ hiện nay đã thiếu một chiếu lược chặt chẽ. Việc phác thảo ra một chiến lược táo bạo và dứt khoát đối với BRI trong bối cảnh một tầm nhìn địa kinh tế lớn hơn cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ cho phép Ấn Độ chuyển từ một cách tiếp cận tùy tiện sang một loạt chính sách được liên kết chặt chẽ và chủ động. Cơ hội này hiện nay phục vụ tốt cho ý đồ của Ấn Độ là hợp tác với các nước lớn cùng chung tư tưởng như Mỹ, nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng cùng với các giá trị chung.

Một nghị trình kết nối Mỹ-Ấn cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Mỹ và Ấn Độ có nhiều điều để mất nếu BRI biến đổi cảnh quan kinh tế và địa chính trị của Ấn Độ Dương và khu vực Âu-Á thành một khu vực do Trung Quốc chi phối. Tương tự, 2 bên sẽ đạt được nhiều điều nếu các hoạt động cho vay của Trung Quốc trong khuôn khổ BRI cuối cùng cũng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và những nước đang xem xét các khoản đầu tư của Trung Quốc có các phương án thay thế đáng tin cậy có thể giúp họ tránh bẫy nợ và kéo theo là việc mất chủ quyền. Hơn nữa, Mỹ và Ấn Độ có điểm chung đáng kể trong nhận thức của họ về BRI – mặc dù Washington có xu hướng vừa định hình vừa cạnh tranh hơn, trong khi New Delhi hiện nay ưu tiên một lập trường chủ yếu là phản đối.
Giờ chính là lúc Mỹ và Ấn Độ cần phải kết hợp các cách tiếp cận của họ với việc kết nối ở bất cứ nơi nào có thể trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Các chính sách sau đó – một số là đơn phương, một số song phương và một số đa phương – sẽ phục vụ cho điều này.

Hình thành một trung tâm phát triển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Mỹ cần phải khởi động một sáng kiến liên ngành trong đó tập hợp nhân sự, các công cụ và nguồn lực chủ chốt từ các bộ và cơ quan ban ngành của Mỹ lại với nhau để tập trung vào cơ sở hạ tầng trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Các chính quyền trước đây đã sử dụng các mô hình tương tự, chẳng hạn như Power Africa, tập trung vào việc đem lại quyền tiếp cận năng lượng có thể chấp nhận cho hàng triệu người tại lục địa này, hay Quan hệ đối tác vì tăng trưởng, tập trung vào việc đưa ra một cách tiếp cận huy động toàn bộ chính phủ đối với sự phát triển của một quốc gia duy nhất.

Mỹ có vị trí thuận lợi để lập ra một mô hình rút ra từ những kinh nghiệm này trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. USAID ở Ấn Độ nhiều năm trước đã biến đổi để tạo điều kiện thúc đẩy các đối tác trong khu vực tư nhân và đổi mới bản địa nhằm đem lại một mô hình phát triển mới cho Ấn Độ, một cách tiếp cận có thể được nhân ra trên quy mô lớn hơn. Trên thực tế, khả năng của USAID trong việc tạo điều kiện thúc đẩy khoa học và công nghệ và tăng cường các mô hình cải tiến là chưa từng có trong thế giới đang phát triển, đặc biệt là khi nó bổ trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng cứng với hỗ trợ kỹ thuật. Là một phần của một trung tâm phát triển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Hợp tác thách thức thiên niên kỷ (MCC), xây dựng các hiệp ước hiện có ở Nepal và Sri Lanka, có thể tạo ra một hiệp ước khu vực ưu tiên các dự án cơ sở hạ tầng ở Nam Á. Các cơ quan khác, chẳng hạn như tổ chức Hợp tác đầu tư tư nhân ở nước ngoài (OPIC) và Ngân hàng xuất nhập khẩu (EXIM), những nơi cung cấp các giải pháp tài chính phát triển cạnh tranh, có thể mở rộng để hỗ trợ một cách tiếp cận phát triển tham vọng hơn trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Việc xây dựng một trung tâm phát triển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ cần phải vượt qua các trở ngại về bộ máy quan liêu và giành được sự hỗ trợ của quốc hội cho các nguồn lực mới. Nhưng thách thức ban đầu sẽ là đáng giá, vì nó có thể đóng vai trò yếu tố nền tảng cho cách đối phó của Mỹ đối với BRI.

Tăng cường Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Với Nam Á vẫn là một trong những khu vực hội nhập ít nhất trên thế giới, vẫn còn nhiều cơ hội đáng kể để thúc đẩy kết nối được cải thiện trong khu vực và giữa khu vực này với Đông Nam Á. Hơn nữa, ở những khu vực cụ thể, các khoản đầu tư nhỏ của Mỹ kết hợp với can dự ngoại giao mạnh mẽ có thể mang lại các kết quả rõ ràng trong kết nối kinh tế. Đã đến lúc Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương-Đại Tây Dương được khởi động từ thời Obama phải chuyển từ một nỗ lực do Mỹ dẫn đầu thành một sáng kiến cùng dẫn dắt với Ấn Độ. Không nước nào giành nhiều lợi thế về kinh tế và chiến lược bằng cách tăng cường quan hệ với các nước láng giềng của mình hơn là Ấn Độ. Mỹ không nên tiếp tục gắn chặt với các lĩnh vực trọng tâm ban đầu của IPEC – năng lượng, thương mại và vận tải, hải quan và biên giới, và các mối quan hệ nhân dân. Thay vào đó họ cần phải làm việc cùng Ấn Độ để xác định các lĩnh vực ưu tiên, can dự với các đối tác trong khu vực nhằm xác định các sáng kiến làm thay đổi cục diện, và sau đó hợp tác để tìm ra nguồn lực để thực hiện các dự án cụ thể.

Truyền bá các mô hình tăng trưởng doanh nghiệp. Tháng 11/2017, Mỹ và Ấn Độ đồng tài trợ cho Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp toàn cầu (GES) ở Hyderabad. Lần tập hợp này – được Mỹ triệu tập mỗi năm tại một địa điểm khác nhau – đã thu hút các nhà đầu tư, các doanh nhân, quan chức chính phủ và nhiều nhân vật khác. Mỹ đã đề nghị Ấn Độ đồng tổ chức vào năm 2017 do tiềm năng khổng lồ mà sự đổi mới bản địa của Ấn Độ có được trong việc thay đổi cuộc sống của nhiều người trên một quy mô ngoạn mục. Cả Mỹ lẫn Ấn Độ đều hiểu rằng đối với sự phát triển của một xã hội, quan trọng không kém cơ sở hạ tầng cứng chính là sức mạnh của sự đổi mới thông qua khoa học và công nghệ, các mô hình kinh doanh mới, và các ý tưởng sáng tạo có thể dẫn đến những biến đổi làm thay đổi cục diện xã hội, đặc biệt là đối với những người đang sống dưới đáy của tháp thu nhập.
Tinh thần kinh doanh là một điểm mạnh tương đối của Mỹ và Ấn Độ mà Trung Quốc không thể dễ dàng sánh kịp thông qua BRI. Làm việc đơn phương nếu cần thiết và hợp tác cùng nhau trong bất kỳ lĩnh vực nào có thể, Mỹ và Ấn Độ cần khởi động một loạt diễn đàn doanh nghiệp cho các nước trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để cung cấp cho họ một mô hình tăng trưởng bền vững hơn so với sự phát triển cơ sở hạ tầng do nợ nần thúc đẩy gắn với BRI. Bên cạnh đó, Mỹ và Ấn Độ có cơ hội để thể hiện vai trò lãnh đạo trong khu vực Ấn Độ Dương-Đại Tây Dương trong việc thúc đẩy các cải cách chính sách được chứng minh hỗ trợ cho hệ sinh thái ủng hộ đổi mới, tạo cơ hội cho các quan hệ đối tác thương mại xuyên quốc gia, và xác định cách thức xây dựng năng lực và nuôi dưỡng tài năng tập trung vào tinh thần kinh doanh.

Xác định Ấn Độ là nước bảo vệ cho trật tự kinh tế dựa trên quy tắc. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm duy trì các tiêu chuẩn quốc tế dưới áp lực từ BRI cũng sẽ hiệu quả hơn nếu Ấn Độ trở thành nước đề xướng mạnh mẽ hơn cho trật tự kinh tế dựa trên quy tắc. Một hành động then chốt để giúp Ấn Độ giữ vai trò này sẽ là tư cách thành viên của Ấn Độ trong các nền kinh tế APEC. Ấn Độ cần đưa ra một tuyên bố rõ ràng và thẳng thắn về mong muốn của họ là trung thành với các nguyên tắc của APEC, điều này sẽ giúp xoa dịu những nền kinh tế APEC còn đang hoài nghi cam kết của Ấn Độ. Đến lượt mình, Mỹ cần phải vượt qua những tuyên bố lãnh đạm hoan nghênh sự quan tâm của Ấn Độ với việc gia nhập APEC, và dứt khoát bảo vệ sự tham gia của Ấn Độ trong diễn đàn quan trọng này.

Kết hợp các khoản đầu tư chiến lược của Mỹ-Ấn-Nhật. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản đã tổ chức một số cuộc gặp 3 bên trong vài năm trở lại đây, bao gồm cuộc gặp gần đây vào tháng 9/2017 ở cấp bộ trưởng ngoại giao. Xây dựng trên cơ chế này, 3 nước cần phải hợp tác để tạo ra một khuôn khổ chiến lược nhằm xác định các khu vực địa lý và các dự án chủ chốt trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương mà đảm bảo các khoản đầu tư được ưu tiên dựa trên một sự kết hợp các tiêu chuẩn phát triển kinh tế và quân sự. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản có thể phối hợp can dự với các nhà lãnh đạo chính phủ ở những nước có sự quan tâm đặc biệt về đầu tư. Kết hợp với tầm ảnh hưởng đáng kể của họ trong các thể chế tài chính quốc tế (IFI) từ Ngân hàng thế giới cho đến Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), 3 nước hợp tác cùng nhau có thể mang lại các nguồn lực đáng kể liên quan tới các khoản đầu tư ưu tiên. Điều này sẽ giúp bù đắp phần nào lợi thế về tài chính của Trung Quốc – điều kiện tiên quyết cho thành công của BRI – và cho phép Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản cạnh tranh với Trung Quốc trong phát triển cơ sở hạ tầng nơi nó có tầm quan trọng nhất.

Kết luận

BRI có tiềm năng định hình lại nhiều khu vực lớn của thế giới thành một phạm vi lấy Trung Quốc làm trung tâm. Tiến triển này sẽ báo trước cái kết của trật tự thế giới dựa trên quy tắc đã hỗ trợ cho sự ổn định và thịnh vượng trong hơn 7 thập kỷ. Nhiệm vụ của Mỹ và Ấn Độ là phải hợp tác và thúc đẩy một tầm nhìn địa kinh tế tạo ra sự cân bằng đầy khó khăn giữa việc định hình BRI sao cho phù hợp với các chuẩn mực và tiêu chuẩn hiện thời, lôi kéo Trung Quốc trực tiếp tham gia những lĩnh vực có thể hợp tác, và chống lại các yếu tố của BRI ở những nơi nó trực tiếp thúc đẩy một trật tự kinh tế và an ninh mới của Trung Quốc. Khi Mỹ và Ấn Độ liên kết chặt chẽ hơn, làm việc cùng với các đối tác chung tư tưởng khác, họ có thể đạt được điều này. Đứng riêng rẽ, không bên nào sẽ thành công, và BRI sẽ có khả năng mở ra con đường để sắp xếp lại vành đai Ấn Độ Dương và khu vực Á-Âu.

Daniel M. Kliman là chuyên viên nghiên cứu cao cấp của Chương trình An ninh Châu Á-Thái Bình Dương, Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS). Daniel M. Kliman nguyên là Cố vấn Cao cấp cho Chương trình Hội nhập Châu Á, Bộ Quốc phòng Mỹ. Manpreet S. Anand là giáo sư danh dự tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Cận Đông và Nam Á. Manpreet S. Anand nguyên là vụ trưởng phụ trách Nam Á thời chính quyền Obama. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Bài viết được đăng trên The Asan Forum.

xx
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/lessons-from-chinas-investment-in-other-countries-08162018131106.html
Bài học khi Malaysia muốn hủy các dự án Trung QuốcRFA
2018-08-16

Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc ông Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản VN ông Nguyễn Phú Trọng.Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc ông Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản VN ông Nguyễn Phú Trọng.icon-zoom.png AFP

Malaysia hủy bỏ các dự án Trung Quốc, VN có nên học hỏi?00:00/00:00

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Thủ tướng đương nhiệm Malaysia, ông Mahathir Mohamad, sau khi nhậm chức, tuyên bố sẽ hủy bỏ hai dự án trị giá hàng tỷ đô la do Trung Quốc đầu tư. Lý do nêu ra là ông không muốn Kuala Lumpur mắc thêm nợ. Đây là dự án đường ống dẫn khí và tuyến đường sắt dọc bờ biển miền Đông ở Malaysia được ký kết dưới thời Thủ tướng Najib Razak. Người đứng đầu chính phủ Kuala Lumpur nói rõ ông sẵn sàng chào đón đầu tư từ Hoa Lục với điều kiện đầu tư đó phải có lợi cho Malaysia.

Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ, hiện đang sống ở Na-Uy cho rằng Việt Nam nên học hỏi đường lối cứng rắn với Trung Quốc của tân chính phủ Malaysia:

Tôi nghĩ VN nên có một chính sách kinh tế độc lập với chính mình. Một nền kinh tế phát triển một cách bền vững, ổn định không chỉ là một tương lai phồn thịnh mà còn là một tương lai độc lập cho đất nước mình. Để có sự độc lập, tự do và phồn thịnh đó thì mình không thể phụ thuộc quá lớn vào nền kinh tế của Trung Quốc và không thể nợ họ quá nhiều. Khi mình phụ thuộc vào họ thì mình không độc lập được, và sự thiếu độc lập này sẽ là đòn bẩy để Trung Quốc áp lực với đất nước mình. Họ sẽ gây ảnh hưởng về an ninh, quốc phòng và sự phát triển của đất nước nói chung.

Ông nhận định VN hiện đã đang phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, thể hiện qua nhiều dự án do Bắc Kinh bỏ vốn ra đầu tư. Tuy nhiên, theo ông, các số liệu cho thấy VN đang nợ bao nhiêu và nhận viện trợ bao nhiêu của Trung Quốc không được chính quyền công bố với dân.

Ông cũng cho rằng VN nên rà soát lại các dự án của TQ và đình chỉ các dự án không có hiệu quả về kinh tế và gây ảnh hưởng về an ninh quốc phòng.

Khi mình phụ thuộc vào họ thì mình không độc lập được, và sự thiếu độc lập này sẽ là đòn bẩy để Trung Quốc áp lực với đất nước mình.
– TS. Nguyễn Huy Vũ

Chuyên gia kinh tế, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) phân tích cả hai mặt lợi-hại trong quan hệ kinh tế Việt – Trung:

Trung Quốc vẫn là một thị trường, một đối tác quan trọng trong thương mại, đầu tư với VN. Điều này có những ý nghĩa đóng góp đối với công cuộc xây dựng kinh tế ở VN. Tuy nhiên, TQ cũng như câu chuyện thương mại, đầu tư với các đối tác khác cũng có những vấn đề. Thứ nhất, về thương mại, VN thâm hụt khá lớn với TQ. Điều này liên quan đến cấu trúc nền kinh tế, cấu trúc thương mại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN,…

Về đầu tư, bên cạnh các dự án phát huy các hiệu quả tốt, cũng có những dự án về mặt công nghệ chưa tốt và về mặt môi trường cũng chưa thân thiện.

Năm 2017, Việt Nam đánh dấu mốc vốn đầu tư nước ngoài FDI lớn nhất trong 10 năm, đạt hơn 35 tỷ đô la. Trong tổng số 115 quốc gia rót vốn vào VN, Trung Quốc đứng thứ 4.

Tuy nhiên, nhiều dự án của chủ đầu tư Trung Quốc cho thấy rõ tính không hiệu quả như dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông, hàng loạt các nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm môi trường trong đó có chuỗi nhà máy Vĩnh Tân khét tiếng. Trong số 12 dự án nghìn tỷ thua lỗ của bộ Công thương, có đến 5 dự án liên quan đến yếu tố Trung Quốc. Truyền thông trong nước cũng thừa nhận nhiều dự án lớn hợp tác với Trung Quốc ban đầu thương yên ả nhưng càng về sau càng sóng gió sau mỗi lần bắt tay với Bắc Kinh.

Chuyên gia Nguyễn Huy Vũ nhận định:

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các dự án của Trung Quốc đầu tư vào VN kém hiệu quả về kinh tế và yếu kém cả về kỹ thuật là do tham nhũng. Nhưng chúng ta phải để ý tại sao lại là TQ mà không phải các nước Âu Mỹ, bởi vì ở các nước này chịu sự giám sát của chính quyền nước sở tại nên họ không thể dùng cách đút lót để giành dự án ở VN được. Trong khi các công ty TQ dễ dàng chia phần trăm cho các quan chức để được nhận dự án.

Dự án đường sắt Cát Linh- Hà Đông do Trung Quốc đầu tư.
Dự án đường sắt Cát Linh- Hà Đông do Trung Quốc đầu tư. Courtesy of FB Le Dung Vova
icon-zoom.png

Một bài học khác cho VN được các chuyên gia nêu lên, đó là việc Sri Lanka buộc phải cho Bắc Kinh thuê cảng biển Hambantota trong 99 năm như một điều kiện để TQ giảm nợ cho Sri Lanka. Đây được cho là “bẫy nợ” trong nước cờ sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Bắc Kinh.

Trước đây một số quốc gia khác như Úc, Djibouti, Argentina, Namibia hay Lào đều rơi vào tình trạng tương tự đó là nợ Trung Quốc quá nhiều, phải cho thuê đất trả nợ. Tại quốc gia châu phi Djibouti, vào năm ngoái Bắc Kinh đã cho thiết lập căn cứ quân sự nước ngoài đầu tiên, trên mảnh đất mà Djibouti phải cho thuê để chuộc nợ.

Hiện Myanmar cũng bị cảnh báo có thể trở thành “con nợ” của Trung Quốc khi cho xây cảng biển và khu công nghiệp Kyaukpyu trị giá hàng chục tỷ đô la do Trung Quốc tài trợ.

bên cạnh các dự án phát huy các hiệu quả tốt, cũng có những dự án về mặt công nghệ chưa tốt và về mặt môi trường cũng chưa thân thiện.
-TS. Võ Trí Thành

Đáp lại câu hỏi rằng VN có nên hạn chế nhận đầu tư từ Trung Quốc để tránh những hệ quả về sau không? TS. Võ Trí Thành cho biết:

VN hiện đang trong giai đoạn phát triển nên cần dựa nhiều vào công nghệ tốt hơn, kỹ năng quản lý tốt hơn, hiệu quả và sáng tạo hơn. Vì vậy VN muốn và đang thiết lập quan hệ đối tác với các nước phát triển nhất, xét về khía cạnh công nghệ, kỹ năng quản lý để học hỏi vươn lên.

Thứ hai, trong thế giới hiện nay còn nhiều rủi ro bất định, việc đa dạng hóa thị trường cả về đầu tư và thương mại cũng là một cách để giảm thiểu sự cố khi bất định xảy ra.

Ông cũng nói thêm VN cần cứng rắn giải quyết các vấn đề đang tồn tại với TQ đó là dựa trên luật pháp quốc tế cho các vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Còn về kinh tế, ông cho rằng Việt Nam cần nhấn mạnh với TQ rằng VN vẫn là một đất nước mở cửa, tuy nhiên VN quan tâm đến việc đầu tư của TQ phải đảm bảo gắn với công nghệ tốt, thân thiện với môi trường.

Chuyên gia Nguyễn Huy Vũ cho rằng cách duy nhất để minh bạch mọi dự án nhằm ngăn chặn tham nhũng và thất thoát không chỉ riêng với TQ là phải có dân chủ và có các phe đối lập để giám sát, chất vấn các dự án của chính quyền.

xx
https://trithucvn.net/the-gioi/vi-sao-cac-nuoc-dang-muon-rut-khoi-mot-vanh-dai-mot-con-duong.html

Vì sao các nước đang muốn rút khỏi “Một vành đai, Một con đường”?

  • Thứ Sáu, 24/08/2018 Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chưa bao giờ từ bỏ bất kỳ cơ hội nào để tô vẽ kế hoạch đầu tư toàn cầu “Một vành đai, Một con đường” thành bức tranh tích cực cho tương lai của thế giới. Nhưng thực tế quá trình phát triển của các dự án đã cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác.

Diễn đàn cấp cao về “Một vành đai, Một con đường” tại Bắc Kinh năm 2017 (Ảnh từ Getty Images)

Động cơ kinh tế: Giải tỏa năng lực sản xuất dư thừa của Trung Quốc

Theo Washington Post, vào năm ngoái ĐCSTQ thậm chí đã phát hành đoạn phim quay cảnh những đứa trẻ ca hát cuồng nhiệt vì “Một vành đai, Một con đường”, mục đích để chứng minh rằng ngay cả những đứa trẻ cũng thích thú đối với những dự án cơ sở hạ tầng của Trung Quốc, kiểu tô vẽ phóng đại này khiến nhiều người xem không khỏi cảm thấy “dở khóc dở cười” vì quá lố bịch!

Nhưng ngay chính bản thân ĐCSTQ và nhiều nước được hỗ trợ đầu tư, không phải ai cũng tin rằng “Một vành đai, Một con đường” là kế hoạch vĩ đại. Hôm thứ Ba (ngày 21/8) Malaysia đã công bố, do chi phí cao nên nước này phải hoãn lại hai dự án cơ sở hạ tầng lớn đang được Trung Quốc xây dựng. Động thái này có thể lôi kéo nhiều nhà lãnh đạo của các quốc gia tham gia “Một vành đai, Một con đường” suy nghĩ lại về việc liệu đầu tư của ĐCSTQ có thực sự là một thương vụ tốt hay không.

Chúng ta hiểu, “Một vành đai, Một con đường” không phải thuật ngữ đề cập đến một dự án đơn lẻ nào, mà đó là một loạt các khoản đầu tư tại hơn 60 quốc gia trên toàn thế giới. Mục đích của việc mở ra mạng lưới đầu tư này là nhằm xây dựng mối liên kết tốt hơn giữa ĐCSTQ với các đối tác thương mại. Cụ thể là ĐCSTQ cho những nước tham gia vay một khoản tín dụng lớn để xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm trong nước, và việc xây dựng các dự án này thường do công ty Trung Quốc đảm trách.

Rõ ràng, cách làm này rất có lợi cho ĐCSTQ. Trong ngắn hạn, khi nền kinh tế trong nước Trung Quốc dần bão hòa, ĐCSTQ có cơ hội chuyển giao một phần năng lực công nghiệp dư thừa ra nước ngoài. Về dài hạn, cách làm này trợ giúp các doanh nghiệp của ĐCSTQ ngày càng quốc tế hóa, còn ĐCSTQ thì được đóng một vai trò quan trọng trong cách thức hoạt động của thương mại toàn cầu.

Động cơ chính trị: Bẫy nợ và nguy cơ thành căn cứ quân sự

Bên cạnh đó, “Một vành đai, Một con đường” còn có động cơ chính trị: Tuần trước Lầu Năm Góc công bố báo cáo cho biết ĐCSTQ đang nỗ lực thực hiện mục tiêu “xây dựng ảnh hưởng quan hệ kinh tế với các nước khác để hình thành mối quan hệ lợi ích chung, từ đó bảo đảm những nước liên quan nhất quán với ĐCSTQ trong các kế hoạch, để hạn chế sự đối đầu hoặc chỉ trích ĐCSTQ trong xử lý các vấn đề nhạy cảm”.

Mặc dù vậy, nhiều đối tác nước ngoài vẫn háo hức tham gia vào “Một vành đai, Một con đường”. Lý do chính là so với các khoản vay từ các nước phương Tây, các khoản vay của ĐCSTQ ít bị hạn chế hơn nhiều bởi các yếu tố như nhân quyền và các hệ thống chính trị độc tài.

Tuy nhiên, quyết định của Malaysia cho thấy rằng kế hoạch “Một vành đai, Một con đường” cuối cùng có thể sụp đổ do sự rút lui của các quốc gia khác. Thứ nhất, dự án đầu tư “Một vành đai, Một con đường” đôi khi không có bất cứ ý nghĩa kinh tế nào. Tại Sri Lanka, ĐCSTQ đã cung cấp một khoản vay lớn cho một sân bay được thiết kế để hy vọng đón một triệu hành khách mỗi năm, được xem là sân bay lớn nhất thế giới. Nhưng kết quả là hiện nay trở thành sân bay quốc tế vắng vẻ nhất thế giới. Brook Larmer, một nhà văn tại Bangkok Thái Lan đã viết: “Việc kinh doanh của sân bay ảm đạm đến mức lợi nhuận từ việc cho thuê nơi chứa gạo của sân bay cao hơn công dụng thực tế của sân bay.”

Ngoài ra, một dự án “Một vành đai, Một con đường” khác nằm ở cảng nước sâu của Sri Lanka hiện nay đã rơi vào tay của một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc, do dự án không thể thu hút đủ nguồn kinh doanh để trả nợ khoản vay từ Trung Quốc nên buộc phải cho công ty của ĐCSTQ thuê lại 99 năm.

Những tình huống tương tự có thể lây lan và cuối cùng trở thành một vấn đề lớn hơn: Một nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Toàn cầu (Center for Global Development) công bố hồi tháng Ba chỉ ra, các nước như Djibouti, Kyrgyzstan, Lào, Maldives, Mông Cổ, Montenegro, Pakistan và Tajikistan Stan cũng phải đối mặt với tình huống khó khăn để trả lại khoản vay của ĐCSTQ trong sáng kiến “Một vành đai, Một con đường”.

Một số chuyên gia quan sát chỉ ra, có thể đây chính là âm mưu thực tế của ĐCSTQ chứ không phải là sai lầm kinh tế hay sai lầm đầu tư. Nhiều nhận định cho rằng ĐCSTQ đang thực hiện kế hoạch “ngoại giao nợ” để thống trị các quốc gia nhỏ hơn. Kế hoạch của ĐCSTQ đối với những quốc gia này có thể tiến thêm một bước nữa trong tương lai, khi đó ĐCSTQ có thể sử dụng các khu vực trong “Một vành đai, Một con đường” vào mục đích quân sự.

Huệ Anh

xx
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/chinese-loan-dangerous-08222018123936.html

Vay nợ Trung Quốc rất nguy hiểm, nhưng Việt Nam nợ bao nhiêu?Kính Hòa RFA
2018-08-22

Biểu tình phản đối dự luật ba đặc khu. 10/6/2018.Biểu tình phản đối dự luật ba đặc khu. 10/6/2018.icon-zoom.png AFP

Chinese_Loan.mp300:00/00:00

Phần âm thanhTải xuống âm thanh

Việc Malaysia quyết định hủy hai đại dự án có vay tiền Trung Quốc là tin mới nhất về những nguy hại đối với các quốc gia phải mang nợ Trung Quốc.

Trường hợp thảm hại nhất là Sri Lanka phải giao cảng nước sâu cho Trung Quốc để gán nợ.

Còn Việt Nam thì sao?

Một cơ quan của Chính phủ Việt Nam là Bộ kế hoạch và Đầu tư cũng đã ra tuyên bố chính thức, cảnh báo những bất lợi khi vay tiền của Trung Quốc.

Ngày 15/8/2018, cơ quan này ra một báo cáo cho Thủ tướng, mang tựa đề Thu hút, quản lý và sử dụng vốn vay ODA, ưu đãi nước ngoài 2018 – 2020, tầm nhìn 2025.

Cho đến bây giờ thông tin về việc vay của Trung Quốc gần như là bí mật. Họ không công bố thông tin, mà đáng lẽ họ phải công bố.
-Tiến sĩ Vũ Quang Việt.

Báo cáo này nói rằng lãi suất Việt Nam phải trả khi vay tiền của Trung Quốc, cao hơn vay của các quốc gia khác, thời gian phải trả cũng ngắn hơn.

Bên cạnh đó báo cáo cũng đề cập đến chất lượng của các dự án vay tiền Trung Quốc, dùng kỹ thuật của Trung Quốc, có chất lượng thấp. Báo cáo kết luận rằng cần thận trọng khi vay tiền Trung Quốc.

Nhưng hiện nay Việt Nam nợ Trung Quốc bao nhiêu tiền thì không thấy báo cáo này ghi rõ.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt, một chuyên gia kinh tế hiện sống tại Mỹ cũng đặt ra câu hỏi này, và theo như kết quả nghiên cứu của ông gửi cho chúng tôi, dựa trên những con số công khai thì Việt Nam đang nợ Trung Quốc số tiền trị giá hơn 4 tỉ đô la Mỹ tính cho đến năm 2013. Theo ông con số này có thể thấp hơn nhiều so với thực tế, vì chỉ riêng khoản tiền phát sinh khi thực hiện dự án đường sắt Cát Linh Hà Đông đã là hơn 300 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn sau năm 2013.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nói rằng Việt Nam đã không còn công bố nợ của Việt Nam đối với từng nước từ năm 2011, nhưng đáng lẽ đó là điều cần phải làm:

“Cho đến bây giờ thông tin về việc vay của Trung Quốc gần như là bí mật. Họ không công bố thông tin, mà đáng lẽ họ phải công bố.”

Một điều nữa mà báo cáo về vay vốn phát triển từ Trung Quốc của Bộ kế hoạch và đầu tư không đề cập là vấn đề nhà thầu.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nói tiếp:

“Nếu mà vay của Trung Quốc thì phải dùng nhà thầu của Trung Quốc. Mà dùng nhà thầu Trung Quốc thì họ lại đòi hỏi đem công nhân của họ sang để xây dựng.”

Ông nêu ra ví dụ về kỹ thuật kém của nhà thầu Trung Quốc trong dự án Cát Linh Hà Đông đã đưa đến những thiệt hại vô cùng lớn mà Việt Nam đang gánh chịu.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, từ Hà Nội, cũng chia sẻ nhận định này, ông nói rằng nhà thầu làm dự án Cát Linh Hà Đông chưa bao giờ thực hiện công việc đó. Và điều này là một bài học rất đắt giá.

Một bài học khác khi vay tiền Trung Quốc nữa là vấn đề tham nhũng.

Các dự án vay nợ Trung Quốc đến năm 2013.
Các dự án vay nợ Trung Quốc đến năm 2013. Tiến sĩ Vũ Quang Việt.
icon-zoom.png

Ông Mahathir Mohamad, Thủ tướng đương nhiệm của Malaysia đã công khai nói rằng dự án đường sắt Bờ Đông mà Trung Quốc tài trợ cho nước này đã làm thất thoát một số tiền lớn do tham nhũng.

Ông Nguyễn Huy Vũ, chuyên gia kinh tế, từ Na Uy cho chúng tôi sự so sánh giữa vay tiền các định chế quốc tế và vay tiền Trung Quốc:

Đối với các định chế quốc tế như Quĩ tiền tệ quốc tế, hay Ngân hàng thế giới, thì họ có những tiêu chuẩn rõ ràng khi xét cho vay, sử dụng nguồn vốn vay, họ đòi hỏi có sự minh bạch và giải trình. Tiền đó là tiền thuế của người dân của họ đóng vào, nên họ muốn giúp các nước khác phát triển hiệu quả nhất, hạn chế thất thoát và tham nhũng.

Còn Trung Quốc thì khác, các điều kiện của họ rất là dễ dàng. Họ không đòi hỏi giải trình minh bạch, mà chỉ cần cam kết riêng tư giữa lãnh đạo. Khi Trung Quốc cho vay thì muốn đạt được những mục đích kinh tế và địa chính trị của họ.”

Chính vì sự ràng buộc của các định chế quốc tế khi cho vay đã làm cho một số quốc gia kém phát triển không thấy thoãi mái, mà theo Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, nghiên cứu chính trị tại Singapore, các nước đó xem những ràng buộc đó là một kiểu dạy đời về kinh tế.

Việt Nam có lẽ cũng không là một ngoại lệ khi không còn vay tiền từ Quĩ tiền tệ quốc tế.

Còn Trung Quốc thì khác, các điều kiện của họ rất là dễ dàng. Họ không đòi hỏi giải trình minh bạch, mà chỉ cần cam kết riêng tư giữa lãnh đạo.
-Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ.

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh:

“Hiện nay Việt Nam không còn có tín dụng gì với Quĩ tiền tệ quốc tế nữa. Việt Nam không chấp nhận những điều kiện của họ. Còn vay của Trung Quốc thì Việt Nam cũng thận trọng, chưa vay nhiều, trừ Tập đoàn điện lực quốc gia Việt Nam.”

Tuy nhiên do sự thiếu thông tin, nên sự thận trọng này, cũng như lời cảnh báo của Bộ kế hoạch đầu tư vẫn không làm tan đi những nghi ngờ về những quyết định kinh tế của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ:

Tôi có những cuộc nói chuyện riêng tư với một số quan chức trong chính quyền, nhiều người họ ý thức được chuyện Việt Nam nợ Trung Quốc nhiều, có vấn đề về phát triển. Nhưng có lẽ họ là thiểu số không có quyền quyết định.”

Những nghi ngờ này càng tăng sau khi nhà nước Việt Nam cho công bố dự án ba đặc khu, Vân Đồn, Phú Quốc và Vân Phong, với khả năng là Trung Quốc sẽ đầu tư phát triển rất nhiều vào các đặc khu này.

Bên cạnh việc vay vốn đầu tư phát triển từ Trung Quốc, Việt Nam còn tham gia vào một ngân hàng do Trung Quốc thành lập mang tên Ngân hàng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng châu Á.

Theo những nhà quan sát thì ngân hàng này nằm trong một tham vọng chính trị của Trung Quốc mang tên Vành đai con đường, đưa ảnh hưởng của Trung Quốc xuống Ấn Độ Dương, sang châu Phi, xuyên vùng Trung Á, sang châu Âu, tạo lập nên một trật tự mới, trong đó cường quốc Trung Hoa là trung tâm,.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói với chúng tôi:

“Việt Nam góp 670 triệu đô la Mỹ cho Ngân hàng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng châu Á. Cho đến nay chưa thấy thu xếp một khoản tín dụng nào cả, ít nhất là tôi không biết. Có lẽ điều đó không bình thường đối với Việt Nam, đâu có sẳn vốn sẳn tiền để đưa vào một cái quĩ như thế, mà cho đến bây giờ mình chưa được xu nào, trong khi mình rất cần tiền.”

Tuy nhiên hành động góp vốn này của Việt Nam lại được Tiến sĩ Vũ Quang Việt và Nguyễn Huy Vũ cho rằng chỉ là một việc tượng trưng. Ông Nguyễn Huy Vũ nói:

Việt Nam đang đi dây ngoại giao giữa phương Tây và Trung Quốc, giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, cho nên đó là cái cách Việt Nam làm ngoại giao. Tham gia góp vốn vào ngân hàng đó là để làm hài lòng Trung Quốc là chính.”

Như vậy về mặt ngoại giao và địa chính trị thế giới Việt Nam có lẽ ý thức được sự đe dọa của trật tự mới mà Trung Quốc đang rắp tâm xây dựng.

Nhưng còn những áp lực và nguy hại trong quan hệ kinh tế, trong đó có vay vốn từ Trung Quốc thì sao?

Theo Tiến sĩ Vũ Quang Việt, việc cho ra đời ba đặc khu, và có thể sắp tới đây là khu vực phi thuế quan ở biên giới đã được các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nước thỏa thuận, đã vấp phải sự phản đối từ chính nhiều người trong Đảng Cộng sản, của giới trí thức, và dân chúng, sự phản đối lớn đến mức mà dự án ba đặc khu hiện thời đang được đình lại chờ xem xét.

xxx
http://cafef.vn/cuoc-khung-hoang-tai-tho-nhi-ky-khien-cac-quoc-gia-chau-a-lun-sau-hon-vao-vung-lay-no-nan-cua-sang-kien-vanh-dai-con-duong-20180821173651844.chn
xxx
Cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ khiến các quốc gia châu Á lún sâu hơn vào vũng lầy nợ nần của Sáng kiến Vành đai, Con đường

21-08-2018 – 21:30 PM | Tài chính quốc tế

Chia sẻ 7

Cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ khiến các quốc gia châu Á lún sâu hơn vào vũng lầy nợ nần của Sáng kiến Vành đai, Con đường
Cuộc khủng hoảng tiền tệ của Thổ Nhĩ Kỳ làm những khó khăn tài chính mà các nền kinh tế mới nổi ở châu Á đang phải đối mặt căng thẳng hơn, con nợ lớn cho các dự án cơ sở hạ tầng theo Sáng kiến “Một vành đai, một con đường” (BRI) của Trung Quốc

Việc đồng lira rớt giá mạnh buộc các quốc gia châu Á này phải cân nhắc về việc tăng lãi suất để ổn định đồng nội tệ. Các khoản vay từ Trung Quốc giúp họ chi trả cho những dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng mà họ rất cần để thúc đẩy tăng trường kinh tế. Tuy vậy, phí tổn trả nợ quá cao sẽ làm suy yếu sự ổn định tài chính.

Trung tâm Phát triển Toàn cầu Mỹ cho biết, các quốc gia Lào, quần đảo Maldives, Mông Cổ, Pakistan và 4 quốc gia khác tham gia vào BRI đường đang phải đối mặt với những rủi ro này.

Tại Mông Cổ, các khoản nợ nước ngoài hiện đã cao gấp 8 lần dự trữ ngoại hối của nước này. Nợ nước ngoài của Lào và Kyrgyzstan đã vượt quá 100% GDP.

Các quốc gia có tỷ lệ nợ cao hơn sẽ càng dễ bị tổn thương nếu đồng nội tệ rớt giá đột ngột. Nếu đồng nội tệ của các quốc gia này giảm thì sẽ rất khó để trả hết nợ, số nợ thường được tính bằng USD.

Sự hiện diện ngày càng lớn của Trung Quốc với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ tài chính toàn cầu (global financier) đang dần khiến IMF bị lu mờ.

IMF từ lâu đã đóng vai trò là nhà cho vay cuối cùng. Quỹ này cũng đã góp phần làm dịu cuộc khủng hoảng tiền tệ tại Mexico năm 1994-1995 và tại châu Á năm 1997, cả hai đều bị “châm ngòi” bởi chính sách thắt chặt tiền tệ của Mỹ.

Thế nhưng, không có quốc gia nào hài lòng khi nhận sự hỗ trợ từ IMF, khi họ phải đánh đổi với các biện pháp thắt lưng buộc bụng quá nghiêm ngặt. Việc Trung Quốc hiện đang nổi lên là một nhà cho vay thay thế cho IMF, một số quốc gia nghiễm nhiên quay lưng lại với IMF ngay cả khi hành động đó có nghĩa là họ phải đối mặt với những sự ép buộc không thể lường trước. Thổ Nhĩ Kỳ, “tâm chấn” của cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại, đã kiên quyết không nhận viện trợ từ IMF. Và Pakistan cũng có phản ứng tương tự.

Trước đây, Pakistan thường xuyên nhận viện trợ từ IMF. Tuy nhiên, dưới thời của chính phủ mới do Thủ tướng Imran Khan lãnh đạo, quốc gia này lại có những động thái hoàn toàn khác. Asad Umar, Bộ trường Bộ Tài chính tạm quyền, đã nói việc tìm kiếm một gói cứu trợ của IMF sẽ là “một biện pháp mang tính dự phòng sau khi chúng tôi xem xét những lựa chọn khác”, chẳng hạn như các khoản cho vay tạm thời từ Trung Quốc.

Vào cuối tháng 7, trong khoảng thời gian diễn ra cuộc bầu cử, dự trữ ngoại tệ của Pakistan đã tăng từ 9 tỷ USD lên 10,3 tỷ USD, làm dấy lên những suy đoán rằng Trung Quốc đã “ra tay” viện trợ nước này.

Tuy nhiên, khi Pakistan phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc, kỷ luật tài khoá sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ, làm tăng nguy cơ quá tải bởi nợ đã quá lớn. Nợ nước ngoài của Pakistan đã tăng lên 50% trong vòng 3 năm qua, lên đến gần 100 tỷ USD, trong đó 30% là khoản nợ của Trung Quốc. Và nếu không có kế hoạch cải cách tài chính triệt để, Pakistan sẽ thiếu hụt nguồn tài chính để lưu động trong hai năm tới, với phí tổn trả nợ được dự đoán là sẽ lên tới 50% doanh thu thuế, so với mức hiện tại là 30%.

Một chuyên gia tài chính tại IMF đã chỉ ra rằng, chính quỹ này đã giúp cho khung vay được linh hoạt hơn. Tuy vậy, đối với các thị trường mới nổi, sự hỗ trợ từ Trung Quốc có vẻ sẽ hấp dẫn hơn.

Điều này có nghĩa rằng, khi các nước đang gặp khó khăn tiếp tục “tựa” vào Trung Quốc thì những vấn đề về kết cấu của họ sẽ không được giả quyết và nợ cũng sẽ tiếp tục tăng. Sri Lanka đã phải bàn giao quyền quản lý Cảng Hambantota cho một công ty Trung Quốc. Nếu những động thái như vậy diễn ra thường xuyên thì rất có thể sẽ đe doạ đến cả an ninh quốc gia. Và hiện tại đã có những dấu hiệu về việc này.

Một tuyến đường sắt cao tốc xây dựng tại Lào theo BRI ước tính trị giá 6 tỷ USD, tương đương 40% GDP của nước này. Mặc dù Trung Quốc đang tài trợ khoảng 70% chi phí xây dựng, nhưng Lào cũng nhận những khoản vay từ các ngân hàng Trung Quốc và một số nhà cho vay khác nhằm chi trả cho phần lớn cổ phần. Việc trả nợ chắc chắn sẽ là một gánh nặng đối với nền kinh tế nước này.

Tại Trung Á, Turkmenistan đang “chiến đấu” với một cuộc khủng hoảng thanh khoản và kinh tế do các khoản nợ từ Trung Quốc. Gần đó, Tajikistan cũng đã phải trao quyền phát triển một mỏ vàng cho một công ty Trung Quốc để thay cho việc trả nợ.

Từ trước đến nay, IMF là “nhà cho vay cuối cùng” đối với các quốc gia gặp khó khăn về tài chính. Đổi lại, quỹ này thường yêu cầu các quốc gia phải cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thuế. Còn Trung Quốc sẵn sàng đưa ra các khoản vay mà không có những yêu cầu nghiêm ngặt, thay vào đó chính là sức khoẻ của nền kinh tế cũng như tài chính về lâu về dài của quốc gia đó.

Vì sao khủng hoảng Thổ Nhĩ Kỳ không lây lan ra toàn bộ thị trường mới nổi?

Hương Giang

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

xx
https://baotiengdan.com/2018/08/27/am-thanh-lien-xo-sup-do-dang-vang-trong-vanh-dai-va-con-duong-cua-trung-quoc/

Âm thanh Liên Xô sụp đổ đang vang trong vành đai và con đường của Trung Quốc

Bloomberg

Tác giả: David Fickling

Dịch giả: Lê Văn

12-8-2018

Dồn sức phát triển Siberia giúp châm ngòi cho Liên Xô.sụp đổ. Photographer: Oleg Nikishin/Getty Images

Điều gì khiến cho đế quốc sụp đổ?

Theo một quan điểm có ảnh hưởng, câu hỏi cuối cùng vẫn là về đầu tư. Các cường quốc lớn là các quốc gia khai thác tốt nhất tiềm năng kinh tế của họ để xây dựng sức mạnh quân sự. Khi nó trở nên quá mức thì việc chia nhỏ các chi tiêu để duy trì lợi thế chiến lược sẽ khiến nguồn vốn cho các lảnh vực sản xuất năng động của nền kinh tế bị cắt giảm nó sẽ dẫn đến sự suy vong không thể tránh khỏi.

Đó sẽ là một viễn cảnh đáng lo ngại đối với Trung Quốc, một sức mạnh vĩ đại đang trong giai đoạn tăng trưởng gắn liền với tư thế quân sự ngày càng hung hăng và sự chi tiền chóng mặt cho các láng giềng chiến lược.

Nền cộng hòa của nhân dân

Lực lượng lao động của Trung Quốc được dự đoán sẽ giảm trong năm 2018 – lần đầu tiên sau 5 thập kỷ.

Nguồn: Cục thống kê quốc gia Trung Quốc, Bloomberg

Giống như Liên bang Xô viết trong thập niên 1970, Trung Quốc sắp kết thúc một sự bùng nổ lực lượng lao động lâu dài, và hy vọng rằng sự đầu tư ào ạt sẽ vẫn duy trì sự hấp dẫn trong khi cố gắng ổn định các sự bất ổn ở biên thùỵ.

Sự thành công hay thất bại của dự án Vành đai và Con đường – Belt and Road Initiative BRI – trong khi vẫn có nguồn chi tiêu lớn hơn trong nước – sẽ xác định liệu Trung Quốc có đạt được ước mơ thịnh vượng hay không hay có đủ sức để chống lại các lực lượng như đã làm xụp đổ Liên bang xô viết.

Sự lo lắng thông thường về sáng kiến Vành đai và Con đường – một khung nợ mở cho khoảng 1,5 nghìn tỷ đô la cho các dự án cơ sở hạ tầng trong thập kỷ tới trên khắp Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á đó có phải là bản án dành cho các con nợ của ông chủ nợ hào phóng Bắc kinh?

Một tỷ đây, một tỷ đó

Phần lớn các dự án Vành đai và Con đường chính là ở Malaysia, Nam Á và Đông Dương.

(Nguồn: Chứng khoán Nomura, AIIB, Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan, các báo cáo tin tức, các tính toán của Bloomberg)

Lưu ý: Đông Dương bao gồm Myanmar, Thái Lan, Lào và Cambodia. Chúng tôi đã tách Malaysia ra một cách riêng biệt và không có dự án nào ở Việt Nam đủ lớn để hiển thị trên biểu đồ nàỵ

Các dự án thất bại như cảng Hambantota của Sri Lanka thực sự có thể là một cách để Trung Quốc lặng lẽ mở rộng quyền lực chiến lược trên khắp thế giớị. Nhưng sự phá sản về đầu tư gây ra vấn đề cho các chủ nợ cũng như các con nợ. Nguy cơ đối với Chủ tịch Tập Cận Bình là hệ quả của tất cả những chi tiêu sai lầm đó dần dần làm suy yếu tăng trưởng năng suất hiện có mà Trung Quốc đang xây dựng.

Hãy xem xét một số dự án vẫn còn trên bảng vẽ. Hãy nghĩ rằng giá trị giá 1,6 tỷ USD mà Nomura Holdings Inc. đã đưa vào Hambantota có vẻ quá mức? Sau đó kiểm tra dự án Kyaukpyu tại Myanmar, nơi Tập đoàn Citic – Citic Group Corp. đang dẫn đầu xây dựng một cảng biển sâu 9,6 tỷ đô la và khu công nghiệp để nối với các đường ống dẫn dầu và khí đốt được xây dựng bởi Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc – China National Petroleum Corp.

Chắc chắn có một logic chiến lược ở đây. Trung Quốc thâm nhập vào các thị trường phương Tây nơi tiêu thụ hàng hóa của mình và giao tiếp với các nước Trung Đông nơi mà TQ phụ thuộc vào nguồn năng lượng đều phải đi qua một điểm hẹp ở eo biển Singapore và Malacca là một mối lo âu cho các nhà hoạch định quân sự của TQ. Xây dựng đường sắt và đường ống dẫn đến Ấn Độ Dương sẽ cung cấp một tuyến đường thay thế phòng bị ở phía tây.

Đặt nó vào lăng kính của bạn

Đường ống dẫn khí thường cần phải sử dụng ít nhất một nửa công suất của chúng để được hòa vốn. Đường ống Trung Quốc- Myanmar hầu như chưa đạt được 1/3 một phần ba từ khi mở cửa vào năm 2013.

Nguồn: Tổng cục Hải quan Trung Quốc, Bloomberg, ước tính riêng của Bloomberg. Lưu ý: Dữ liệu hoàn thành sau 12 tháng bắt đầu vào năm 2014, một năm sau khi mở đường ống.

Tuy nhiên, về kinh tế học, ý tưởng đó đã sai lạc. Đường ống dẫn khí đến Kyaukpyu hầu như chưa đạt được 1/3 công suất kể từ khi nó được khánh thành vào năm 2013, và ống dầu song song đó cũng không hoạt động trong nhiều năm cho tới hồi năm ngoái khi lô hàng đầu tiên được bốc dỡ – đó có phải là lợi nhuận khi phải bỏ ra hơn 2.5 tỉ đô vốn đầu tư? Một nhà máy chế biến 260.000 thùng/ngày nằm ở cuối đường ống nầy ở Côn Minh có kích thước bằng nhà máy lọc dầu lớn nhất của Vương quốc Anh sẽ chỉ được chạy dưới công suất trừ khi nhiều dầu thô hơn được chuyển giao đến Kyaukpyụ.

Hoặc lấy mạng lưới các dự án đường sắt xuyên qua Trung Á, tạo thành một bản đồ trung tâm của hầu hết các dự án Vành đai và Con đường. Như chúng tôi đã lập luận trước đây, các kế hoạch như vậy đã hiểu sai về cả lịch sử lâu dài lẫn về kinh tế cơ bản của thương mại Đông-Tây, vốn phụ thuộc nhiều vào vận tải biển qua Đông Nam Á, Ấn Độ và Bán đảo Ả Rập cùng vùng thảo nguyên Eurasian.

Đi về phía Tây – Những người trẻ

Các dự án vành đai và Con đường ngoài khơi châu Á ở Indonesia, Philippines và Sri Lanka chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số.

Nguồn: Chứng khoán Nomura; AIIB; Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan. Cách tính toán của Bloomberg. Lưu ý: Không có kế toán dứt khoát của các dự án Vành đai và Đường bộ, hoặc các dự án được xác định thuộc về vành đai phát triển.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các dự án ở cấp quốc gia mặc dù cảng Kyaukpyu của Myanmar có thể được coi là một phần của Maritime Silkroad chứ không phải là vành đai Trung Quốc – Đông Dương.

Những bất lợi của giao thông đường bộ ngày càng tăng bởi sự có mặt của các tàu container khổng lồ có khả năng mang gần 1 tỷ USD hàng hóa cùng một lúc và nhiều qui định và tiêu chuẩn vận hành đường sắt khác nhau trên khắp châu Á đòi hỏi chi phí cao và tốn thời gian.

Giá trị vận chuyển hàng hóa giữa châu Âu và Yiwu, một trung tâm đường sắt cao tốc lớn gần Thượng Hải, đạt 2,27 tỷ nhân dân tệ (330 triệu USD) trong bốn tháng đầu năm nay, theo China Railway Express Co. Nó chỉ bằng (⅓) một phần ba tổng số của một chiếc tàu tải khổng lồ cùng hằng trăm các tàu nhỏ hơn đang chạy dồn dập trên tuyến đông tâỵ Bốn cảng hàng đầu của Trung Quốc một mình có thể bốc dỡ cho cùng một giá trị lô hàng cứ mỗi ba giờ.

Tôi phải đi biển

Phần lớn giao dịch của Trung Quốc với châu Âu là bằng đường biển và hàng không. Các tuyến đường bộ không thắng nổi nó.

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Lưu ý: Dữ liệu năm 2016

Tất cả những chi tiêu sai lầm này đáng được xem xét trong bối cảnh của sự suy xụp của Liên Xô trước đâỵ. Vào khoảng thập kỷ giữa thế kỷ 20 (1950) Moscow đã cố đạt được một phép lạ kinh tế theo phong cách Trung Quốc hiện nay khiến nhiều người ở phương Tây sợ rằng họ sẽ bị vượt qua. Trong những năm 1950, nền kinh tế Liên Xô tăng nhanh hơn bất kỳ quốc gia lớn nào khác trừ ra Nhật Bản.

Có nhiều lý do khiến con đường phát triển này bắt đầu khựng lại vào những năm 1970, bao gồm cả sự cứng nhắc của một nền kinh tế kế hoạch, một khối lượng lớn trong lao động công nghiệp, và số tiền khổng lồ dành cho chi tiêu quân sự trong chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, thật khó để hiểu tại sao năng suất của Liên Xô bị suy giảm mà không chú ý đến sáng kiến Vành đai và Con đường của chính nó lúc đó, đó là kế hoạch phát triển Siberia.

Từ những năm 1960, Siberia hút khoảng một phần ba thiết bị xây dựng hạng nặng của Liên Xô mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ dân số của đất nước, khi Moscow bơm vốn để phát triển các mỏ khí, mỏ than, nhà máy nhôm và một bản sao của Đường sắt xuyên Siberia, Trans-Siberia railway, vài trăm cây số về phía bắc.

Thời điểm khó khăn

Sản lượng tụt giảm trong dầu, than và thép trong những năm 1970 và 1980 đã làm giảm hiệu năng sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Liên Xô

Nguồn: Allen, Robert C., “Sự trỗi dậy và suy giảm của nền kinh tế Liên Xô”, 2001.

“Kế hoạch phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên Siberia đã ăn mất đi một khoản tiền lớn của các khoản đầu tư đồng Rúp”, nhà kinh tế Robert C. Allen viết trong một bài báo năm 2001, nó làm đổi hướng chi tiêu từ các dự án hấp dẫn hơn ở phía tây của rặng Urals và cuối cùng làm xói mòn năng suất của toàn nền kinh tế “Các nguồn tài nguyên thiên nhiên “phong phú”của Liên Xô đã trở thành một tai họa” ông viết. “Phát triển tài nguyên đã nuốt chửng phần lớn ngân sách đầu tư nhưng chỉ tăng được ít GDP”.

Có thể một cái gì đó tương tự đang xảy ra ở Trung Quốc? Giống như các mối quan tâm chiến lược của Liên xô nhằm chống đở rìa đông (Ðông Âu), thì nay Bắc Kinh đang lo ngại về chủ nghĩa ly khai ở phía tây đã khiến các dự án về vốn tăng vọt trong những năm gần đây, bên cạnh đó các dự án Vành đai và Con đường trông giống như chóp đỉnh của tảng băng.

Tinh giản lại

Tỷ lệ hình thành vốn cố định của Trung Quốc đến các khu vực miền đông sản xuất cao nhất của nó đã giảm trong một thập kỷ.

Nguồn: Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, Bloomberg. Cách tính toán của Bloomberg

Tây Trung Quốc chiếm khoảng 19.5 phần trăm của sự hình thành vốn cố định của đất nước trong năm 2016, so với 15.4 phần trăm ở các thành phố năng động Cấp 1 và tỉnh Quảng Đông. Các vùng kém phát triển ở miền Trung, Bắc và miền Tây Trung Quốc đã nuốt chửng phần lớn vốn cố định từ năm 2007, theo số liệu chính thức.

Điều đó cũng phù hợp với sự kết thúc của phép màu năng suất của Trung Quốc. Chi phí lao động đơn vị đã tăng nhanh hơn mức tăng trưởng của năng suất kể từ năm 2008, có nghĩa là nền kinh tế đang phát triển ít hơn và ít cạnh tranh hơn theo thời gian, và theo một báo cáo vào tháng trước bởi Hội đồng quản trị, một nhóm nghiên cứụ cho biết Khoảng 90% lợi thế về chi phí lao động đơn vị của Trung Quốc so với Hoa Kỳ trong năm 2016 được giải thích là bắt nguồn từ các hiệu ứng tiền tệ (ghi thêm, chủ động giảm giá trị đồng Nguyên để nhằm giảm giá thành sản phẩm), nhà kinh tế Siqi Zhou đã viết.

Nỗi lo của Trung Quốc về các vùng phía tây đang có nhiều tác động đáng lo ngạị So với hàng trăm ngàn người Uighur đã bịbắt đưa vào các trại tập trung cải tạo và hàng triệu người đang bị giám sát liên tục ở tỉnh Tân Cương, làm lãng phí vốn vào các dự án có hiệu năng lớn có vẻ như là một vấn đề nhỏ.

Nó không phải vậy. Ở một đất nước mà dữ liệu kinh tế đáng tin cậy là rất ít và số lượng người trong lực lượng sản xuất thực, hiện đang ở mức tuyệt đối suy giảm, cùng với số lượng các khoản đầu tư lãng phí kém hiệu quả đang hình thành nguy cơ xói mòn nền tảng tăng trưởng.

Sự phát triển của Trung Quốc trong thế kỷ này được thúc đẩy bởi sự bám chặt vào thương mại thế giới và các tỉnh ven biển miền đông được coi như là các tác nhân chính. Cuộc chuyển binh vào lục địa rìa tây, nó đang gieo giống cho sự suy tàn.

xxx
http://cafef.vn/trung-quoc-mo-dot-quang-ba-manh-ve-sang-kien-vanh-dai-va-con-duong-20180829075213185.chn
xx
Trung Quốc mở đợt quảng bá mạnh về sáng kiến Vành đai và Con đường

29-08-2018 – 11:31 AM | Tài chính quốc tế

Chia sẻ 1

Trung Quốc mở đợt quảng bá mạnh về sáng kiến Vành đai và Con đườngPoster quảng cáo cho sáng kiến Vành đai và Con đường tại một sự kiện ở Bắc Kinh – Ảnh: AP/SCMP.

Đợt quảng bá được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Chính phủ Malaysia hủy ba dự án trị giá nhiều tỷ USD do Bắc Kinh hỗ trợ…

Truyền thông nhà nước Trung Quốc đang mở một đợt quảng bá mạnh về sáng kiến Vành đai và Con đường (One Belt, One Road) của nước này, chỉ vài ngày sau khi Chính phủ Malaysia hủy ba dự án trị giá nhiều tỷ USD do Bắc Kinh hậu thuẫn.

Trong một bài viết lớn đăng hôm Chủ nhật, hãng thông tấn Tân Hoa Xã nói sáng kiến Vành đai và Con đường đã được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi, đồng thời miêu tả đây là một sáng kiến sẽ giúp “hợp nhất giấc mơ của mỗi quốc gia và người dân của nước đó”.

Được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cần Bình khởi xướng cách đây 5 năm, Vành đai và Con đường là một chuỗi lớn các dự án hạ tầng kết nối từ châu Á sang châu Âu và tới châu Phi.

“Sáng kiến Vành đai và Con đường khởi nguồn từ Trung Quốc, nhưng thuộc về thế giới”, bài báo viết. “Trong 5 năm qua, sáng kiến đã chuyển từ đề xuất thành hành động cụ thể, biến các ý tưởng thành thực tiễn, và ngày nay đã trở thành nền tảng hợp tác quốc tế lớn nhất, và là sản phẩm của khu vực nhà nước được quốc tế ủng hộ nhiều nhất”.

Ngoài ra, Tân Hoa Xã còn có một bài bình luận nói về “sự công nhận rộng rãi rằng sáng kiến Vành đai và Con đường đã thắp sáng ước mơ của hàng triệu người”. Một bài viết khác của hãng thông tấn này ca ngợi việc mở rộng dịch vụ đường sắt giữa Trung Quốc và châu Âu là một “đoàn lạc đà bằng sắt thép” trên con đường tơ lụa.

Những bài viết này được truyền thông Trung Quốc đăng tải sau khi Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad tuần trước tuyên bố hủy dự án đường sắt East Coast Rail Link trị giá 20 tỷ USD và dự án hai đường ống dẫn nhiên liệu trị giá 2 tỷ USD. Đây đều là các dự án do Trung Quốc cấp vốn và xây dựng trong khuôn khổ sáng kiến Vành đai và Con đường, bị Malaysia hủy với lý do nhằm hạn chế vay nợ.

Quyết định hủy các dự án trên được ông Mahathir đưa ra ngay trước khi có chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên kể từ khi nhậm chức Thủ tướng Malaysia hồi tháng 5.

Việc hủy các dự án trên còn diễn ra trong bối cảnh có những lo ngại gia tăng về việc Bắc Kinh dùng sáng kiến Vành đai và Con đường để gia tăng ảnh hưởng tại các quốc gia tham gia sáng kiến.

Những mối lo về “ngoại giao bẫy nợ” ngày càng lớn sau khi Sri Lanka vào tháng 12 năm ngoái mất quyền kiểm soát một cảng biển nước sâu trị giá 1,5 tỷ USD vào tay một công ty quốc doanh Trung Quốc, sau khi Chính phủ Sri Lanka không trả được nợ vay cho dự án này.

Hồi tháng 4, nhiều nước trong Liên minh châu Âu (EU) chỉ trích Vành đai và Con đường gây tổn hại cho tự do thương mại, tạo lợi thế bất bình đẳng cho các công ty Trung Quốc và có mục đích chính trị.

Bắc Kinh một mực bác bỏ những cáo buộc này. Trong cuộc gặp với Ngoại trưởng Mông Cổ Damdin Tsogtbaatar vào thứ Năm tuần trước, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nói rằng Vành đai và Con đường “không phải là một ý tưởng địa chiến lược” mà là một kế hoạch chung của các quốc gia, tập trung vào các dự án minh bạch, chất lượng cao, có sự bền vững về tài chính.

“Vành đai và Con đường phù hợp với xu hướng lịch sử, tràn đầy sức sống và năng lượng, và do đó nhanh chóng nhận được sự ủng hộ trên toàn thế giới”, ông Vương Nghị nói.

Bài báo của Tân Hoa Xã nói đến nay 88 quốc gia và tổ chức quốc tế đã ký thỏa thuận hợp tác trong sáng kiến Vành đai và Con đường. Theo bài báo, trong năm 2017, kim ngạch thương mại của Trung Quốc với các nước trên tuyến thương mại này chiếm 40% tổng giá trị thương mại toàn cầu.

Bài báo cũng nói rằng, đến năm 2017 mới chỉ có 23,6% tổ chức truyền thông nước ngoài và người sử dụng Internet ở các quốc gia trong sáng kiến Vành đai và Con đường có quan điểm tích cực về sáng kiến này, nhưng tỷ lệ đó đã tăng so với mức 16,5% vào năm 2013.

Ông Trump: Chưa phải lúc bàn với Trung Quốc về chiến tranh thương mại

Theo Bình Minh

VnEconomy

xx
https://www.thesaigontimes.vn/td/277783/su-dung-von-trung-quoc-can-tinh-tao-.html

Sử dụng vốn Trung Quốc cần tỉnh táo

TS. Phạm Sỹ Thành
Thứ Hai, 3/9/2018, 12:27
(TBKTSG) – Câu hỏi quan trọng mà các quốc gia cần trả lời là làm sao để biến nguồn lực từ Trung Quốc thành động lực thực sự của mình thay vì để nó trở thành một gánh nặng trong dài hạn?

Đặc điểm chung của hoạt động cho vay từ Trung Quốc là nhắm đến các dự án kinh tế trong lĩnh vực giao thông, năng lượng và khai khoáng. Ảnh: NGUYỄN NAM

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài và cho vay phát triển của Trung Quốc đã được tiến hành từ hàng chục năm nay, cùng với các sáng kiến kinh tế mới và tham vọng trở thành “quốc gia trung tâm”. Số liệu mà tổ chức AidData thu thập cho thấy, trong giai đoạn 2000-2014, Trung Quốc đã cho vay phát triển, viện trợ dưới nhiều hình thức các khoản vay lên tới 354,3 tỉ đô la Mỹ. Con số này gần tương đương với con số 394,6 tỉ đô la Mỹ của Mỹ trong cùng thời kỳ. Nhưng, cho vay với hình thức ODA của Trung Quốc chỉ chiếm 23%. Đặc điểm chung của hoạt động cho vay từ Trung Quốc là nhắm đến các dự án kinh tế trong lĩnh vực giao thông, năng lượng và khai khoáng nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại giữa các nước nhận vốn với Trung Quốc.

Tại châu Phi, Trung Quốc cho vay 2.390 dự án với tổng số tiền 121,6 tỉ đô la Mỹ (2000-2014). 32% số vốn này được dành cho dự án giao thông, 28,5% dành cho các dự án năng lượng, tạo nên sự tương phản rõ nét với chiến lược viện trợ và cho vay của Mỹ tại châu lục này, khi mà 80% trong tổng số vốn 100 tỉ đô la Mỹ trong cùng thời kỳ được Mỹ dành cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và các sáng kiến nhân đạo.

Tại châu Á, từ năm 2000-2014, Trung Quốc cho các nước châu Á vay 1.225 dự án với tổng số tiền 119,6 tỉ đô la Mỹ. Trong đó, 35% tập trung vào lĩnh vực năng lượng, 30% dành cho giao thông và 18% dành cho công nghiệp, khai thác mỏ và xây dựng. Ba nhóm cho vay này chiếm 82,7% tổng số vốn dành cho châu Á của Trung Quốc, trong khi đó, con số tương ứng của Nhật Bản là 34%, của Mỹ là 15,4%.

Hiệu quả kinh tế: những chiếc bánh vẽ

Nhiều nước nhận vốn vay của Trung Quốc đã lâm vào tình trạng dở khóc dở cười của căn bệnh đam mê các dự án “hoành tráng” mà xem nhẹ hiệu quả thực tế. Trong sáng kiến Vành đai, Con đường (BRI), đường ống khí đốt đến Kyaukpyu của Myanmar sử dụng chưa đến một phần ba công suất thiết kế kể từ ngày khánh thành vào năm 2013, trong khi phải dùng ít nhất một nửa công suất mới hòa vốn. Còn đường ống dẫn dầu chạy qua nước này để nối vào Côn Minh (Trung Quốc) thì đến năm 2017 mới có lô dầu đầu tiên. Chi phí cho hai dự án này ngốn của Myanmar 2,5 tỉ đô la Mỹ.

Tại Nam Á, Sri Lanka là quốc gia nhận được nhiều “ưu ái” từ sáng kiến BRI, chỉ sau Pakistan. Trung Quốc đã đầu tư 1,2 tỉ đô la Mỹ cho cảng Hambantota và 290 triệu đô la Mỹ để xây sân bay quốc tế Mattala Rajapaksa, cách Hambantota chừng 30 ki lô mét. Nhưng sau khi hoàn thành, sân bay này chỉ có năm chuyến bay mỗi tuần phục vụ vài trăm hành khách. Tình thế éo le của quốc đảo này hiện nay là chính phủ phải dùng hơn 90% nguồn thu mỗi năm của quốc gia để trả nợ cho Trung Quốc khi thực hiện các dự án mà hầu như chẳng phục vụ lợi ích gì rõ rệt cho trong nước.

Bẫy nợ: từ độc lập đến phụ thuộc kinh tế

Vốn vay ODA Trung Quốc tại Việt Nam thường có lãi suất 3%/năm, cao hơn mức lãi vay từ các thị trường khác như Nhật Bản (0,4-1,2% tùy vào thời hạn vay); Hàn Quốc (0-2% tùy theo điều kiện đấu thầu) hay Ấn Độ (1,75%/ năm)

Vấn đề thực sự của các quốc gia khi nhận vốn vay Trung Quốc là chính phủ mắc nợ, lợi nhuận rơi vào tay các công ty Trung Quốc còn mức độ cải thiện đời sống của người dân địa phương thì không rõ ràng.

Sri Lanka đang nợ Trung Quốc hơn 8 tỉ đô la Mỹ với mức lãi suất 7%/năm. Nợ công của Djibouti chiếm khoảng 88% GDP, phần lớn là nợ Trung Quốc. Lào và Campuchia là hai quốc gia Đông Nam Á tham gia tích cực nhất vào sáng kiến BRI, đồng thời là quốc gia có tốc độ tăng trưởng vay nợ từ Trung Quốc lớn nhất. Theo IMF, năm 2016 nợ vay Trung Quốc chiếm hơn 40% GDP Lào và hơn 25% GDP của Campuchia.

Dự án đường sắt Trung Quốc – Lào (nối Côn Minh tới Vientiane) có chi phí khoảng 7 tỉ đô la Mỹ, trong đó Chính phủ Lào sẽ đóng góp 700 triệu đô la Mỹ, nhưng trong số 700 triệu đô la Mỹ này, Lào cũng chỉ tự túc được 220 triệu đô la Mỹ, còn lại 480 triệu đô la Mỹ sẽ phải vay Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (CHEXIM) với mức lãi suất 2,3%/năm trong thời hạn 35 năm, ân hạn năm năm. Điều này có nghĩa là trên thực tế Lào phải vay Trung Quốc tới gần 95% số vốn để hoàn thành dự án tốn kém này. Dự kiến, để đổi lấy 480 triệu đô la Mỹ vốn vay, Lào sẽ phải giao cho CHEXIM hai dự án mỏ.

Lãi suất quá cao là lý do chủ yếu khiến các khoản vay Trung Quốc trở nên đắt đỏ đối với quốc gia tiếp nhận. Nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cho thấy vốn vay ODA Trung Quốc tại Việt Nam thường có lãi suất 3%/năm, cao hơn mức lãi vay từ các thị trường khác như Nhật Bản (0,4-1,2% tùy vào thời hạn vay); Hàn Quốc (0-2% tùy theo điều kiện đấu thầu) hay Ấn Độ (1,75%/năm). Chưa kể, vay vốn từ Trung Quốc sẽ phải chịu phí cam kết 0,5%, phí quản lý 0,5%. Đối với vay thương mại, dự án Nhiệt điện Quỳnh Lập 1 (Nghệ An) với mức đầu tư 2 tỉ đô la Mỹ dự kiến vay vốn Trung Quốc cũng phải chịu lãi suất vay từ nguồn tín dụng thương mại là 10,86%/năm.

Cải thiện đời sống ở địa phương: không như viễn cảnh lãnh đạo hình dung

Tại Campuchia, trong số sáu dự án cảng biển định đầu tư xây mới và cải tạo với số vốn khoảng 11 tỉ đô la Mỹ thì hai cảng giao cho Trung Quốc xây là Koh Kong và Sihanoukville đã ngốn tới 9,5 tỉ đô la Mỹ. Cảng Sihanoukville có vốn đầu tư 5,7 tỉ đô la Mỹ là một tổ hợp kinh tế gồm cả các biệt thự, các khách sạn 5 sao, một trung tâm triển lãm, các cơ sở chăm sóc sức khỏe và mua sắm miễn thuế. Hai cảng nước sâu mới giúp tăng số lượng cảng hiện có của Campuchia trong Mạng lưới cảng biển ASEAN (APN) lên bốn cảng. Cũng tại Sihanoukville, Trung Quốc đã xây dựng bảy đặc khu kinh tế (SEZ) để thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai nước. Từ cuối năm 2014, nhờ 3 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư bổ sung, Sihanoukville đã có những bước phát triển nhanh chóng. Từ con số 40 nhà máy vào năm 2014 (có 20 nhà máy lúc đi vào hoạt động vào 2012), đến tháng 11-2016, Sihanoukville SEZ đã trở thành SEZ lớn nhất và phát triển nhất tại Campuchia với 148 nhà máy được xây dựng. Sihanoukville SEZ cũng thu hút 16.000 công nhân tới làm việc.

Nhưng trái ngược với những viễn cảnh mà hai chính phủ đưa ra, sự phát triển đối với người dân ở Campuchia nói chung và Sihanoukville nói riêng mang một diện mạo khác. 30 casino của Trung Quốc đã được xây dựng, 70 casino khác đang trong quá trình triển khai. 90.000 khách du lịch Trung Quốc đã đến Sihanoukville vào năm 2016 và lượng khách tăng lên mức 120.000 vào năm 2017 nhưng mức tiêu dùng của những du khách này chỉ bằng một nửa so với khách phương Tây. Họ còn bị phàn nàn là không thích ăn đồ ăn Khmer và sử dụng các dịch vụ của địa phương, không biết nói tiếng Anh và cư xử thô lỗ.

Bài học với Việt Nam từ các nước nhận nguồn vốn Trung Quốc

Quan sát cách cho vay của Trung Quốc cũng như hiệu quả tiếp nhận vốn của các quốc gia trên thế giới có thể cho chúng ta một số bài học như: (i) Quan tâm đến hiệu quả kinh tế thực sự của các dự án lớn; (ii) Chú trọng vòng đời vận hành của các dự án hơn là chăm chăm vào chi phí bỏ thầu thấp của Trung Quốc; (iii) Tránh việc trở thành con nợ chung thân của Trung Quốc với các điều khoản vay nặng nề; (iv) Chú trọng vấn đề môi trường; (v) Đảm bảo sinh kế của người dân tại những nơi có dự án Trung Quốc.

Rõ ràng, điều cần quan tâm đối với việc sử dụng vốn vay trước hết vẫn là hiệu quả kinh tế và năng lực trả nợ. Để hạn chế các gánh nặng tài chính khổng lồ do việc vay vốn từ Trung Quốc, có một số điểm Việt Nam cần tập trung cải thiện. Thứ nhất, đầu tư đúng trọng điểm. Thứ hai, chuyển từ đấu thầu theo giá thấp sang cách tiếp cận đầu tư theo chi phí vòng đời của công trình. Thứ ba, có thể vay vốn Trung Quốc nhưng sử dụng kỹ thuật và nhà thầu của bên thứ ba để nâng cao chất lượng công trình và trình độ quản trị. Thứ tư, nâng cao việc giám sát thi công và chất lượng công trình để tránh việc thời gian thi công bị kéo dài. Cuối cùng, chống tham nhũng, hạn chế tình trạng thất thoát tài sản từ đầu tư công.

xx
https://trithucvn.net/the-gioi/tan-thu-tuong-malaysia-dang-dan-dua-dat-nuoc-thoat-trung.html

Tân Thủ tướng Malaysia đang dần đưa đất nước thoát Trung

  • Thứ Tư, 05/09/2018

Ngày 21/8, trong khi sắp rời Bắc Kinh, tân Thủ tướng 92 tuổi của Malaysia ông Mahathir Mohamad tuyên bố chính phủ của ông sẽ hủy bỏ 2 dự án lớn của Trung Quốc tại Malaysia mà ông nói là quá lớn mà không mang lại lợi ích cho đất nước. Một tuần sau, ông lại ra lệnh chính quyền của ông sẽ không cho phép người nước ngoài mua các căn hộ trong dự án Forest City trị giá 100 tỷ USD do Trung Quốc xây dựng tại bang Johor. Ông Mahathir đang bước từng bước vững chắc để đưa đất nước thoát khỏi bẫy nợ của Trung Quốc mà chính quyền tiền nhiệm đã tự nguyện chui vào.

Theo bài viết “Chúng tôi không đủ sức chi trả: Malaysia kháng cự lại tầm nhìn Trung Quốc” đăng trên New York Times hôm 20/8, Malaysia đang trở thành một ví dụ về “một đất nước từng ve vãn đầu tư Trung Quốc, giờ đây lo ngại mang nợ quá tải do những đề án to lớn vừa không cần thiết, vừa không sinh lợi – ngoại trừ đối với Trung Quốc”.

Trung Quốc giăng bẫy nợ

Trong ngày cuối cùng của chuyến thăm 5 ngày tới Bắc Kinh, tân thủ tướng Malaysia công bố ông đã cho dừng 2 dự án xây dựng lớn của nhà thầu Trung Quốc có chi phí hơn 22 tỷ USD. Chính quyền tiền nhiệm bị cáo buộc là cố tình ký duyệt các dự án kém này để lấy tiền cứu một quỹ đầu tư chính phủ đầy tham nhũng và nhằm giúp nhân vật chóp bu giữ chặt quyền lực.

Chúng tôi không muốn có một tình huống mà một kiểu chủ nghĩa thực dân kiểu mới xảy ra bởi vì các nước nghèo không thể cạnh tranh với các nước giàu”, Thủ tướng Malaysia nói tại Đại Lễ Đường Nhân Dân tại Bắc Kinh, sau cuộc gặp ông Lý Khắc Cường, Thủ tướng Trung Quốc.

“Chuyện này tất cả là về việc vay quá nhiều tiền mà chúng tôi không gánh nổi và không thể trả lại bởi chúng tôi không cần các dự án này ở Malaysia”.

Một báo cáo của Lầu Năm Góc gần đây chỉ ra “Dự án Vành Đai Con Đường có mục tiêu phát triển mạnh quan hệ kinh tế với các nước khác, định hình lợi ích của họ cho phù hợp với của Trung Quốc và để ngăn cản đối đầu hoặc chỉ trích phương pháp của Trung Quốc đối với các vấn đề nhạy cảm”.

“Những nước tham gia vào BRI có thể sẽ nảy sinh sự phụ thuộc kinh tế vào tư bản của Trung Quốc, điều mà Trung Quốc có thể dùng để thúc đẩy các lợi ích của họ”.

Tại vị trí trọng yếu trên tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất của thế giới – biển Đông – nơi mà phần lớn thương mại của châu Á trung chuyển, một tập đoàn năng lượng Trung Quốc đã đầu tư vào một cảng nước sâu lớn, có khả năng đón một hàng không mẫu hạm.

Một tập đoàn Nhà nước khác của Trung Quốc cũng đang tân trang một hải cảng ngay bên bờ Biển Đông, nơi đang có tranh chấp gay gắt.

Ở gần đó, một mạng lưới đường sắt, phần lớn do ngân hàng Nhà nước Trung Quốc tài trợ, cũng đang được xây dựng, hầu vận chuyển nhanh hàng hóa Trung Quốc dọc theo dự án Vành Đai – Con Đường.

Một tập đoàn khác nữa của Trung Quốc đang tạo ra 4 hòn đảo nhân tạo có thể dùng cho hơn 750.000 người ở, và dự án này đang được quảng cáo rầm rộ cho công dân Trung Quốc.

Tất cả các đề án nói trên đều được xây dựng ở Malaysia, nơi Trung Quốc xem là một trọng tâm trong nỗ lực tăng cường ảnh hưởng trên toàn cầu.

Tuy nhiên, theo New York Times, nếu trước đây Malaysia đi đầu trong việc ve vãn đầu tư Trung Quốc, thì hiện nay nước này lại đang ở tuyến đầu của một hiện tượng mới: Kháng cự lại Bắc Kinh trong bối cảnh nhiều quốc gia đang lo ngại bị chìm trong nợ nần, với các đề án không sinh lợi, và cũng không cần thiết cho nước đó, nhưng lại có giá trị đối với Trung Quốc hoặc là về mặt chiến lược, hoặc là để đưa những nhân vật mạnh thân Bắc Kinh lên nắm quyền.

Gió đảo chiều

Sau hàng năm trời bị chỉ trích vì dính líu tới các vụ bê bối tham nhũng mà trong đó có bàn tay của Bắc Kinh, cuối cùng Thủ tướng Najib Razak đã thất bại trong cuộc bầu cử hồi tháng 5. Cùng với đó, việc Bắc Kinh tốn kém chiêu dụ ông Razak với những khoản tín dụng dễ dãi và những đề án to lớn, để ký kết được những thỏa thuận có tính chất chiến lược đối với tham vọng của Trung Quốc cũng gặp phải nguy hiểm.

Ông Mahathir, 93 tuổi, được bầu vào chiếc ghế thủ tướng lần thứ 2. Ông tuyên bố nhiệm vụ bao gồm việc đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nợ nần chồng chất, bị bóp nghẹt dưới khoản nợ kếch xù 250 tỷ đô la, mà một phần không nhỏ là nợ các công ty Trung Quốc.

Từ Sri Lanka và Djibouti tới Myanmar và Montenegro, rất nhiều quốc gia từng nhận tiền từ sáng kiến Vành Đai, Con Đường của Bắc Kinh chỉ để nhận ra rằng các khoản hợp đồng thầu bị thổi phồng Trung Quốc không mang theo lợi ích về kinh tế lẫn việc làm cho người dân trong nước, mà thực ra là để giải quyết công việc cho chính những người Trung Quốc theo các dự án này ồ ạt đổ ra nước ngoài.

Ngày càng nhiều người lo sợ rằng Trung Quốc đang sử dụng cách vung tiền ra nước ngoài để đặt chân lên những địa điểm chiến lược nhất trên thế giới, và Bắc Kinh đang cố tình dụ các quốc gia nghèo khó vào bẫy nợ để gia tăng sức mạnh.

“Trung Quốc chắc hẳn là đã nghĩ rằng “chúng ta có thể lấy được những hàng giá rẻ ở đấy”… Họ có đủ kiên nhẫn để chơi trong dài hạn, chờ cho những người tại chỗ lậm sâu vào nợ rồi đến lấy tất cả về cho Trung Quốc”, nhận xét của nhà kinh tế chính trị người Malaysia, Khor Yu Leng.

Khi có mặt ở Bắc Kinh, Thủ tướng Malaysia đã hủy một hợp đồng với tập đoàn Xây Dựng Viễn Thông Trung Quốc nhằm xây dựng tuyến đường xe lửa ở bờ biển phía đông được cho là tốn kém cho chính phủ Malaysia 20 tỷ USD. Ông cũng hủy bỏ một thỏa thuận trị giá 2,5 tỷ USD, xây đường ống dẫn khí đốt với công ty con của một tập đoàn năng lượng khổng lồ của Trung Quốc.

Trước chuyến thăm, ông đã ra lệnh tạm dừng các dự án. Theo một số nhà phân tích, ông chỉ muốn đàm phán lại hợp đồng nhân chuyến thăm Trung Quốc. Thế nhưng rốt cuộc ông đã thông báo hủy các hợp đồng đó với lý do: “Vấn đề là phải vay quá nhiều tiền mà Malaysia không chi trả nổi và vì đó là những dự án mà Malaysia không cần”.

Tân Bộ trưởng Tài chính Malaysia Lim Guan Eng nêu ví dụ Sri Lanka nơi đã phải bán một cảng nước sâu cho Trung Quốc trong 99 năm bởi vì việc xây dựng cảng này đã khiến họ mắc nợ không thể trả đối với Bắc Kinh.

“Chúng tôi không muốn một tình trạng như Sri Lanka, họ không thể trả tiền và cuối cùng người Trung Quốc chiếm luôn dự án”.

Trong một bài phỏng vấn gần đây với New York Times, ông Mahathir nói rõ ông nghĩ gì về chiến lược của Trung Quốc:

“Họ biết rằng khi họ cho các nước nghèo vay khoản tiền lớn, cuối cùng họ có thể chiếm lấy dự án đó cho bản thân mình”.

“Trung Quốc biết rất rõ bởi trong quá khứ họ đã phải ký các hiệp ước không công bằng do các cường quốc phương Tây áp đặt”, Thủ tướng Malaysia nhắc tới việc Trung Quốc thua chiến tranh nha phiến và phải cắt đất nhượng bộ. “Do đó Trung Quốc nên hiểu cho chúng tôi. Họ biết chúng tôi không thể gánh nổi khoản nợ này”.

Theo The New York Times, ông Mahathir là một nhân vật không hề ngần ngại đứng lên chống lại các siêu cường. Lúc làm Thủ tướng từ năm 1981 đến năm 2003, ông đã chống lại Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây khác mà theo ông muốn kìm hãm những quốc gia đang phát triển như Malaysia.

Edmund Terence Gomez, chuyên gia chính trị kinh tế Đại Học Malaya nhận định: “Ông Mahathir hiện đang cho rằng Trung Quốc là một thế lực bá quyền, và ông luôn luôn dè chừng trước các thế lực bá quyền. Trước đây là Mỹ, bây giờ là Trung Quốc”.

Trọng Đức (T/h)

xx
http://soha.vn/tq-se-ra-sao-neu-con-no-dong-loat-rut-chan-khoi-vanh-dai-va-con-duong-nhu-malaysia-20180823093542764rf20180830151618664.htm

TQ sẽ ra sao nếu “con nợ” đồng loạt rút chân khỏi Vành đai và Con đường như Malaysia?

Hồng Anh | 23/08/2018

TQ sẽ ra sao nếu "con nợ" đồng loạt rút chân khỏi Vành đai và Con đường như Malaysia?Công nhân làm việc trong dự án thuộc khuôn khổ Vành đai và Con đường. Ảnh: Reuters.

Washington Post dự đoán quyết định ‘mạnh dạn’ gần đây của Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad có thể sẽ tạo ra một phong trào mới bất lợi cho Trung Quốc.

Theo Washington Post, siêu dự án Vành đai và Con đường trị giá nghìn tỉ USD của Trung Quốc luôn được nước này miêu tả một cách tích cực là một dự án có ý nghĩa chiến lược quan trọng trên toàn cầu, thế nhưng không phải ai cũng tin vào điều đó.

Nhiều ý kiến cho rằng Vành đai và Con đường sẽ không đem lại lợi ích như mong muốn cho cả Trung Quốc và các quốc gia vay vốn đầu tư của Bắc Kinh. Điển hình là bài học nhãn tiền của Sri Lanka, do không thể trả khoản nợ khổng lồ nên chính phủ nước này đã phải chấp nhận cho Trung Quốc thuê một cảng biển chiến lược trong vòng 99 năm để cấn trừ nợ.

Hiện nay nhiều quốc gia tại các khu vực châu Á, châu Phi và Thái Bình Dương cũng đang đối mặt với nguy cơ sập bẫy nợ khi vay những khoản tiền lớn từ Trung Quốc.

Hôm thứ 3 (21/8) vừa qua, Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad vừa tuyên bố hủy 2 dự án lớn do Bắc Kinh tài trợ và xây dựng, do nước này hiện không đủ khả năng chi trả các chi phí quá cao cho Trung Quốc.

Washington Post cho rằng từ quyết định của ông Mahathir, lãnh đạo nhiều quốc gia khác trên thế giới sẽ bắt đầu tự hỏi liệu những khoản đầu tư của Trung Quốc có thực sự tốt như họ tưởng hay không.

Dự án thế kỷ

Về mặt quy mô và tham vọng, thì Vành đai và Con đường là một “dự án thế kỷ” – theo mô tả của Bắc Kinh. Tuy nhiên một số người lại so sánh dự án này với Kế hoạch Marshall – hay kế hoạch phục hưng châu Âu của Mỹ (dù Vành đai và Con đường có quy mô lớn hơn rất nhiều).

Vành đai và Con đường chỉ là một cụm từ gói gọn để nói về các khoản đầu tư của Trung Quốc tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, với mục tiêu kết nối Bắc Kinh với các đối tác thương mại của mình.

TQ sẽ ra sao nếu con nợ đồng loạt rút chân khỏi Vành đai và Con đường như Malaysia? - Ảnh 2.

Công nhân làm việc trong một dự án thuộc Vành đai và Con đường. Ảnh: AP.

Trên thực tế, dự án này đã mở ra mạng lưới con nợ của Bắc Kinh trên khắp thế giới, đồng thời mở ra cơ hội cho các nhà thầu Trung Quốc tham gia xây dựng nhiều công trình hạ tầng tại các quốc gia vay nợ nước này.

Không chỉ đem lại lợi ích hay ảnh hưởng toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế, mà Trung Quốc cũng có động cơ chính trị rất rõ ràng khi đề ra sáng kiến Vành đai và Con đường, theo một báo cáo mới được công bố tuần trước của Lầu Năm Góc.

Cụ thể, thông qua việc thắt chặt các mối quan hệ kinh tế, Trung Quốc có thể “định hướng lợi ích của các quốc gia khác để phù hợp với nước này, và ngăn chặn sớm sự đối đầu hoặc những lời chỉ trích về cách tiếp cận của Trung Quốc trong những vấn đề nhạy cảm”, theo Lầu Năm Góc.

Mặc dù vậy, rất nhiều đối tác nước ngoài của Bắc Kinh đã tình nguyện tham gia dự án Vành đai và Con đường – mà phần lớn là vì các khoản vay Trung Quốc thường ít bị giới hạn hơn nhiều so với các khoản vay từ phương Tây.

Malaysia đi đầu phong trào?

Về phía Malaysia, Thủ tướng Mahathir Bin Mohamad đã đổ lỗi cho người tiền nhiệm Najib Razak khi nói đến các dự án thuộc Vành đai và Con đường trong cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường tại Bắc Kinh.

Ngoài tội danh “rửa tiền” trong bê bối rút ruột Quỹ Đầu tư phát triển Malaysia Berdah (Quỹ 1MDB), giờ đây ông Razak còn bị người kế nhiệm lên án là đã “quá lơi lỏng” trong các thỏa thuận với Trung Quốc, khiến Malaysia mắc nợ Bắc Kinh quá nhiều.

Nhằm giảm thiểu gánh nặng nợ nần cho đất nước, Thủ tướng Mahathir vừa qua đã quyết định hủy 2 dự án đầu tư khủng của Trung Quốc.

Theo Washington Post, quyết định gần đây của Malaysia cho thấy siêu dự án của Trung Quốc cũng có nguy cơ đổ bể.

Nhiều dự án có vốn đầu tư “khủng” trên Vành đai và Con đường sau khi hoàn thiện lại trở thành những “con voi trắng” thừa thãi, không đem lại lợi ích kinh tế như những lời hứa hẹn của Bắc Kinh.

Sri Lanka đã vay một khoản lớn từ Trung Quốc để xây dựng một sân bay có thể phục vụ 1 triệu hành khách mỗi năm.

Tuy nhiên, hiện nay người ta chỉ biết đến địa điểm này với danh hiệu “sân bay quốc tế vắng khách nhất thế giới”. Sân bay này ế khách đến nỗi số tiền thu về từ việc cho thuê các kho vận tải còn nhiều hơn tiền dịch vụ và vé máy bay.

Cảng nước sâu Hambantota, một dự án khác của Bắc Kinh tại Sri Lanka thuộc Vành đai và Con đường, giờ đây đã thuộc quyền quản lý của một công ty Trung Quốc trong vòng 99 năm, sau khi cảng này không thu hồi đủ số tiền vốn bỏ ra để trả nợ cho Trung Quốc.

TQ sẽ ra sao nếu con nợ đồng loạt rút chân khỏi Vành đai và Con đường như Malaysia? - Ảnh 5.

Malaysia vừa qua đã ‘mạnh dạn’ hủy 2 dự án vay vốn đầu tư của Trung Quốc được kí kết từ thời cựu Thủ tướng Najib Razak. Ảnh: AP.

Theo một nghiên cứu được công bố hồi tháng 3 vừa qua của Trung tâm Phát triển Toàn cầu, Sri Lanka không phải là con nợ duy nhất của Trung Quốc gặp vấn đề này. Nhiều quốc gia khác trên thế giới như Djibouti, Kyrgyzstan, Lào, Maldives, Mông cổ, Montenegro, Pakistan và Tajikistan cũng đang gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ thuộc dự án Vành đai và Con đường.

Đối với giới chuyên gia, thì đây không phải là sai lầm, mà là một đặc điểm trong kế hoạch của Trung Quốc. Họ gọi đó là chính sách “ngoại giao bẫy nợ”, và Bắc Kinh đang bắt nạt những con nợ nhỏ của mình bằng chính sách này.

Thậm chí một số người còn dự đoán Trung Quốc sẽ sử dụng các công trình thuộc siêu dự án Vành đai và Con đường để phục vụ mục đích quân sự trong tương lai, nhất là khi các công trình ấy không hề đem lại lợi ích kinh tế.

Rõ ràng là sự mập mờ của Trung Quốc trong dự án Vành đai và Con đường hiện nay đang là mối quan ngại khá lớn đối với các nước đang và sắp tham gia dự án này.

Kể từ khi dự án được triển khai, Bắc Kinh chưa từng công bố danh sách các dự án hay chi tiết về các khoản đầu tư của họ.

Hơn nữa, những giai đoạn quan trọng trong quá trình thực hiện thỏa thuận – như tuyên bố đấu thầu dự án – cũng không được công bố rộng rãi như thường lệ.

Tất nhiên Vành đai và Con đường của Trung Quốc không chỉ toàn “voi trắng”. Theo các chuyên gia, một số dự án như đường ống dẫn dầu tại Myanmar và tuyến đường sắt tại Kenya có triển vọng thu về số tiền xứng đáng với số vốn đầu tư đã bỏ ra.

Hơn nữa, chắc chắn nhiều quốc gia sẽ tiếp tục tới gõ cửa Trung Quốc để được vay vốn dễ dàng. Ví dụ như Thổ Nhĩ Kỳ, hiện đang đối diện với khủng hoảng tài chính trầm trọng do xung đột với Mỹ, có thể sẽ là quốc gia kế tiếp trở thành “bạn” của Trung Quốc.

Tuy nhiên, quyết định của Malaysia cho thấy Bắc Kinh hiện nay cũng đang đối diện với rất nhiều áp lực trong và ngoài nước. Nếu các con nợ đồng loạt tuyên bố vỡ nợ, thì chắc chắn nền kinh tế và xã hội của Trung Quốc sẽ phải chịu ảnh hưởng không nhỏ.

Theo Foreign Policy, ban đầu, chính phủ Trung Quốc đã dự định đầu tư 5.000 tỉ USD trong vòng 10-15 năm cho dự án Vành đai và Con đường. Nếu kế hoạch ấy được thực hiện thì khoản tiền Trung Quốc cho vay sẽ chiếm một phần rất lớn trong GDP của nước này.

Như vậy, nếu con nợ của Bắc Kinh tuyên bố vỡ nợ, thì ngay cả những khoản tiền được coi là nhỏ cũng sẽ khiến Trung Quốc phải trả giá đắt cả về kinh tế và chính trị.

Nếu Bắc Kinh tiếp tục vung tiền mạnh tay và khiến các con nợ của mình khánh kiệt, thì chắc chắn các quốc gia khác sẽ dần mất thiện cảm và tránh xa các khoản vay hào phóng của họ. Hơn nữa Trung Quốc cũng sẽ chịu thiệt đủ đường nếu không thể hồi vốn từ các con nợ của mình.

theo Trí Thức Trẻ

xx
http://vietnamfinance.vn/vanh-dai-va-con-duong-bua-trua-khong-mien-phi-nhung-thuc-khach-deu-da-mac-nghen-20180504224212422.htm

Vành đai và Con đường: ‘Bữa trưa không miễn phí’ nhưng thực khách đều đã mắc nghẹn
Tất Đạt – 08:54 03/09/2018

Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mang tên “Vành đai và Con đường” hiện đang có chiều hướng lâm vào bế tắc khi các quốc gia bắt đầu cảm nhận thấy sức nặng từ các khoản nợ Trung Quốc.

Vành đai và Con đường: 'Bữa trưa không miễn phí' nhưng thực khách đều đã mắc nghẹn

Ảnh minh họa: Yidaiyilu

Siêu dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mang tên “Vành đai và Con đường” hiện đang có chiều hướng lâm vào cảnh bế tắc khi các quốc gia bắt đầu cảm nhận thấy sức nặng từ các khoản nợ Trung Quốc.

Lần đầu tiên được giới thiệu hồi năm 2013 bởi Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, sáng kiến Vành đai và Con đường được xem như “Con đường Tơ lụa” thời hiện đại, mở ra triển vọng xây dựng các tuyến đường sắt, đường bộ và cảng biển trên khắp các châu lục, và Bắc Kinh là nhà đầu tư chính, cung cấp hàng tỉ USD vốn vay cho những quốc gia trong dự án.

Năm năm sau, ông Tập hiện đang phải bảo vệ sáng kiến này khi ngày càng có nhiều quốc gia quan ngại rằng Trung Quốc muốn đưa họ vào “bẫy nợ” khó thoát.

Vành đai và Con đường là dự án mở cho tất cả các quốc gia,” ông Tập phát biểu trong lễ kỉ niệm.

Ông Tập cho biết giao dịch thương mại với các nước thuộc sáng kiến nói trên đã vượt qua mốc 5 nghìn tỉ USD, với vốn đầu tư trực tiếp hơn 60 tỉ USD.

Phản ứng từ các quốc gia

Tuy nhiên nhiều nước đã bắt đầu bày tỏ e ngại về cái giá phải trả.

Trong chuyến thăm tới Bắc Kinh hồi tháng 8, Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad cho biết sẽ hoãn ba dự án lớn được Trung Quốc hỗ trợ, bao gồm một dự án xây dựng đường sắt có giá trị 20 tỉ USD.

Đảng cầm quyền của tân thủ tướng Pakistan Imran Khan đã yêu cầu có thông tin minh bạch hơn giữa lúc quốc gia này lo sợ không đủ khả năng để trả các khoản nợ Trung Quốc liên quan tới Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan.

Trong khi đó nhà lãnh đạo phe đối lập của Maldives – Mohamed Nasheed – đã gọi những hành động của Trung Quốc tại quần đảo Ấn Độ Dương là “chiếm đất đai” khi 80% khoản nợ của Maldives là nợ Trung Quốc.

Điển hình, Sri Lanka đã trả giá đắt vì nợ Trung Quốc quá nhiều. Năm ngoái, đảo quốc này buộc phải cho Bắc Kinh thuê một cảng biển chiến lược vì không thể trả khoản nợ cho dự án với giá trị 1,4 tỉ USD.

Về mặt lý thuyết, sáng kiến Vành đai và Con đường đem lại sự cải thiện không nhỏ về mặt cơ sở hạ tầng cho các quốc gia đang phát triển trong khi cung cấp cho hàng hóa Trung Quốc những đích đến mới để tiêu thụ.

Tuy nhiên, một nghiên cứu tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu, lại phát hiện ra “những vấn đề nghiêm trọng” trong sự ổn định tại 8 quốc gia nhận được nguồn vốn từ sáng kiến này.

Các quốc gia đó là Pakistan, Djibouti, Madives, Mông Cổ, Lào, Montenegro, Tajikistan và Kyrgyzstan.

Tại Djibouti, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo rằng quốc gia tại khu vực Sừng Châu Phi này đang đối mặt với “nguy cơ khủng hoảng nợ” khi nợ quốc gia từ 50% GDP vào năm 2014 tăng lên tới 85% GDP vào năm 2016.

Trong khi đó, các quốc gia Châu Phi từ lâu đã đón nhận nguồn đầu tư từ Trung Quốc, góp phần giúp Bắc Kinh trở thành đối tác lớn nhất của châu lục trong thập kỉ qua.

“Bữa trưa không miễn phí”

Hiện Trung Quốc đang chịu nhiều chỉ trích vì sáng kiến Vành đai và Con đường.

Tại buổi họp báo hôm 31/8, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh phủ nhận Bắc Kinh đang đưa các đối tác vào bẫy nợ, và khẳng định khoản cho vay tại Sri Lanka và Pakistan chỉ là một phần nhỏ trong tổng số nợ nước ngoài mà các quốc gia này đang phải trả.

“Thật bất hợp lí khi cho rằng những khoản đầu tư từ những quốc gia phương Tây là tốt đẹp trong khi khoản tiền từ Trung Quốc lại bị coi là xấu xa và cạm bẫy,” bà nói.

Bà Christine Lagarde, giám đốc IMF, bày tỏ quan ngại về những rắc rối nợ nần tiềm năng từ hồi tháng 4 vừa qua và yêu cầu các bên trong sáng kiến Vành đai và Con đường cần minh bạch hơn nữa.

“Đây không phải là bữa trưa miễn phí, ai cũng buộc phải tham gia,” bà Lagarde kết luận.

Tất Đạt
Theo Thời Đại

xx
https://www.dkn.tv/the-gioi/canh-bao-bay-no-trung-quoc-nhin-tu-dien-bien-o-chau-phi.html

Cảnh báo bẫy nợ Trung Quốc nhìn từ diễn biến ở châu Phi

11:52, 07/09/2018

Tờ Breitbart hôm 5/9 đăng bài phân tích bác bỏ lời biện hộ gần đây của giới truyền thông Bắc Kinh đối với nguy cơ các nước lún sâu vào nợ nần từ Trung Quốc.

Thời báo Hoàn Cầu (Global Times) của nhà nước Trung Quốc gần đây đã bác bỏ cáo buộc rằng Bắc Kinh đang sử dụng các khoản tiền khổng lồ cho dự án “Vành đai và con đường” là nhằm mua ảnh hưởng chính trị ở châu Phi.

Tờ báo này viết rằng các doanh nhân châu Phi đang kêu gọi “Trung Quốc cung cấp 60 tỷ USD tài trợ cho sự phát triển của lục địa” và dự đoán rằng sẽ có những “cơ hội kinh doanh lớn trong tương lai”.

Bài báo của tờ Hoàn Cầu nhằm bác bỏ cáo buộc rằng một số dự án đắt tiền của Bắc Kinh không thể nào mang lại đủ lợi nhuận để những nước vay tiền hoàn trả nợ, theo Breitbart.

Trong khi có quá nhiều các nhà quan sát lo ngại về các khoản vay Trung Quốc, tờ Hoàn Cầu vẫn “tìm thấy” các nhà phân tích cho rằng có rất ít lý do để lo lắng về các khoản nợ khổng lồ của các doanh nghiệp tư nhân ở châu Phi.

Tờ báo này lập luận rằng về lý thuyết, chỉ khi các thực thể chính phủ châu Phi triển khai dự án hoàn toàn bằng tiền đi vay mượn, Bắc Kinh mới có thể sử dụng các khoản vay của họ để làm đòn bẩy chính trị. Ngoài ra, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hứa hẹn rằng họ không có động cơ chính trị và sẽ không bao giờ mơ tưởng đến việc can thiệp hoạt động công quyền tại các quốc gia châu Phi.

Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaska gặp Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào năm 2007. (Ảnh: AP)Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaska gặp Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo vào năm 2007. (Ảnh: AP)

Nhưng theo Breitbart, lời biện hộ này là không hợp lý vì một vài lý do. Thứ nhất, vì ranh giới giữa công ty tư nhân và nhà nước ở các nước thế giới thứ ba rất mập mờ. Ngay cả khi các chính phủ châu Phi không sở hữu một phần hoặc toàn phần các doanh nghiệp vay nợ, họ cũng bị sức ép phải tham gia ngăn chặn sự sụp đổ của các doanh nghiệp lớn trong nước. Và dù sao thì các thực thể chính phủ châu Phi cũng đang vay mượn những khoản tiền lớn từ Trung Quốc, trong nhiều trường hợp vượt qua ngưỡng nợ hơn 50% GDP, mức được coi là nguy hiểm cho các nền kinh tế đang phát triển.

Lời biện hộ từ thời báo Hoàn Cầu được đưa ra trong bối cảnh thế giới biết vụ việc Sri Lanka lún sâu vào bẫy nợ của Bắc Kinh, đến mức nước này phải bàn giao một cảng biển quan trọng cùng 15.000 mẫu đất xung quanh đó cho Trung Quốc trong vòng 99 năm. Tổng số nợ của Sri Lanka hiện chiếm khoảng 77% GDP.

Sri Lanka buộc phải chuyển giao cảng biển quan trọng Hambantota cho Trung Quốc vì lún sâu vào bẫy nợ (Ảnh: AFP/Getty)Sri Lanka buộc phải chuyển giao cảng biển quan trọng Hambantota cho Trung Quốc vì lún sâu vào bẫy nợ. (Ảnh: AFP/Getty)

Theo Breitbart, các khoản vay của Trung Quốc hấp dẫn đối với các chính phủ của các nước Thế giới thứ ba, chính xác là vì chúng không yêu cầu mức độ kỷ luật tài chính như điều kiện vay của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Thay vào đó, Thời báo Hoàn Cầu đề cập các biện pháp chống tham nhũng nhằm đảm bảo “quản trị tốt”, ngăn chặn “tham nhũng và quan liêu” tại địa phương gây cản trở hoạt động đầu tư của Trung Quốc. Điều đó nghe có vẻ giống như sự can thiệp vào chính quyền địa phương mà Trung Quốc tuyên bố không tham dự, theo Breitbart.

The L.A. Times hôm thứ Hai (3/9) phát hiện tình trạng phản ứng dữ dội đang gia tăng từ bên trong Trung Quốc chống lại dự án Vành đai Con đường, bất chấp những tuyên truyền không ngừng nghỉ của chính phủ, trong đó công dân Trung Quốc tự hỏi tại sao rất nhiều tài sản quốc gia của họ bị chuyển sang các nước khác.

Giáo sư luật Xu Zhangrun chất vấn dự án Vành đai Con đường của Trung QuốcGiáo sư luật Xu Zhangrun chất vấn dự án Vành đai Con đường của Trung Quốc (Ảnh: Chinachange.org)

“Tại sao Trung Quốc, một đất nước với hơn 100 triệu người vẫn đang sống dưới mức nghèo khổ, lại đóng vai một kẻ chi tiêu hào nhoáng? Làm sao lại có thể cho phép một sự phóng khoáng bừa bãi như vậy được?”, Giáo sư luật Xu Zhangrun chất vấn vào tháng Bảy, LA Times cho biết.

Hoạt động chi tiêu phi lý của Trung Quốc ở châu Phi là một trong những chủ đề mà vị giáo sư 84 tuổi Sun Wenguang đã đề cập đến vào đầu tháng Tám trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp với Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), ngay lúc đó cảnh sát xông vào nhà và kéo ông đi. Ông Sun đã được thả sau 10 ngày nhưng ông cho biết mình vẫn đang bị giám sát. Trong thời gian ông bị bắt, vợ ông bị ép buộc phải đưa ra thông báo giả mạo rằng hai ông bà đi nghỉ mát, theo Breitbart.

Giáo sư Sun Wenguang, 84 tuổi, bị cảnh sát bắt giữ trong khi đang trả lời VOA về hoạt động đầu tư của Trung Quốc ở châu PhiGiáo sư Sun Wenguang, 84 tuổi, bị cảnh sát bắt giữ trong khi đang trả lời VOA về hoạt động đầu tư của Trung Quốc ở châu Phi (Ảnh: VOA)

Mai Lan

xx
https://trithucvn.net/the-gioi/xu-the-chong-lai-vanh-dai-va-con-duong-tu-nam-a-sang-dong-nam-a.html

Xu thế chống lại “Vành đai và Con đường”: Từ Nam Á sang Đông Nam Á

  • Thứ Hai, 10/09/2018

Tờ Sankei Shimbun của Nhật Bản có phân tích, Thủ tướng Mahathir Mohamad của Malaysia đã mạnh mẽ chống lại “chủ nghĩa thực dân mới” của Trung Quốc bằng cách hủy bỏ các dự án tài trợ của đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đây có thể được xem như một bước ngoặt quan trọng tại Đông Nam Á.

mot vanh dai mot con duongSơ đồ Chiến lược Một Vành Đai Một Con Đường của Trung Quốc (Ảnh: Xinhua Finance Agency, 2015)

Ấn Độ và Nepal xây dựng tuyến đường sắt xuyên biên giới

Ngày 31/8, Ấn Độ và Nepal đã ký một biên bản ghi nhớ kế hoạch xây dựng tuyến đường sắt xuyên biên giới, sau khi hai nước khảo sát tuyến đường sắt xuyên biên giới nối giữa thị trấn biên giới Ấn Độ là Raxaul với thủ đô của Nepal là Kathmandu, hai nước sẽ bắt đầu thủ tục khởi công xây dựng.

Hồi tháng Sáu năm nay, ĐCSTQ và Nepal đã ký một thỏa thuận hợp tác đường sắt từ Tây Tạng đến Kathmandu. Động thái của Ấn Độ được xem là một đối trọng với ĐCSTQ.

Theo giới truyền thông ở Ấn Độ và Nepal, Ấn Độ đã tích cực chống lại của ĐCSTQ mở rộng “Vành đai và Con đường”, Chính phủ Ấn Độ thông qua các chính sách như “ưu tiên các nước láng giềng”, “Đông tiến” (Act East) để tăng cường hỗ trợ các nước láng giềng xây dựng cơ sở hạ tầng. Ấn Độ cũng rất không hài lòng đối với “Hành lang kinh tế Pakistan – Trung Quốc” trong sáng kiến “Vành đai và Con đường”, cáo buộc ĐCSTQ đã vi phạm chủ quyền của Ấn Độ, vi phạm cam kết giữ thái độ trung lập về vấn đề Kashmir.

Tại Hội nghị Tổ chức Hợp tác Thượng Hải hồi tháng Sáu, một lần nữa Thủ tướng Ấn Độ Modi lại từ chối ủng hộ sáng kiến “Vành đai và Con đường”, ông đã đặc biệt gây chú ý khi là quốc gia duy nhất phản đối ngay tại hội nghị này. Modi cho biết, tính liên kết giữa khu vực Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và các nước láng giềng là dự án ưu tiên của Ấn Độ, Ấn Độ ủng hộ những dự án liên kết mới có tính bền vững, minh bạch, tôn trọng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ nhau.

Malaysia đã nhiều lần lên án “chủ nghĩa thực dân mới”

Mahathir, Thủ tướng mới của Malaysia cho rằng thỏa thuận giữa ĐCSTQ với Malaysia là không công bằng, vì thế đã có nhiều hành động nhắm vào các dự án do Trung Quốc tài trợ. Tại một cuộc họp báo với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, ông Mahathir 93 tuổi đã kêu gọi cần phải có thương mại công bằng, chủ trương chống lại chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Gần đây, tại buổi họp báo ở Bắc Kinh sau khi kết thúc chuyến thăm Trung Quốc kéo dài 5 ngày, ông Mahathir đã công khai hủy ba dự án do Trung Quốc tài trợ với tổng trị giá 22 triệu USD (Đô la Mỹ), đây là một đòn nặng đối với “Vành đai và Con đường”của ĐCSTQ.

Ngày 27/8, ông Mahathir cho biết không cho phép bán cho công dân nước ngoài các căn hộ của dự án bất động sản Forest City do Trung Quốc tài trợ, chính phủ sẽ không cấp visa cư trú cho người nước ngoài. Có đến 2/3 số người mua nhà ở Forest City đến từ Trung Quốc.

Năm ngoái, Mahathir đã đề cập lo lắng về vấn đề bất cứ ai đã sống ở Malaysia trong 12 năm đều có quyền bỏ phiếu. Có phân tích, Mahathir lo ngại chủ quyền quốc gia Malaysia sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng dưới áp lực kinh tế của ĐCSTQ.

Đối với Khu công nghiệp Kuantan Malaysia – Trung Quốc (Malaysia – China Kuantan Industrial Park – MCKIP) được xây hàng rào vây kín mà người Malaysia địa phương ví von là “Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc”, dự án đã không chỉ khép kín giới doanh nghiệp Trung Quốc mà còn không cho người Malaysia đi vào, ông Mahathir ra lệnh rằng các khu công nghiệp không phải là lãnh thổ của nước ngoài, vì thế những vấn đề này cần phải loại bỏ.

Trong một tuyên bố vào ngày 30/8, hãng hàng không giá rẻ lớn nhất châu Á là AirAsia của Malaysia cho biết họ sẽ từ bỏ kế hoạch liên doanh xây dựng một hãng hàng không giá rẻ ở Trung Quốc.

Duterte tiếp tục chỉ trích Trung Quốc, tuần trăng mật kết thúc?

Vào giữa tháng Tám, Tổng thống Duterte của Philippines đã không dưới một lần lên án ĐCSTQ, kêu gọi Bắc Kinh “tái định hình”“hành động ôn hòa” về vấn đề Biển Đông đang gây tranh cãi. Duterte công khai tuyên bố rằng Trung Quốc không có quyền tuyên bố vùng trời phía trên những hòn đảo nhân tạo là “không phận riêng”, Trung Quốc phải rút lại tuyên bố này.

Đây là tuyên bố mạnh mẽ nhất mà ông Duterte gửi đến Bắc Kinh kể từ năm 2016 sau khi ông rời bỏ đồng minh Mỹ và chấp nhận làm bạn với ĐCSTQ. Tuyên bố này được cho là không bình thường vì kể từ khi nhậm chức ông Duterte luôn tỏ ra thân thiện với Bắc Kinh.

Mặc dù ông Duterte đã nhiều lần ca ngợi những hỗ trợ tài chính của ĐCSTQ, nhưng hầu hết 24 tỷ USD mà ĐCSTQ đã hứa vẫn chỉ là lời hứa suông, chưa được thực hiện. Điều này đã làm người Philippines giận dữ, đổ lỗi cho tổng thống làm mất cả chủ quyền quốc gia và lợi ích kinh tế.

Cuộc thăm dò dân ý mới nhất cho thấy mức tín nhiệm của Duterte đang suy giảm, người dân Philippines đang lo lắng thái độ mềm mỏng đối với ĐCSTQ sẽ dẫn đến việc mất chủ quyền quốc gia.

Các quốc gia khác đã phản ứng chống lại

Vào tháng Mười Một năm ngoái, chỉ trong vài tuần, cả Pakistan, Nepal và Myanmar đã đồng loạt hủy bỏ dự án thủy điện lớn của các công ty Trung Quốc. Sự thất bại của ba dự án với tổng trị giá 20 tỷ USD là một đòn nặng nề đối với tham vọng của ĐCSTQ trong sáng kiến “Một vành đai, Một con đường”.

Pakistan đã hủy bỏ dự án đập Diamer Basha trị giá 14 tỷ USD với lý do là điều kiện tài chính của ĐCSTQ đã quá hà khắc; Nepal đã quyết định ngừng dự án thủy điện Budhi Gandaki 2,5 tỷ USD của Tập đoàn Gezhouba với lý do không tuân thủ, thiếu quy trình đấu thầu cạnh tranh; ngoài ra, ba năm trước Myanmar đã dừng dự án đập 3,6 tỷ USD và khẳng định vào tháng trước rằng họ không còn quan tâm đến dự án thủy điện này nữa.

Giới truyền thông quốc tế có những phân tích rằng, mặc dù lý do đằng sau quyết định hủy bỏ dự án điện của ba nước là khác nhau, nhưng một yếu tố chung là những nước nghèo đang ngày càng nhận thức được rằng việc để cho ĐCSTQ xây dựng những dự án cơ sở hạ tầng khổng lồ sẽ gây tổn hại cho lợi ích của quốc gia mình, làm người dân địa phương trả giá rất cao.

ĐCSTQ đã đầu tư mạnh vào Sri Lanka dưới hình thức cho vay để xây dựng đường xá, bến cảng và trung tâm hội nghị của nước này. Ngày nay, Sri Lanka phải chi khoảng 80% nguồn thu của chính phủ để trả cho khoản nợ “chưa từng có” này. Ngoài ra, vấn đề nghiêm trọng của Sri Lanka hiện nay là rơi vào bẫy nợ của ĐCSTQ khiến nước này phải cho Công ty Merchants Port Holdings của Trung Quốc thuê lại cảng Hambantota quan trọng với thời hạn lên đến 99 năm.

Huệ Anh

xx
https://www.bbc.com/vietnamese/world-45505721

‘Vành đai và Con đường lấy tài nguyên của nước đối tác’
Một số giới chức Hoa Kỳ lo ngại về ảnh hưởng của Một Vành đai, Một Con đường của Trung QuốcBản quyền hình ảnhREUTERSImage captionMột số giới chức Hoa Kỳ lo ngại về ảnh hưởng của Một Vành đai, Một Con đường của Trung Quốc

Người đứng đầu cơ quan đầu tư quốc tế của Hoa Kỳ đã gia tăng sự chỉ trích với Sáng kiến Vành đai và Con đường của Bắc Kinh, và cho rằng Trung Quốc đang lợi dụng mô hình này để “lấy tài nguyên của các quốc gia đối tác,” theo tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng.

Ray Washburne, chủ tịch và CEO của OPIC, một cơ quan liên chính phủ Hoa Kỳ, cho rằng Bắc Kinh vẫn chưa hề thay đổi cách vận hành sáng kiến kinh tế của nó, dù đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích.

Thực tế, giới chức Trung Quốc vẫn đang cố gắng tránh né phương diện địa chính trị trong sáng kiến Một Vành đai, Một con đường mà thay vào đó tập trung vào phương diện phát triển kinh tế lâu dài và tạo ra việc làm cho các nước đối tác.

VN tham gia ‘Vành đai, Con đường’ như thế nào?

‘Xa lộ Tự do’ đối trọng ‘Một Vành đai’ của TQ?

Trung Quốc muốn lập ‘Đường Tơ Lụa trên Băng’

Tuy nhiên ông Washburne cho rằng ông “không hề thấy điều này”. “[Trung
Quốc] chẳng gì giúp đỡ gì những quốc gia này cả, họ chỉ muốn lấy tài nguyên của các nước này.”

Ray Washburne, chủ tịch và CEO của OPICBản quyền hình ảnhREUTERSImage captionRay Washburne, chủ tịch và CEO của OPIC

Ông lặp lại các chỉ trích rằng Trung Quốc đang đẩy các nước đối tác vào cảnh nợ nần và dẫn chứng trường hợp cảng Hamabota ở Sri Lanka.

Washburn cũng vừa giới thiệu một dự luật BUILD Act lên Quốc hội Hoa Kỳ, với mục đích gia tăng quan hệ hợp tác kinh tế với Nhật Bản, một cường quốc châu Á cũng lo ngại về sự ảnh hưởng của Trung Quốc.

BUILD Act được đánh giá là một cách để đối trọng với Một Vành đai, Một Con đường của Tập Cận Bình

Việt Nam, Trung Quốc cam kết tăng cường hợp tác

Trong khi đó, Việt Nam và Trung Quốc vừa cam kết gia tăng phát triển quan hệ đối tác chiến lược, theo Xinhua.

Bên lề Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Toàn cầu, Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc gặp với Phó Thủ tướng Trung Quốc Hồ Xuân Hoa.

Ông Hồ Xuân Hoa đề nghị Bắc Kinh và Hà Nội cần “tích cực thúc đẩy sự hợp tác giữa Sáng kiến Vành đai và Con đường” của Trung Quốc với kế hoạch “Hai hành lang và một vành đai kinh tế” của Việt Nam.

Ông Hồ bàn về việc tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, kinh tế và thương mại, đầu tư, và phát triển thương mại biên giới để nâng cao mức độ hợp tác kinh tế.

Phó Thủ tướng Trung Quốc cũng khuyến khích thúc đẩy trao đổi khoa học công nghệ, và giao lưu thanh niên giữa hai nước để “để củng cố nền tảng ý kiến xã hội và công chúng cho mối quan hệ thân thiện giữa hai nước.”

Trong khi đó, ông Nguyễn Phú Trọng thì cho biết “Việt Nam luôn trân trọng tình hữu nghị anh em truyền thống”

Và “sẽ tiếp tục củng cố niềm tin chính trị ở lẫn nhau và tìm kiếm sự hiệp lực chặt chẽ hơn trong chiến lược phát triển giữa hai nước.”

xxx

http://vi.rfi.fr/chau-a/20180926-lhca-de-ra-chien-luoc-canh-tranh-voi-con-duong-to-lua-trung-quoc-ok

LHCA đề ra chiến lược cạnh tranh với Con Đường Tơ Lụa Trung Quốc
Trọng NghĩaĐăng ngày 26-09-2018 Sửa đổi ngày 26-09-2018 16:14
mediaCờ trước trụ sở Ngân hàng Trung ương Châu Âu tại Frankfurt, Đức. Ảnh 26/04/2018.REUTERS/Kai Pfaffenbach

Vào lúc thái độ nghi ngờ đối với đề án Con Đường Tơ Lụa mới của Trung Quốc ngày càng tăng, Liên Hiệp Châu Âu chuẩn bị đưa ra một dự án thay thế cho vùng Châu Á, được quảng bá là không khiến cho các nước tham gia bị ngập đầu trong những khoản nợ mà họ không thể trả. Theo tiết lộ của hãng tin Pháp AFP ngày 26/09/2018, kế hoạch này sẽ được các nước châu Âu ký trong những ngày sắp tới cho kịp hội nghị thượng đỉnh Á – Âu mở ra vào tháng 10 tới đây.

Mang tên « Chiến lược kết nối châu Á – Asia Connectivity Strategy », dự án này nhằm mục tiêu cải thiện màng lưới năng lượng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc bằng kỹ thuật số, đồng thời cổ vũ cho việc bảo vệ môi trường và tôn trọng chuẩn mực lao động.

Bruxelles nhấn mạnh là mô hình châu Âu không nhằm đáp trả bất kỳ một ai, nhưng giới quan sát đều gắn liền việc đề xuất chiến lược này với việc Con Đường Tơ Lụa Mới của Trung Quốc, với hạ tầng cơ sở, đường xá, cảng biển, tuyến xe lửa được xây khắp thế giới, sử dụng hàng tỷ đô la tiền vay Trung Quốc, đang mất dần hào quang.

Lãnh đạo ngành ngoại giao Châu Âu Federica Mogherini, cho biết là các cuộc thảo luận đã mất hàng tháng trời với một số quốc gia Châu Á « chú ý đến cách làm của Châu Âu ». Trả lời báo chí, bà Mogherini xác định rằng mục đích của châu Âu là tạo công việc làm, tăng trưởng, sao cho có lợi cho các cộng đồng tại chỗ. Bà nói thêm: « Tôi không muốn nói là điều đó có khác với đề nghị của ai khác hay không, nhưng đó là đề nghị của chúng tôi. »

Theo ghi nhận của AFP, chiến lược châu Á mới này được đưa ra sau khi chủ tịch Ủy Ban Châu Âu Jean-Claude Juncker kêu gọi Liên Hiệp Châu Âu có một chính sách ngoại giao mạnh mẽ hơn, đẩy mạnh kinh tế của khối, đối mặt không chỉ với chủ trương « Nước Mỹ Trên Hết » của tổng thống Donald Trump, mà cả với sự can dự của Trung Quốc ở Châu Phi cũng như Châu Á.

Maaike Okano-Heijmans, một chuyên gia về quan hệ Á-Âu thuộc viện Clingendael Institute (Hà Lan), đánh giá đây là bước đi « rất quan trọng » sau khi Châu Âu bị chỉ trích là quá chậm chạp trong việc đối phó với quyền lực mềm của Trung Quốc, thời gian qua.

Trả lời AFP, chuyên gia này cho rằng: « Chúng ta không thể tố cáo Liên Hiệp Châu Âu là không có tầm nhìn nữa. Thách thức bây giờ là làm thế nào là biến nó thành một cái gì có thực chất mà một số quốc gia có thể chọn lựa. Bởi vì một kế hoạch như vậy đòi hỏi rất nhiều tiền, mà không ai có thể cạnh tranh với tiền của Trung Quốc »

Vào thượng tuần tháng 9, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói là thương mại của Trung Quốc với các nước tham gia Con Đường Tơ Lụa mới đã vượt mức 5 ngàn tỷ đô la, trong đó có hơn 60 tỷ đầu tư trực tiếp.

Thế nhưng, một số nước đã bắt đầu tự hỏi là những ràng buộc gắn với các món tiền phải chăng đang biến tiền vay thành gánh nặng hơn là thuận lợi ?

Chiến lược đề nghị nhấn mạnh trên những « chuẩn mực cao về môi trường và lao động », và tính chất vừa phải về mặt tài chính của các dự án hạ tầng cơ sở.

Theo AFP, lời nhấn mạnh đó rõ ràng là nhắm vào Con Đường Tơ Lụa của Trung Quốc, đang bị cho là đã tạo ra bẫy nợ đối với những nước tin vào sự hào phóng của Trung Quốc.

Nỗi lo ngại này có vẻ có cơ sở khi vào năm ngoái, 2017, Sri Lanka đã phải cho Trung Quốc thuê trong 99 năm cảng chiến lược của mình vì không trả nổi khoản nợ 1,4 tỷ đô la cho dự án. Tháng 8 vừa qua, đến lượt Malaysia tuyên bố ngưng 3 dự án mà Bắc Kinh tài trợ, trong đó có đề án đường xe lửa trị giá 20 tỷ đô la. Còn Pakistan, cho đến gần đây còn rất hứng thú đón nhận tiền Trung Quốc, nay đã cam kết minh bạch hơn nữa trước dư luận lo ngại khả năng không trả được nợ.

xx

https://trithucvn.net/kinh-te/con-duong-dua-sri-lanka-den-voi-bay-no-cua-trung-quoc.html

Con đường đưa Sri Lanka đến “bẫy nợ” của Trung Quốc

Sri Lanka được nhắc đến trong thời gian qua như là một ví dụ điển hình về việc các nền kinh tế mới nổi cần vốn cho phát triển đã tự tìm đến chiếc “bẫy nợ” của Trung Quốc như thế nào.

Ban đầu, các khoản vay từ Trung Quốc thường sẽ có mức lãi suất thấp (1-2%) sau đó gia tăng lên đối với khoản vay tiếp theo và khi “con mồi” đã cắn câu, các con nợ buộc phải tiếp tục vay thêm tiền từ chính quyền Bắc Kinh để đảo nợ (vay mới để trả nợ cho các khoản vay cũ đến hạn), bất chấp các rủi ro về quyền tiếp quản đất đai, khai thác tài nguyên của nước đi vay mà Bắc Kinh đòi hỏi.

Bên cạnh đó, các khoản tín dụng mà Trung Quốc cấp cho quốc gia vay nợ thường đi kèm với điều khoản sử dụng nhân công, nhà thầu thi công do phía Trung Quốc chỉ định, dẫn đến việc người dân Trung Quốc nghiễm nhiên được ra vào tự do tại các khu vực dự án.

Với chiến lược phủ đầy nợ lên các quốc gia đi vay bằng những khoản tín dụng ưu đãi, Trung Quốc gần đây đã nổi lên như một đế quốc chủ nợ kiểu mới.

Cụ thể, thống kê của tờ New York Times cho biết có đến 2/3 trong số 50 cảng biển lớn nhất thế giới (trong đó có Việt Nam) đều có bàn tay của chủ nợ Trung Quốc. Cùng với gói ngân sách khổng lồ dành cho dự án thế kỷ “Một vành đai, một con đường”, Bắc Kinh đã gia tăng sự hiện diện tại các điểm nóng từ khắp châu Á cho tới châu Âu, sang tận châu Phi… mà không mất quá nhiều công sức.

Mặc dù vậy, tham vọng bành trướng của Trung Quốc dường như đang bị ảnh hưởng đáng kể bởi cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung mà Tổng thống Mỹ Donald Trump khởi phát. Điều này đã khiến Trung Quốc phần nào bị phân tán tập trung, nền kinh tế đối diện nguy cơ khủng hoảng khi thị trường chứng khoán Đại Lục lao dốc không ngừng kể từ thời điểm Trump đánh thuế lần đầu tiên vào tháng Sáu.

Trong tình huống đó, nhiều quốc gia đang tìm cách thoát khỏi chiếc bẫy nợ của Trung Quốc như Malaysia, Úc, và chính bản thân Sri Lanka, bài học từ quốc gia này sẽ không bao giờ cũ đối với các nước có tỷ lệ vay nợ nước ngoài cao, đặc biệt là vay nợ từ Trung Quốc.

Hãy cùng nhìn lại con đường đã đưa Sri Lanka đến với chiếc “bẫy nợ” của Trung Quốc do trang Geopolitical Futures tổng kết lại bên dưới:

con duong dua Sri Lanka den voi bay no trung quoc(Nguồn: New York Times/Geopolitical Futures)

Ánh Ngọc

xx

https://trithucvn.net/the-gioi/phuong-tay-day-manh-ke-hoach-ung-pho-vanh-dai-va-con-duong-cua-tq.html

Phương Tây đẩy mạnh kế hoạch ứng phó “Vành đai và Con đường” của TQ

  • Thứ Bảy, 29/09/2018

Trong kế hoạch ứng phó với sáng kiến “Vành đai và Con đường” của đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), chính phủ các nước châu Âu và Mỹ đã bắt đầu chuyển sang hành động cụ thể. Gần đây Hạ viện Mỹ đã thông qua một dự luật đầu tư có mục tiêu liên quan, còn các nước châu Âu cũng chuẩn bị tiếp tục thảo luận về các kế hoạch đầu tư liên quan trong tháng Mười.

Sơ đồ Chiến lược Một Vành Đai Một Con Đường của Trung Quốc. (Xinhua Finance Agency, 2015)

Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật nhắm vào Trung Quốc

Hôm thứ Tư (ngày 26/9), Hạ viện Mỹ đã thông qua “Đạo luật Đầu tư phát triển năm 2018”, theo đó kế hoạch nhắm vào cạnh tranh trực tiếp đối với kế hoạch “Vành đai và Con đường” của ĐCSTQ. Thượng viện Mỹ cũng cho biết sẽ sớm thông qua Dự luật này.

“Luật Đầu tư Phát triển năm 2018” (gọi tắt là “Luật Xây dựng, BUILD”) sẽ sáp nhập hai bộ phận gồm Công ty Đầu tư Tư nhân ở nước ngoài (OPOC) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ trở thành Công ty Phát triển Tài chính quốc tế Mỹ (IDFC), với kế hoạch cung cấp nguồn vốn đầu tư tổng cộng 60 tỷ USD (Đô la Mỹ) để tài trợ cho những khu vực nghèo đói trên toàn cầu nhằm giúp xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nền kinh tế địa phương.

Ngày 26/9 khi tham dự sự kiện, ông Yoho (Ted Yoho) Chủ tịch khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ cho biết Dự luật là để Chính phủ Mỹ ứng phó với “Vành đai và Con đường” của ĐCSTQ.

Trong một tuyên bố sau cuộc bỏ phiếu thông qua Dự luật tại Hạ viện vào hôm thứ Tư (26/9), Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Royce (Ed Royce) cho biết: “Trung Quốc (ĐCSTQ) và các quốc gia độc tài khác đang tìm cách chi phối các nước đang phát triển. Họ đưa ra các dự án đầu tư, chẳng hạn như ‘Vành đai và Con đường’ của Bắc Kinh, làm cho các quốc gia tham gia phải chịu các khoản nợ không thể hoàn trả, đây là điều không phù hợp với các giá trị của Mỹ, và Mỹ không thể khoanh tay ngồi nhìn.”

Hiện nay, một số quốc gia tham gia vào sáng kiến “Vành đai và Con đường” của ĐCSTQ đã liên tục rơi vào “ngoại giao bẫy nợ”, họ buộc phải bán tài sản nhà nước mang tầm chiến lược cho Bắc Kinh. Chính phủ Sri Lanka do không có khả năng trả nợ Trung Quốc trong dự án xây dựng cảng nước sâu, cuối cùng phải quyết định cho Trung Quốc thuê lại cảng đến 99 năm, giúp cho Bắc Kinh chiếm một chỗ đứng quan trọng ở Ấn Độ Dương. Còn đầu tư “Vành đai và Con đường” tại Pakistan đã khiến nước này phải chịu khoản nợ đến 62 tỷ USD, và nước này cũng đang tìm kiếm giải pháp.

>>Sập ‘bẫy nợ’: Sri Lanka buộc phải cho Trung Quốc thuê cảng 99 năm

Hạ viện Mỹ đã đưa “Luật Xây dựng” vào “Luật tái trao quyền Cục Quản lý Hàng không Liên bang”, được coi là một trong những Dự luật mà Quốc hội phải thông qua, sẽ làm tăng đáng kể khả năng Dự luật Xây dựng được thông qua. Thượng viện Mỹ cũng đã cho biết sẽ sớm bố trí bỏ phiếu thông qua, và Nhà Trắng đã bày tỏ sự ủng hộ đối với Dự luật Xây dựng.

EU cũng đang triển khai một kế hoạch đầu tư tương tự

Bên cạnh đó, ngày 19/9 Ủy ban châu Âu cũng đưa ra “Chiến lược Kết nối châu Á”, là kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng trong chính sách đối ngoại mới của châu Âu ở châu Á, mong muốn nhờ kế hoạch đầu tư này để cải thiện giao thông, năng lượng và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc kỹ thuật số tại châu Á. Kế hoạch này sẽ được tài trợ chủ yếu bởi khu vực tư nhân và dự kiến từ năm 2021 – 2027 sẽ thu hút được 300 tỷ Euro từ các nhà đầu tư.

Vào ngày 12/9, khi Nghị viện châu Âu thông qua báo cáo “Quan hệ châu Âu – Trung Quốc” đã có động thái được cho là hiếm hoi khi thẳng thắn nhận định ĐCSTQ đang sử dụng “Vành đai và Con đường” làm phương tiện ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng ở châu Âu.

AFP của Pháp đưa tin rằng các nhà lãnh đạo của Liên minh châu Âu (EU) và một số nước châu Á sẽ họp vào tháng tới để thảo luận các vấn đề liên quan.

Mặc dù các quan chức EU đã bác bỏ ý kiến cho rằng “Chiến lược Kết nối châu Á” liên quan đến “Vành đai và Con đường” của ĐCSTQ, có nghĩa là kế hoạch không phải là để cạnh tranh với bất cứ nước nào, nhưng nhiều chuyên gia cho biết thực chất mục đích chính của kế hoạch là nhắm vào “Vành đai và Con đường” của ĐCSTQ.

Bởi vì EU đã luôn đặt vấn đề về sáng kiến “Vành đai và Con đường” của ĐCSTQ là cách mà Cộng sản Trung Quốc gây ảnh hưởng kinh tế chính trị tại châu Âu, đặc biệt là ở Đông Âu, nhằm gây chia rẽ châu Âu, làm lung lay cục diện ổn định của chính trị và kinh tế châu Âu hiện nay.

Một số chuyên gia cũng cho rằng, khi Mỹ dần dần có hành động đáp lại các kế hoạch đầu tư và thương mại nham hiểm của ĐCSTQ thì EU cũng đã nhận thức rõ hơn thực tế họ cũng đang bị ĐCSTQ đe dọa.

Thanh Vân

xx

https://trithucvn.net/kinh-te/myanmar-cat-giam-80-kinh-phi-cua-du-an-cang-do-trung-quoc-tai-tro.html

Myanmar cắt giảm 80% kinh phí của dự án cảng do Trung Quốc tài trợ

  • Thứ Bảy, 29/09/2018

Kế hoạch tăng cường hiện diện trên toàn cầu của Bắc Kinh đang bị ảnh hưởng lớn bởi nhiều quốc gia ngày càng trở nên cảnh giác hơn với “bẫy nợ” mang tên “Vành đai và Con đường”.

KyaukpyuChính phủ Myanmar tạm dừng triển khai dự án cảng Kyaukpyu vì lo ngại trở thành một Sri Lanka thứ hai. (Ảnh: SCMP)

Mới đây, Chính phủ Myanmar vừa thông qua quyết định cắt giảm quy mô vốn của dự án cảng biển nước sâu Kyaukpyu (ở bang Rakhine, miền Tây Myanmar) do Trung Quốc tài trợ.

Theo đó, vốn đầu tư của dự án sẽ được cắt giảm hơn 80% xuống còn 1,3 tỷ USD từ mức 7,2 tỷ USD ban đầu, bởi những lo ngại về nợ vượt quá khả năng chi trả.

Dự án nằm trong vùng đặc khu kinh tế Kyaukpyu, với một bến cảng tự nhiên hướng ra Ấn Độ Dương thích hợp cho các tàu lớn. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã hoàn thiện một đường ống dẫn dầu xuyên Myanmar đến thẳng Côn Minh (Trung Quốc) và một cảng khác có khả năng kết nối các tàu chở dầu trọng tải lên đến 300.000 tấn.

“Myanmar đã đạt được thành công trong việc đàm phán lại dự án cảng biển nước sâu Kyaukpyu với Trung Quốc. Động thái này của chính phủ Myanmar có thể sẽ ảnh hưởng lan rộng sang nhiều nước khác”, Sean Turnell, cố vấn kinh tế cấp cao của chính phủ Myanmar cho biết.

Lo ngại trở thành một “Sri Lanka” thứ hai

Myanmar đã có thể giảm bớt gánh nặng tài chính nếu nhận tiền và cứ để mặc cho Trung Quốc với ý định biến Kyaukpyu thành một mắt xích quan trọng của sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Tuy nhiên, lo ngại các khoản nợ vay từ Trung Quốc sẽ biến Myanmar thành một Sri Lanka thứ hai, Chính phủ Myanmar đã cho dừng triển khai giai đoạn tiếp theo của dự án cho đến khi hai bên đáp ứng được các điều kiện nhất định, một quan chức cấp cao của Myanmar cho hay.

Trước đó theo kế hoạch ban đầu, cảng biển Kyaukpyu dự kiến được hoàn thành trong 4 giai đoạn với tổng vốn đầu tư 7,2 tỷ USD. Trong đó, doanh nghệp nhà nước lớn nhất Trung Quốc – CITIC Group là cổ đông chính nắm giữ 70% cổ phần, chính phủ Myanmar và 42 công ty trong nước nắm giữ phần còn lại. Ngoài ra, CITIC cũng đang đầu tư 2,7 tỷ USD (tương đương 51% cổ phần) để xây dựng khu công nghiệp quanh cảng Kyaukpyu.

Mặc dù vậy, Myanmar đã quyết định đàm phán lại thỏa thuận này sau khi xem xét tình huống tại Sri Lanka – quốc gia mới đây đã buộc phải bàn giao lại cảng Hambantota cho Trung Quốc trong 99 năm, sau khi gặp khó khăn trong việc trả nợ.

Hoàn cảnh của Myanmar có điểm tương đồng với Sri Lanka khi hầu hết nguồn vốn cho đầu tư phát triển của quốc gia Đông Nam Á này đều đến từ Trung Quốc. “Có thể chúng ta sẽ phải nhượng lại quyền sở hữu [cảng biển] cho Trung Quốc nếu nền kinh tế tăng trưởng chậm lại và chúng ta không đủ khả năng chi trả các khoản nợ“, đại diện của một doanh nghiệp địa phương lo ngại.

Trước Myanmar, tân Tổng thống 93 tuổi của Malaysia ông Mahathir cũng đã xem xét hủy bỏ dự án tỷ USD với Trung Quốc. Điều này đang cho thấy tâm lý cảnh giác đối với chế độ Bắc Kinh đang lan rộng do sự nghi nghờ ngày càng gia tăng đối với các dự án trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai và Con đường” giữa các quốc gia tham gia.

Ở một khía cạnh khác, một số chuyên gia cho rằng sự thành công của các cuộc đàm phán gần đây của Myanmar có thể đặt quốc gia này vào tình huống phải chịu nhượng bộ đối với các dự án thuộc sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc trong tương lai.

Đặc biệt, mới đây Bộ trưởng Kế hoạch và Tài chính Myanmar ông Soe Win vừa ký một biên bản ghi nhớ về phát triển Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Myanmar vào ngày 9/9 tại Bắc Kinh. Đây là một khuôn khổ hợp tác toàn diện với nhiều dự án trải đều trên 12 lĩnh vực, bao gồm hạ tầng giao thông, điện và xây dựng các khu kinh tế tại biên giới…

“Có sự linh hoạt từ cả hai phía để làm cho nó [hành lang kinh tế] hoạt động”, một quan chức tham gia vào cuộc đàm phán nói với tờ Nikkei Asian Review. “Bây giờ bầu không khí giữa các bên là rất xây dựng.”

Tường Văn

xxx

https://www.bbc.com/vietnamese/world-46001384

Nhiều quốc gia đang ‘cưỡng lại’ Trung Quốc?
Ana Nicolaci da CostaBBC BusinesschinaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Các nước trên thế giới đang tìm cách cưỡng lại sự ảnh hưởng và quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong vai trò của một cường quốc toàn cầu.

Là quốc gia đông dân nhất trong số những quốc gia lớn nhất thế giới, Trung Quốc đã luôn là một đối thủ nặng ký cạnh tranh với Hoa Kỳ về tầm ảnh hưởng và quyền lực.

Và trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Bắc Kinh đã bùng nổ, khi Mỹ và châu Âu đang vực dậy từ các cuộc khủng hoảng tài chính.

Và điều này đã khiến một số quốc gia lo ngại, đặc biệt là Mỹ, vốn muốn giữ lại vị thế thống trị của mình trên thế giới.

Chiến tranh thương mại … và hơn thế nữa

Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phát động một cuộc chiến thương mại với Trung Quốc trong năm nay, đánh một mức thuế quan mới, cao hơn cho khoảng một nửa lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc vào Mỹ.

Washington cho rằng thuế quan là một phản ứng đối với thực tiễn thương mại “không công bằng” của Trung Quốc và cáo buộc tình trạng trộm cắp tài sản trí tuệ.

Đó cũng là một phần trong chính sách bảo hộ của chính quyền Trump để rút khỏi các thỏa thuận thương mại đa phương và đàm phán lại, thách thức hệ thống thương mại tự do toàn cầu.

Nhiều người ở Bắc Kinh nghi ngờ rằng Hoa Kỳ thực sự đang muốn kiềm hãm sự phát triển của Trung Quốc – được xem là một thách thức đối với quyền bá chủ của Mỹ.

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos vào năm 2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói: “Các nước có quyền phát triển, nhưng họ nên xem lợi ích riêng của họ trong bối cảnh rộng hơn. Và không nên theo đuổi lợi ích riêng của họ mà gây hại cho người khác. ”

Có phải phong cách của hai vị lãnh đạo, cũng như sự thiếu niềm tin ở lẫn nhau đang khiến cho tình hình trở nên trầm trọng hơn?Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionCó phải phong cách của hai vị lãnh đạo, cũng như sự thiếu niềm tin ở lẫn nhau đang khiến cho tình hình trở nên trầm trọng hơn?

Tuy nhiên, kể từ khi tiếng súng khơi mào cuộc chiến thương mại nổ ra thì cuộc tranh chấp giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới không chỉ leo thang mà còn nghiêm trọng sâu sắc hơn.

Trong một bài phát biểu gần đây, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence cho biết Trung Quốc đã chọn “gây hấn kinh tế” khi hội nhập với thế giới và dùng “ngoại giao bẫy nợ” để mở rộng ảnh hưởng của nó.

“Không nghi ngờ gì nữa” Trung Quốc đang can thiệp vào nền dân chủ của Hoa Kỳ, ông nói.

Với uy mô và số lượng của các cuộc đả kích, nhiều nhà phân tích cho rằng tranh chấp Mỹ-Trung không chỉ là về thương mại.

“Người Trung Quốc nghĩ rằng Mỹ muốn kiểm soát họ… Rất nhiều người ở Mỹ thì nghĩ rằng người Trung Quốc muốn thống trị thế giới,” theo ông C. Fred Bergsten, người sáng lập của Viện Peterson về Kinh tế quốc tế ở Washington.

“Tất cả người Mỹ hiện nay lớn lên trong một thế giới mà Mỹ chiếm ưu thế … khi một ai đó nghiêm túc thách thức điều đó, như người Trung Quốc, nó sẽ được coi như là một nguy cơ và mối đe dọa.”

Trong khi chính phủ Mỹ đang chịu nhiều áp lực ngày càng gia tăng về một chính sách quyết đoán hơn đối với Trung Quốc trong nhiều năm qua, thì một số cho rằng ông Trump đang thực hiện một giải pháp rất “cực đoan” và “thô thiển”.

Trong khi đó, các tuyên bố của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về một quyền lực vĩ đại hơn đang khiến nhiều người lo lắng.

Ông Bergsten, người cũng từng là Phó tổng thư ký chính phủ về kinh tế của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Henry Kissinger cho biết: “Bản ngã lớn và lập trường mạnh mẽ của hai nhà lãnh đạo đang làm trầm trọng thêm và khiến hướng đến một cuộc chiến tranh lạnh.”

An ninh quốc gia

Quốc hội Úc năm nay đã thông qua luật mới để ngăn chặn sự can thiệp của nước ngoài trong vấn đề nội bộ, nhưng luật này được hiểu là để nhắm vào Trung Quốc.

Ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc cũng là một mối lo ngại ở New Zealand, nơi một nghị sĩ gốc Trung Quốc phải bác bỏ cáo buộc ông là gián điệp cho Bắc Kinh.

Những lo ngại về an ninh quốc gia cũng đã dẫn đến việc kiềm hãm các công ty Trung Quốc, như hai công ty viễn thông khổng lồ Huawei và ZTE, và các nguồn đầu tư của Trung Quốc ở nước ngoài.

Chính phủ Úc cấm Huawei và ZTE cung cấp công nghệ 5G cho các mạng không dây của nước này, trong khi ủy ban an ninh Anh đã bày tỏ một số lo ngại về hệ thống viễn thông của Huawei.

Chính phủ Đức đầu năm nay cũng phủ quyết việc tiếp quản một công ty kỹ thuật của Trung Quốc trên cơ sở vì an ninh quốc gia.

Ngoại giao ‘bẫy nợ’

Các quốc gia được cho là được hưởng lợi từ sự giàu có của Trung Quốc cũng dường như đang trở nên thận trọng hơn.

Sáng kiến Vành đai và Con đường của Bắc Kinh, được công bố lần đầu tiên vào năm 2013, nhằm mục đích mở rộng mối liên kết thương mại giữa châu Á, châu Phi, châu Âu và xa hơn nữa.

Sri Lanka đã phải bàn giao cảng Hambantota cho Trung Quốc để giúp trả nợ nước ngoàiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGESImage captionSri Lanka đã phải bàn giao cảng Hambantota cho Trung Quốc để giúp trả nợ nước ngoài

Các dự án nhiều tỷ đô la đang gây ra một mối lo ngại về vấn đề nợ nần và bị cưỡng lại ở một số quốc gia.

Sri Lanka, Malaysia và Pakistan đều bày tỏ lo ngại về các chương trình này. Các nước nhận viện trợ lo lắng về việc tích lũy nợ và sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại nước nhà.

“Tôi nghĩ đầu tiên và trước hết các dự án này là một công cụ để Trung Quốc mở rộng, để tăng cường ảnh hưởng quyền lực mềm của mình thông qua ngoại giao kinh tế,” ông Michael Hirson, giám đốc châu Á của Eurasia Group cho biết.

“Ngoài ra nó cũng cho thấy một hướng đi chiến lược khi nó nhắm vào các dự án năng lượng và cầu cảng phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc trong việc kiểm soát các khu vực chiến lược ở nước ngoài.”

Ông Pence nhấn mạnh những lợi ích chiến lược này trong bài phát biểu của mình, nhắc đến khu cảng Hambantota của Sri Lanka, đã bị bàn giao quyền kiểm soát cho Trung Quốc để giúp trả nợ.

“Trung Quốc đang sử dụng thứ gọi là ‘ngoại giao bẫy nợ’ (debt diplomacy) để mở rộng tầm ảnh hưởng của nó.

“Hôm nay, quốc gia đó đang cung cấp hàng trăm tỷ đô la cho các khoản vay xây dựng cơ sở hạ tầng cho các chính phủ từ châu Á đến châu Phi đến châu Âu và thậm chí cả Mỹ Latin, “ông Pence nói.

xx

xxxxx x

xxx

xx
https://trithucvn.net/kinh-te/thu-tuong-hoan-nghenh-sang-kien-vanh-dai-va-con-duong-cua-tq.html
xx
Thủ tướng hoan nghênh sáng kiến ‘Vành đai và con đường’ của TQ

  • Minh Sơn
  • Thứ hai, 05/11/2018 • 13.7k lượt xem

Nếu như sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc đã gieo rắc nỗi ám ảnh tại nhiều quốc gia mới nổi khi họ nhận ra cái giá phải trả cho các khoản tín dụng ưu đãi từ Trung Quốc là mất đất đai, cảng biển rơi vào tay nước ngoài… thì đâu đó vẫn còn một số quốc gia sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi đảm bảo cho kế hoạch của Trung Quốc thành công, ít nhất là tại Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bắt tay với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. (Ảnh: VGP)

Theo nguồn tin từ đặc phái viên TTXVN, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa có cuộc gặp với lãnh đạo tối cao của Chính quyền Bắc Kinh ông Tập Cận Bình nhân chuyến tham dự hội chợ Nhập khẩu quốc tế Trung Quốc CIIE 2018 hôm 4/11.

Tại đây, Thủ tướng đánh giá cao các sáng kiến của Trung Quốc đang “đóng góp cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới”, nguồn tin cho biết.

Đồng thời, ông hoan nghênh sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc trong việc thúc đẩy hợp tác cùng có lợi và hỗ trợ các nước đang phát triển trong xây dựng kết cấu hạ tầng.

Bên cạnh đó, Thủ tướng ủng hộ việc kết nối sáng kiến “Vành đai và Con đường” với khuôn khổ hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung” tại Việt Nam. (1)

ADVERTISEMENT

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Việt Nam ủng hộ cơ chế hợp tác Lan Thương – Mekong (2) gắn với khuôn khổ hợp tác tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS). (3)

Bên cạnh đánh giá cao các sáng kiến và cơ chế hợp tác vùng của Trung Quốc, Thủ tướng nhấn mạnh luôn coi trọng phát triển quan hệ bền vững với Trung Quốc và xem đó là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, theo nguồn tin TTVN.

Về vấn đề biển Đông, Thủ tướng tiếp tục hoan nghênh những “kết quả tích cực” đạt được trong đàm phán về bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc vừa qua. Đồng thời ông kêu gọi hai bên tôn trọng lợi ích chính đáng, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Trước đó trong buổi tọa đàm với các tập đoàn, doanh nghiệp Trung Quốc, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam cũng bày tỏ hoan nghênh các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam, và khẳng định Chính phủ sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư thành tại Việt Nam.

Trong khi đó, cùng với xu hướng quốc tế mà phát khởi đầu tiên là Mỹ đang xem xét lại các thỏa thuận hợp tác thương mại với ĐCSTQ, nhiều quốc gia mới nổi như Malaysia, Úc, Myanmar, Sri Lanka, Pakistan, Nepal… sau khi nếm vị đắng từ các khoản tín dụng cho vay dễ dãi của Trung Quốc – thường gắn liền với quyền tiếp quản dự án cảng biển, đất đai khu vực dự án hay quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên các quốc gia đi vay – đã và đang lần lượt hủy bỏ dự án hợp tác với Trung Quốc.

Chẳng hạn, tân thủ tướng Malaysia Mahathir mới đây đã công khai hủy 3 dự án do Trung Quốc tài trợ với tổng trị giá 22 tỷ USD. Trước đó vào tháng Mười Một năm ngoái, chỉ trong vài tuần, cả Pakistan, Nepal và Myanmar đã đồng loạt hủy bỏ dự án thủy điện lớn của các công ty Trung Quốc. Hay như một đồng minh thân cận của Trung Quốc là Philippines – Tổng thống Duterte của quốc gia này mới đây cũng đã không dưới một lần lên án ĐCSTQ, kêu gọi Bắc Kinh “tái định hình”“hành động ôn hòa” về vấn đề Biển Đông đang gây tranh cãi.

Nếu như sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc – gieo rắc nỗi ám ảnh và đẩy nhiều quốc gia lún sâu vào bẫy nợ của Bắc Kinh – đã được các nước nhận diện và có biện pháp đề phòng, thì đâu đó vẫn còn một số quốc gia sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi đảm bảo cho kế hoạch của Trung Quốc thành công, ít nhất là tại Việt Nam.

Chú thích:

(1) Hợp tác phát triển hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc bao gồm hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, và vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ đã được lãnh đạo cao cấp hai nước thỏa thuận xây dựng.

(2) Cơ chế hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC) nhằm thúc đẩy kết nối giữa Trung Quốc với 5 nước Mekong (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam). Kết thúc hội nghị thượng đỉnh LMC lần thứ 2, nhà lãnh đạo các nước đã đồng ý xem xét một loạt các dự án do Trung Quốc tài trợ. Tổng các khoản vay và trợ cấp mà Trung Quốc cam kết là gần 12 tỷ USD cho cho 5 nước Mekong.

(3) Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) là khu vực rộng lớn với số dân 340 triệu người, bao gồm 5 quốc gia Mekong và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc, do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) khởi xướng. Đây là sự mở rộng của Tiểu vùng sông Mekong vốn không có các tỉnh của Trung Quốc. Hiện, GSM có hơn 222 dự án với trị giá 65 tỷ USD đã được thông qua.

Minh Sơn

Advertisements

One comment on “CXN _110617_13 885_ Trích nhiều bài báo: “Trung Quốc đang cho các nước tham gia “Sáng kiến Vành đai và Con đường” vay rất nhiều tiền để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng. Bắc Kinh trở thành chủ nợ chi phối các nước này và đến khi tới hạn đáo nợ, rủi ro rất cao là các “con nợ” sẽ bị mất chủ quyền vào tay Trung Quốc. Tuy nhiên, khác với Mỹ và đồng minh, khi thiết lập sự hiện diện của mình tại Djibouti, Trung Quốc không chỉ mở căn cứ quân sự nước ngoài (công khai) đầu tiên của mình, mà họ còn mang theo dòng vốn vay đổ vào đất nước Châu Phi này theo “Sáng kiến Vành đai và Con đường”. Chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi vừa qua, thông qua ngân hàng nhà nước – Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, chế độ Bắc Kinh đã cung cấp cho Djibouti khoản vay lớn lên tới 1,4 tỷ USD, tương đương 75% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này. Và đội ngũ tư vấn của Trung tâm Phát triển Toàn cầu (CGD) có trụ sở tại Washington và London cũng đã xác định Djibouti là một trong những trường hợp đặc biệt nhất trong số các nước nghèo “đang đối mặt với nguy cơ gia tăng rủi ro đáng kể về mất chủ quyền quốc gia nếu các dự án đã lên kế hoạch theo Sáng kiến Vành đai và Con đường được hoàn thành“. Ngay trong cảnh báo của CGD cũng có ngụ ý rằng, mặc dù trường hợp của Djibouti có thể là nghiêm trọng nhất, nhưng đây không phải là nước duy nhất phải hứng chịu rủi ro mất chủ quyền vì thực hiện Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cung cấp khoản vay cho nhiều nước tương đối nghèo nhưng có vị trí địa lý chiến lược và Bắc Kinh nhanh chóng nổi lên là chủ nợ quốc tế, có ảnh hưởng lớn nhất. Trong một nghiên cứu mới phát hành tháng trước, CGD đã xác định ngoài Djibouti, còn có 14 nước khác có vay vốn của Trung Quốc theo Sáng kiến Vành đai và Con đường có nguy cơ rơi vào “kiệt quệ” tài chính. Trong đó, 7 nước có khả năng vì vay nợ sẽ đẩy nền kinh tế quốc gia đến bờ vực của cuộc khủng hoảng nợ công. Vấn đề vay nợ cao, trong khi doanh thu dự án không đủ bù đắp chi phí trả lãi, đang tạo ra mối lo lắng lớn. Chính phủ vạy nợ sẽ bỏ qua chi tiêu vào các lĩnh vực thiết yếu khác như y tế hay giáo dục hoặc thậm chí sẽ phải vay nợ thêm để trang trải khoản lãi vay. Những hậu quả có thể xảy ra là tăng trưởng chậm, tỉ lệ lãi vay cao khiến rủi ro gia tăng và mức tăng nợ công nhanh chóng thậm chí có thể khiến quốc gia vay nợ phụ thuộc lớn hơn vào chủ nợ chi phối vì những đối tác cho vay khác không dám cấp vốn vay tiếp. Kết quả cuối cùng sẽ hoặc là vỡ nợ với những khó khăn kinh tế trầm trọng hoặc phải tái cơ cấu nợ và dẫn tới rủi ro mất chủ quyền. Tái cơ cấu nợ là một viễn cảnh rất đáng quan ngại. Trung Quốc chưa ký kết tham gia vào Câu lạc bộ Paris tập hợp các chủ nợ quốc tế với các quy định thực thi tốt nhất về việc tái cơ cấu nợ. Thực tế, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã yêu cầu một mức giá cao đối với những nước đi vay muốn tái cơ cấu nợ. Vào năm 2011, Trung Quốc đã yêu cầu Tajikistan chuyển nhượng hàng nghìn km2 lãnh thổ để đổi lại việc được xóa nợ. Và vào năm 2017, Trung Quốc đã hoán đổi khoản nợ của Sri Lanka để được thuê 99 năm cảng biển Hambantota có vị trí chiến lược. Mô hình hiện tại của các khoản cho vay theo Sáng kiến Vành đai và Con đường đang thực hiện với các nước như Djibouti, khiến cho việc cơ cấu nợ theo cách của Trung Quốc đã làm với Tajikistan và Sri Lanka có thể tiếp diễn trong tương lai. Trung Quốc sẽ đòi hỏi các nước vay nợ phải nhượng bộ về chính trị hay lãnh thổ nặng nề để đổi lấy các điều khoản tái cơ cấu nợ dễ dàng hơn. Và nếu có ai nghĩ khác rằng Bắc Kinh đang cho các quốc gia tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường vay vốn vì lợi ích kinh tế của họ chứ không phải phục vụ cho lợi thế về chính trị và chiến lược của Trung Quốc, thì người đó chắc hẳn phải nhai lá khat để tạo hưng phấn như người Djibouti vẫn làm” Có một danh sách dài những quốc gia đang mắc vào chiếc thòng lọng của chiến lược “Một vành đai, một con đường” – với mồi câu là các dòng tín dụng cho vay dễ dãi của Trung Quốc, như Argentina, Namibia, Sri Lanka, Djibouti, Nepal, Campuchia, Myanmar, Indonesia, Hy Lạp, Ý, Úc… Những cái tên xuất hiện trải dài từ tiểu vùng hạ lưu sông Mê Kông, đến khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, châu Phi, thậm chí sang châu Âu. Mặc cho việc có quá nhiều ví dụ thực tiễn mất đất, mất cảng và tài nguyên đã xảy ra, ngày càng có nhiều quốc gia trở thành một phần của chiến lược “Một vành đai, một con đường”. Những quốc gia này sẵn sàng mời gọi và liên doanh với công ty Trung Quốc để làm dự án cảng biển, đặc khu kinh tế… bất chấp thực tế đang đặt các vùng chiến lược của đất nước trước nguy cơ rơi vào tay Trung Quốc. Thứ hai, các chính trị gia và lợi ích nhóm – những người phê duyệt dự án sẵn sàng “đi đêm” với Bắc Kinh để xúc tiến dự án, lợi ích mà những người này nhận được có thể là công ty sân sau tham gia hoặc nhận cổ phần ưu đãi trong công ty liên doanh, hay công ty khác được lập nên dưới sự hậu thuẫn từ Trung Quốc. Thực tiễn tại Myanmar và Campuchia đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp nhà nước liên doanh với công ty Trung Quốc làm đặc khu kinh tế đều có mối quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo Đảng cầm quyền. Chính vì một số lý do đó đã khiến chất lượng nhà thầu Trung Quốc cũng như các tác động về môi trường, an ninh quốc phòng đã dễ dàng bị bỏ qua tại các dự án liên doanh. Điều phổ biến thường thấy tại các dự án do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận thường là công nghệ máy móc lạc hậu, sử dụng nhân công Trung Quốc, dự án bị thiếu vốn hoặc đội vốn nhiều lần. (HT). (NX Phúc’s BRI Belt Road Initiatives, warning that NX Phúc PM and family will be wholly responsible for the finacial penalty due to the cancellation of Chinese contrcts, why other countries cancelled Chinese construction contracts?, top notch, dismantling of the administration, electricity and petrol taxes toincrease, CPI’s, the final collapse, system crumple, the economy isceasing to operate, bế tắc KT, idiotic PM, 2016-2020 restructuring, belltolled) : Thủ tướng hoan nghênh sáng kiến ‘Vành đai và con đường’ của TQ

  1. Nhìn lại những việc làm NGU XUẨN của NXP
    1/ Tăng thuế, phí
    2/ Vay tiền
    3/ In tiền
    Thủ tướng hoan nghênh sáng kiến ‘Vành đai và con đường’ của TQ –có nghĩa là sẽ VAY TIỀN của SIÊU XÃ HỘI ĐEN Trung Quốc, bỏ túi riêng NHIỀU TIỀN; mất đất, mất nước THÂY KỆ, vì NXP sẽ không sống ở VN.
    Thối nát, thối nát CỰC ĐỘ rồi.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s